Accountability in the National Assembly’s oversight of ethnic policy
ThS. Nguyễn Đức Giang
Văn phòng Quốc hội
Email: audiminhnhat@gmail.com
(Quanlynhanuoc)- Trách nhiệm giải trình là điều kiện để giám sát chính sách dân tộc của Quốc hội chuyển từ xem xét báo cáo sang kiểm soát thực chất quá trình thực thi chính sách công. Bài viết làm rõ khái niệm, cấu trúc và vai trò của trách nhiệm giải trình trong giám sát chính sách dân tộc; phân tích thực trạng qua hoạt động giám sát các Chương trình mục tiêu quốc gia, cơ chế báo cáo, tổng hợp khó khăn, kiến nghị và trả lời kiến nghị của cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Kết quả nghiên cứu cho thấy trách nhiệm giải trình đã từng bước được định hình thông qua yêu cầu báo cáo, chất vấn, giám sát chuyên đề và hậu giám sát, nhưng còn hạn chế về dữ liệu, sự phân tán trách nhiệm, mức độ giải trình về kết quả, tác động và cơ chế theo dõi sau kiến nghị. Bài viết đề xuất giải pháp xác lập trách nhiệm theo chuỗi thực hiện chính sách, chuẩn hóa dữ liệu, tăng cường giải trình chuyên đề, gắn giải trình với hậu giám sát và nâng cao năng lực phân tích phục vụ giám sát.
Từ khóa: Trách nhiệm giải trình; giám sát của Quốc hội; chính sách dân tộc; hậu giám sát; quản lý công.
Abstract: Accountability is a key condition for parliamentary oversight of ethnic policy to move beyond the formal review of reports and become a substantive mechanism for controlling public power and improving policy implementation. This article clarifies the concept, structure and role of accountability in the National Assembly’s oversight of ethnic policy in Viet Nam. It examines oversight practices concerning national target programmes, reporting mechanisms, aggregation of difficulties and recommendations, responses by competent agencies, and follow-up supervision. The study shows that accountability has gradually been shaped through reporting requirements, questioning, thematic supervision and post-supervision monitoring, but remains constrained by fragmented data, diffuse responsibility, limited explanation of policy outcomes and impacts, and weak follow-up after oversight recommendations. The article proposes solutions to clarify accountability along the policy implementation chain, standardize evidence-based reporting, strengthen thematic explanations, and link accountability with post-supervision monitoring.
Keywords: Accountability; parliamentary oversight; ethnic policy; post-supervision monitoring; public management.
1. Đặt vấn đề
Chính sách dân tộc là lĩnh vực chính sách công đặc thù, tác động trực tiếp đến đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đồng thời gắn với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, giảm nghèo bền vững và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chính sách này thường được thực hiện thông qua nhiều chương trình, dự án, nguồn vốn, cấp ngân sách và chủ thể quản lý. Vì vậy, giám sát của Quốc hội trong lĩnh vực này không chỉ nhằm xem xét việc tuân thủ Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội mà còn là cơ chế kiểm soát quá trình thực thi chính sách công, làm rõ trách nhiệm của Chính phủ, bộ, ngành, địa phương trong bảo đảm chính sách đến đúng đối tượng, đúng địa bàn, đúng mục tiêu và tạo ra kết quả thực chất.
Từ phương diện pháp lý, khoản 1 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 quy định: Giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân là một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua việc chủ thể giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Khoản 8 Điều 2 của Luật cũng quy định: Giải trình là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân giải thích, làm rõ trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo yêu cầu của chủ thể giám sát. Như vậy, giải trình không phải yếu tố phụ trợ, mà là thành tố của giám sát: chủ thể chịu sự giám sát phải cung cấp thông tin, làm rõ căn cứ, giải thích nguyên nhân, xác định trách nhiệm và thực hiện yêu cầu sau giám sát (Quốc hội, 2025).
Trong giám sát chính sách dân tộc, trách nhiệm giải trình có ý nghĩa đặc biệt vì chính sách này có tính liên ngành, liên cấp và liên vùng. Một hạn chế trong thực hiện chính sách có thể bắt nguồn từ chậm ban hành hướng dẫn, phân bổ vốn chưa kịp thời, giải ngân thấp, xác định đối tượng chưa sát thực tiễn, dữ liệu báo cáo chưa đầy đủ, phối hợp chưa chặt chẽ hoặc kiến nghị sau giám sát chưa được thực hiện đến cùng. Nếu trách nhiệm giải trình không rõ, giám sát dễ dừng ở ghi nhận khó khăn, vướng mắc, nhưng chưa xác định được trách nhiệm thuộc chủ thể nào, ở khâu nào và khắc phục bằng cách nào.
Thực tiễn giám sát gần đây cho thấy yêu cầu tăng cường trách nhiệm giải trình ngày càng rõ. Việc Quốc hội tiến hành giám sát 03 Chương trình mục tiêu quốc gia trong năm 2023, trong đó có Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, là một dấu mốc quan trọng. Báo cáo tóm tắt đánh giá hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2023 cho thấy, Quốc hội đã làm việc trực tiếp với địa phương, Chính phủ, bộ, ngành; tổ chức tọa đàm, tham vấn chuyên gia và sử dụng kết quả kiểm toán, thanh tra (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2024). Các phụ lục tổng hợp năm 2024 của cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc cũng thể hiện chuỗi thông tin về nhiệm vụ được giao, kết quả thực hiện, khó khăn, kiến nghị và trả lời kiến nghị (Ủy ban Dân tộc, 2024). Từ góc độ Quản lý công, trách nhiệm giải trình vì vậy cần được tiếp cận như cơ chế bảo đảm hiệu lực thực thi chính sách công: cơ quan chịu sự giám sát không chỉ báo cáo việc đã làm, mà còn phải giải thích nguyên nhân chưa đạt mục tiêu, xác định trách nhiệm, cam kết biện pháp khắc phục và chịu sự theo dõi sau giám sát.
2. Khái quát về trách nhiệm giải trình trong giám sát chính sách dân tộc của Quốc hội
2.1. Khái niệm trách nhiệm giải trình trong giám sát chính sách dân tộc của Quốc hội
Trách nhiệm giải trình là khái niệm trung tâm của quản trị công hiện đại, gắn với yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân được trao quyền lực công phải cung cấp thông tin, giải thích quyết định, làm rõ hành vi công vụ và chịu sự đánh giá khi không thực hiện đúng trách nhiệm được giao. Trong khoa học quản lý công, trách nhiệm giải trình không chỉ là báo cáo theo thủ tục hành chính, mà là quan hệ quyền lực giữa chủ thể có quyền yêu cầu giải trình và chủ thể có nghĩa vụ giải trình.
Về nguồn gốc học thuật, “accountability” thường được tiếp cận như khả năng và nghĩa vụ của chủ thể quyền lực trong việc giải thích, biện minh và chịu trách nhiệm về hành động của mình (Dykstra, Clarence A, 1939). Theo Ngân hàng Thế giới, trách nhiệm giải trình gắn với thông tin chính xác, dễ tiếp cận để đánh giá một công việc có được thực hiện tốt hay không, đồng thời bao gồm các cơ chế khen thưởng, xử phạt thích hợp để khuyến khích hiệu quả thực thi (World Bank, 2010). Trong khoa học pháp lý và quản lý nhà nước ở Việt Nam, một số nghiên cứu cho rằng trách nhiệm giải trình là việc cơ quan nhà nước cung cấp, giải thích, làm rõ thông tin về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao và chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó (Viện Khoa học tổ chức nhà nước, 2018).
Từ các căn cứ trên, có thể hiểu: trách nhiệm giải trình trong giám sát chính sách dân tộc của Quốc hội là nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc cung cấp thông tin, báo cáo, giải thích, chứng minh, làm rõ trách nhiệm và thực hiện yêu cầu, kết luận, kiến nghị giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội đối với quá trình thực hiện chính sách dân tộc.
2.2. Cấu trúc của trách nhiệm giải trình trong giám sát chính sách dân tộc của Quốc hội
Trách nhiệm giải trình trong giám sát chính sách dân tộc của Quốc hội có thể được nhận diện qua năm yếu tố: chủ thể yêu cầu giải trình; chủ thể có trách nhiệm giải trình; nội dung giải trình; căn cứ giải trình và hệ quả của giải trình. Năm yếu tố này tạo thành khung phân tích để đánh giá một cơ chế giải trình có thực chất hay chỉ dừng ở báo cáo hình thức.
Chủ thể yêu cầu giải trình là các chủ thể thực hiện quyền giám sát của Quốc hội, gồm Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Trong lĩnh vực chính sách dân tộc, Hội đồng Dân tộc có vị trí đặc biệt vì đây là cơ quan của Quốc hội có chức năng thẩm tra, giám sát và kiến nghị về công tác dân tộc, chính sách dân tộc, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Điều 5 Nghị quyết số 71/2025/UBTVQH15 ngày 18/02/2025 xác định Hội đồng Dân tộc có nhiệm vụ giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số; nghiên cứu, kiến nghị với Quốc hội về công tác dân tộc và các vấn đề liên quan đến thực hiện chính sách dân tộc (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2025).
Nội dung giải trình phải bao quát toàn bộ chu trình thực hiện chính sách, gồm ban hành văn bản hướng dẫn, phân bổ kinh phí, xác định đối tượng và địa bàn thụ hưởng, tổ chức chương trình, dự án, tiểu dự án, tiến độ thực hiện, giải ngân và sử dụng nguồn lực, kết quả đầu ra, tác động đối với người thụ hưởng, khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân của hạn chế, trách nhiệm của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền và việc thực hiện kết luận, kiến nghị sau giám sát. Căn cứ giải trình phải là thông tin có thể kiểm chứng, gồm báo cáo chính thức, số liệu thống kê, dữ liệu phân bổ, kết quả kiểm toán, thanh tra, khảo sát thực địa, phản ánh của cử tri, kiến nghị của địa phương, ý kiến của người có uy tín và phản hồi của người thụ hưởng.
Hệ quả của giải trình là điểm phân biệt trách nhiệm giải trình thực chất với việc trả lời mang tính hình thức. Một hoạt động giải trình chỉ có ý nghĩa đầy đủ khi sau giải trình có kết luận, kiến nghị, yêu cầu khắc phục, thời hạn thực hiện, cơ quan chịu trách nhiệm và cơ chế theo dõi. Trong lĩnh vực chính sách dân tộc, hệ quả có thể là điều chỉnh chính sách, sửa đổi hướng dẫn, tháo gỡ điểm nghẽn về vốn, bổ sung dữ liệu, thay đổi cách xác định đối tượng, kiểm điểm trách nhiệm hoặc tái giám sát khi kiến nghị chậm được thực hiện.
2.3. Vai trò của trách nhiệm giải trình trong giám sát chính sách dân tộc của Quốc hội
Trách nhiệm giải trình có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát chính sách dân tộc của Quốc hội.
Thứ nhất, đây là công cụ kiểm soát quyền lực nhà nước trong thực thi chính sách công. Chính sách dân tộc được thực hiện bằng quyền lực nhà nước, ngân sách nhà nước, bộ máy hành chính và các quyết định phân bổ nguồn lực; do đó, giám sát chỉ phát huy đầy đủ ý nghĩa kiểm soát quyền lực khi buộc được cơ quan chịu sự giám sát giải thích về việc sử dụng thẩm quyền và nguồn lực đó.
Thứ hai, trách nhiệm giải trình còn giúp khắc phục tình trạng phân tán trách nhiệm trong thực thi chính sách dân tộc. Do chính sách dân tộc có phạm vi rộng, nhiều bộ, ngành và nhiều cấp chính quyền tham gia, việc đánh giá chung thường khó xác định trách nhiệm cụ thể. Giải trình cho phép tách bạch trách nhiệm theo từng khâu: ban hành hướng dẫn, phân bổ vốn, giải ngân, báo cáo dữ liệu, xử lý kiến nghị và thực hiện cam kết khắc phục.
Thứ ba, trách nhiệm giải trình bảo đảm hậu giám sát. Hoạt động giám sát chỉ có hiệu lực thực chất khi kiến nghị sau giám sát được thực hiện. Nghiên cứu về kết luận giám sát của Quốc hội cho thấy một vấn đề quan trọng của hoạt động giám sát là việc thực hiện các kết luận, kiến nghị sau giám sát; nếu thiếu cơ chế theo dõi, kiểm tra và trách nhiệm thực hiện, hiệu lực của kết luận giám sát sẽ bị hạn chế (Nguyễn Xuân Thủy, 2019). Đối với chính sách dân tộc, hậu giám sát càng có ý nghĩa vì nhiều kiến nghị liên quan đến sửa đổi cơ chế, tháo gỡ vướng mắc, bố trí nguồn lực, điều chỉnh đối tượng, địa bàn và nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình.
3. Thực trạng trách nhiệm giải trình trong giám sát chính sách dân tộc của Quốc hội
3.1. Những kết quả đạt được
Trách nhiệm giải trình trong giám sát chính sách dân tộc của Quốc hội thời gian qua có những chuyển biến đáng ghi nhận, trước hết ở việc yêu cầu giải trình ngày càng gắn chặt hơn với chương trình giám sát, chất vấn, xem xét báo cáo và giám sát chuyên đề. Trong lĩnh vực chính sách dân tộc, yêu cầu này thể hiện rõ khi Quốc hội đưa việc triển khai các nghị quyết về ba Chương trình mục tiêu quốc gia vào chương trình giám sát, trong đó có Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đây là sự chuyển hướng từ giám sát ban hành chính sách sang giám sát quá trình tổ chức thực thi chính sách.
Hoạt động giám sát ba Chương trình mục tiêu quốc gia đã tạo ra áp lực giải trình tương đối rõ đối với Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương. Báo cáo tóm tắt đánh giá hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2023 cho thấy, đây là lần đầu tiên Quốc hội giám sát đồng thời ba Chương trình mục tiêu quốc gia trong giai đoạn các chương trình bắt đầu triển khai. Quá trình giám sát không chỉ dựa trên báo cáo tổng hợp, mà còn làm việc trực tiếp với địa phương, Chính phủ, bộ, ngành; tổ chức tọa đàm, hội nghị tham vấn chuyên gia; sử dụng kết quả kiểm toán, thanh tra và ý kiến của các cơ quan, địa phương liên quan (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2024). Yêu cầu này buộc thông tin giải trình không thể chỉ là báo cáo một chiều của cơ quan thực hiện, mà phải được đối chiếu với nhiều nguồn dữ liệu, nhiều kênh kiểm chứng và nhiều chủ thể liên quan.
Cách tiếp cận đa nguồn trong giám sát chính sách dân tộc đã được sử dụng từ các giai đoạn trước. Ví dụ, điển hình nhất trong giám sát chính sách, pháp luật về giảm nghèo giai đoạn 2005 – 2012, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nghe báo cáo của Chính phủ và các bộ, ngành; giám sát tại 15 tỉnh, thành phố; gặp khoảng 500 người nghèo ở hơn 30 thôn, ấp, bản; đề nghị 48/63 Đoàn đại biểu Quốc hội giám sát tại địa phương; đồng thời tổ chức hai phiên giải trình về phân bổ nguồn lực và giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2014). Đây là minh chứng cho thấy trách nhiệm giải trình chỉ có sức thuyết phục khi báo cáo hành chính được kiểm chứng bằng khảo sát thực địa và phản ánh của người thụ hưởng.
Chuỗi nhiệm vụ được giao, kết quả thực hiện, kiến nghị và trả lời kiến nghị đã từng bước được hình thành. Một trong các nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến Quốc hội là báo cáo kết quả triển khai thực hiện nghị quyết của Quốc hội về Chương trình mục tiêu quốc gia vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; kết quả là Ủy ban Dân tộc đã tham mưu Chính phủ ban hành Báo cáo số 594/BC-CP ngày 02/10/2024 (Ủy ban Dân tộc, 2024). Cơ chế tiếp nhận khó khăn, vướng mắc và kiến nghị từ bộ, ngành, địa phương cũng được chú trọng hơn; những khó khăn, vướng mắc điển hình như về địa bàn, hạ tầng, tỷ lệ hộ nghèo, nhu cầu đầu tư và sự phù hợp của một số chính sách (Ủy ban Dân tộc, 2024). Việc tổng hợp các khó khăn này giúp chủ thể giám sát phân biệt giữa nguyên nhân khách quan, nguyên nhân thể chế, nguyên nhân tổ chức thực hiện và nguyên nhân thuộc trách nhiệm chủ quan.
Hoạt động tổng hợp và trả lời kiến nghị đã tạo nền tảng cho hậu giám sát. Tính đến ngày 24/12/2024, trong số các địa phương, bộ, ngành gửi báo cáo, tổng số kiến nghị là 82 kiến nghị, gồm 61 kiến nghị của địa phương và 21 kiến nghị của bộ, ngành (Ủy ban Dân tộc, 2024). Bên cạnh đó, việc trả lời kiến nghị, đề xuất thuộc phạm vi giải quyết của Ủy ban Dân tộc, trong đó có nội dung liên quan đến sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1719/QĐ-TTg, xây dựng chỉ tiêu giai đoạn 2026-2030 và hướng dẫn xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn II (Ủy ban Dân tộc, 2024). Xét từ phương diện quản lý công, đây là bước chuyển từ phản ánh vướng mắc sang phản hồi chính sách.
Thực tiễn giám sát chuyên đề năm 2024 của Hội đồng Dân tộc về công tác cán bộ người dân tộc thiểu số cũng cho thấy logic giải trình theo quy trình: ban hành nghị quyết thành lập Đoàn giám sát, xây dựng kế hoạch, đề cương và biểu mẫu; yêu cầu 51 tỉnh, thành phố và 27 bộ, ngành gửi báo cáo; tổ chức 3 đoàn giám sát tại 8 tỉnh, làm việc trực tiếp với 8 huyện, Ủy ban nhân dân tỉnh và các bộ, ngành liên quan (Hội đồng Dân tộc, 2024). Đây là chứng minh trách nhiệm giải trình được triển khai từ trung ương đến địa phương và cơ sở thực thi.
Hệ thống theo dõi, kiểm tra, đánh giá Chương trình mục tiêu quốc gia vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cũng đã có quy trình và biểu mẫu tương đối rõ. Cùng với đó, kết quả giám sát chuyên đề về công tác cán bộ người dân tộc thiểu số năm 2024 cho thấy vai trò chuyên trách của Hội đồng Dân tộc trong việc thiết kế nội dung giám sát, xác định đối tượng chịu sự giám sát và tổ chức kiểm chứng báo cáo trên thực địa (Hội đồng Dân tộc, 2024). Đây là điều kiện để yêu cầu giải trình trong lĩnh vực chính sách dân tộc có tính chuyên sâu và gắn với tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số.
3.2. Hạn chế, bất cập
Bên cạnh kết quả đạt được, trách nhiệm giải trình trong giám sát chính sách dân tộc vẫn còn một số hạn chế.
Thứ nhất, trách nhiệm giải trình bị phân tán do chính sách dân tộc có tính liên ngành, liên cấp và liên chương trình rất cao. Trong Chương trình mục tiêu quốc gia vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trách nhiệm thực hiện không chỉ thuộc cơ quan chủ chương trình, mà còn thuộc nhiều chủ dự án, chủ tiểu dự án, bộ quản lý ngành, địa phương, chủ đầu tư và đơn vị thực hiện. Nếu báo cáo giải trình không tách bạch các khâu này, trách nhiệm dễ bị quy về “khó khăn chung”, trong khi địa chỉ trách nhiệm cụ thể chưa được làm rõ.
Thứ hai, chất lượng và tính đầy đủ của báo cáo vẫn là điểm nghẽn. Thực tiễn cho thấy nếu thông tin đầu vào chưa đầy đủ, không bảo đảm đúng thời hạn hoặc chưa phản ánh đầy đủ các chủ thể thực thi, thì cơ quan giám sát khó có căn cứ toàn diện để đánh giá tình hình, so sánh giữa các địa phương, nhận diện điểm nghẽn phổ biến và xác định trách nhiệm cụ thể.
Thứ ba, nội dung giải trình vẫn thiên về mô tả hoạt động, tiến độ và khó khăn, trong khi giải trình về kết quả, tác động và trách nhiệm cụ thể còn hạn chế. Nhiều báo cáo phản ánh khá nhiều nội dung về chỉ đạo, điều hành, ban hành văn bản, hội nghị, phân bổ vốn, tập huấn, kiểm tra, tuyên truyền; song những thông tin này chưa đủ để đánh giá chính sách đã tạo ra thay đổi gì đối với người thụ hưởng, nhóm dân tộc nào còn khó tiếp cận, sinh kế có bền vững hơn không và chất lượng dịch vụ công có cải thiện không.
Thứ tư, dữ liệu phục vụ giải trình chưa thật sự đồng bộ và chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu giám sát theo kết quả, tác động. Chính sách dân tộc cần dữ liệu phân tổ theo dân tộc, địa bàn, giới, nhóm tuổi, nhóm nghèo, nhóm khó khăn đặc thù, nhóm thụ hưởng và mức độ tiếp cận dịch vụ công. Tuy nhiên, dữ liệu về vùng dân tộc thiểu số và miền núi còn phân tán giữa nhiều cơ quan, hệ thống báo cáo, biểu mẫu và cấp quản lý, khiến việc kiểm chứng giải trình gặp khó khăn.
Thứ năm, việc trả lời kiến nghị tuy đã được thực hiện, nhưng chưa luôn đồng nghĩa với việc trách nhiệm giải trình đã được thực hiện đến cùng. Trả lời kiến nghị là khâu quan trọng, nhưng trách nhiệm giải trình đầy đủ phải bao gồm cả việc xác định cơ quan chịu trách nhiệm, thời hạn xử lý, sản phẩm đầu ra, dữ liệu kiểm chứng và cơ chế báo cáo lại kết quả thực hiện (Ủy ban Dân tộc, 2024). Nếu thiếu cơ chế theo dõi tiếp theo, một kiến nghị dù đã được trả lời vẫn có thể chưa tạo ra chuyển biến thực chất.
Thứ sáu, điều kiện bảo đảm cho giám sát chuyên sâu, nhất là năng lực tham mưu, phân tích dữ liệu và theo dõi hậu giám sát, còn chịu nhiều áp lực. Quá trình hoạt động của Hội đồng Dân tộc nhiệm kỳ 2021 – 2026 cho thấy, đến ngày 30/9/2025, Vụ Dân tộc có 11 người, thiếu 06 biên chế so với tổng số được giao (Hội đồng Dân tộc, 2025). Trong khi đó, chính sách dân tộc là lĩnh vực rộng, liên ngành, có nhiều chương trình, dự án, địa bàn khó khăn, số lượng báo cáo lớn và yêu cầu phân tích ngày càng sâu. Sự thiếu hụt về nhân lực tham mưu ảnh hưởng đến khả năng xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, phát hiện vấn đề, theo dõi kiến nghị và chuẩn bị nội dung yêu cầu giải trình có chất lượng cao.
4. Giải pháp tăng cường trách nhiệm giải trình trong giám sát chính sách dân tộc của Quốc hội
Một là, xác lập rõ trách nhiệm giải trình theo chuỗi thực hiện chính sách dân tộc.
Việc xác lập trách nhiệm giải trình theo toàn bộ chuỗi thực hiện chính sách dân tộc, thay cho những yêu cầu báo cáo theo từng nội dung riêng lẻ trước đây. Chính sách dân tộc, nhất là các chính sách được triển khai thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia, vận hành theo chuỗi liên hoàn: thể chế hóa; ban hành hướng dẫn; phân bổ vốn; xác định đối tượng, địa bàn; tổ chức dự án, tiểu dự án; giải ngân; kiểm tra, đánh giá; xử lý kiến nghị; thực hiện kết luận, kiến nghị sau giám sát.
Trong mỗi hoạt động giám sát về chính sách dân tộc, cần xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, trách nhiệm của người đứng đầu, sản phẩm đầu ra, thời hạn hoàn thành, dữ liệu kiểm chứng và nguyên nhân nếu không hoàn thành. Cách tiếp cận này giúp khắc phục tình trạng báo cáo chung chung, trong đó nhiều hạn chế được mô tả là “khó khăn, vướng mắc” nhưng chưa làm rõ trách nhiệm của từng chủ thể. Đối với Chương trình mục tiêu quốc gia vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, cần thiết kế rõ chuỗi trách nhiệm giữa cơ quan chủ chương trình, chủ dự án, chủ tiểu dự án, chủ nội dung thành phần, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã, chủ đầu tư và đơn vị thực hiện.
Có thể xây dựng “bản đồ trách nhiệm giải trình” đối với từng chính sách hoặc chương trình được giám sát, gồm sáu thành tố: nhiệm vụ được giao; chủ thể chịu trách nhiệm; nguồn lực được phân bổ; kết quả phải đạt; bằng chứng kiểm chứng; tình trạng thực hiện. Công cụ này giúp giám sát không chỉ hỏi “chính sách đã thực hiện đến đâu”, mà còn làm rõ “ai chịu trách nhiệm về từng điểm nghẽn”.
Hai là, chuẩn hóa báo cáo giải trình và dữ liệu phục vụ giám sát.
Cần chuẩn hóa báo cáo giải trình phục vụ giám sát chính sách dân tộc. Báo cáo gửi Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các cơ quan của Quốc hội không nên chỉ tổng hợp tình hình, kết quả, khó khăn và kiến nghị, mà phải trả lời rõ: mục tiêu được giao, nhiệm vụ đã thực hiện, nguồn lực đã sử dụng, kết quả đầu ra, tác động đối với người thụ hưởng, nội dung chưa đạt, nguyên nhân, trách nhiệm, biện pháp khắc phục, thời hạn hoàn thành và dữ liệu kiểm chứng.
Trong giám sát chính sách dân tộc, dữ liệu phục vụ giải trình cần được phân tổ theo dân tộc, địa bàn, giới, nhóm tuổi, nhóm hộ nghèo, hộ cận nghèo, nhóm thụ hưởng trực tiếp, mức độ tiếp cận dịch vụ công và mức độ hoàn thành chỉ tiêu. Báo cáo của Ủy ban Dân tộc và UNDP về 53 dân tộc thiểu số cho thấy các khác biệt về điều kiện sống, sinh kế, y tế, giáo dục, hạ tầng, đất đai, thông tin và nghèo đa chiều không phân bố đồng đều giữa các dân tộc; một số nhóm có nguy cơ bị bỏ lại phía sau nếu chính sách chỉ dựa trên số liệu bình quân (Ủy ban Dân tộc, 2016). Hệ thống chỉ số kết quả chủ yếu trong phụ lục của văn bản hợp nhất Thông tư về giám sát, đánh giá Chương trình đã bước đầu quy định nguồn thông tin, tần suất báo cáo và trách nhiệm theo dõi ở các cấp. Các chỉ số này cần được chuyển hóa thành bộ tiêu chí giải trình, trong đó làm rõ độ tin cậy của số liệu, nguyên nhân chênh lệch so với mục tiêu, chủ thể chịu trách nhiệm và biện pháp xử lý khi chỉ số không đạt.
Đồng thời, cần phát triển cơ chế đối chiếu dữ liệu giữa báo cáo hành chính, thống kê, giải ngân, kiểm toán, thanh tra, kiểm tra, phản ánh của cử tri và phản hồi của người thụ hưởng. Giám sát của Quốc hội cần có khả năng kiểm chứng độc lập, nhận diện bất thường dữ liệu và yêu cầu giải trình bổ sung đối với những chỉ tiêu có độ lệch lớn hoặc có phản ánh từ cơ sở.
Ba là, tăng cường giải trình chuyên đề tại Hội đồng Dân tộc và các cơ quan của Quốc hội.
Cần tăng cường các phiên giải trình chuyên đề tại Hội đồng Dân tộc và các cơ quan của Quốc hội đối với những vấn đề trọng tâm, phức tạp, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc. Các chủ đề giải trình nên tập trung vào tiến độ và hiệu quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chính sách đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt; hỗ trợ phát triển sản xuất, sinh kế và giảm nghèo bền vững; giáo dục, y tế vùng dân tộc thiểu số; chính sách đối với người có uy tín; bố trí, sử dụng nguồn lực; thực hiện kiến nghị sau giám sát; xử lý chậm ban hành văn bản hướng dẫn hoặc chậm giải ngân.
Khi tổ chức phiên giải trình, trọng tâm không phải là tăng số lượng câu hỏi hay kéo dài thời lượng phiên họp, mà là nâng chất lượng yêu cầu giải trình. Mỗi yêu cầu giải trình cần gắn với một vấn đề cụ thể, một chủ thể có trách nhiệm, một bộ dữ liệu hoặc căn cứ kiểm chứng, một thời hạn khắc phục và một cơ chế theo dõi sau giải trình. Kinh nghiệm từ giám sát chuyên đề năm 2024 về công tác cán bộ người dân tộc thiểu số cho thấy việc chuẩn bị đề cương, biểu mẫu và yêu cầu báo cáo trước khi giám sát là điều kiện cần để phiên làm việc không sa vào trao đổi chung, mà hướng tới làm rõ trách nhiệm thực hiện chính sách ở từng cấp, từng ngành (Hội đồng Dân tộc, 2025).
Bốn là, gắn trách nhiệm giải trình với hậu giám sát.
Cần gắn chặt trách nhiệm giải trình với hậu giám sát, bởi giám sát chỉ có hiệu lực thực chất khi kiến nghị sau giám sát được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn và có thể kiểm chứng. Thực tiễn của Hội đồng Dân tộc cho thấy hậu giám sát có thể trở thành một hoạt động giám sát độc lập. Báo cáo số 721/BC-HĐDT14 ngày 19/10/2018 về việc thực hiện Nghị quyết số 112/2015/QH13 ngày 27/11/2023 nêu rõ đây là hoạt động “hậu giám sát” nhằm đánh giá sau gần ba năm tổ chức, triển khai thực hiện nghị quyết của Quốc hội, chỉ ra kết quả, tồn tại, hạn chế, nguyên nhân, xác định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan và đề xuất giải pháp tiếp tục thực hiện (Hội đồng Dân tộc, 2018; Quốc hội, 2015). Kinh nghiệm này cần được chuyển hóa thành cơ chế thường xuyên trong giám sát chính sách dân tộc.
Đối với chính sách dân tộc, cơ chế hậu giám sát cần được thiết kế theo công thức: một kiến nghị – một cơ quan chịu trách nhiệm chính – một thời hạn thực hiện – một sản phẩm đầu ra – một nguồn dữ liệu kiểm chứng – một trạng thái xử lý. Khi mỗi kiến nghị được gắn với cơ quan chịu trách nhiệm, thời hạn và sản phẩm đầu ra, chủ thể chịu sự giám sát không thể chỉ trả lời chung chung rằng “đang nghiên cứu” hoặc “tiếp tục phối hợp”. Thực tiễn tổng hợp kiến nghị và trả lời kiến nghị năm 2024 cho thấy nhiều nội dung kiến nghị của địa phương, bộ, ngành liên quan đến sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách, điều chỉnh chương trình, hướng dẫn giai đoạn tiếp theo và tháo gỡ khó khăn trong tổ chức thực hiện (Ủy ban Dân tộc, 2024). Việc trả lời kiến nghị là cần thiết, nhưng để trở thành trách nhiệm giải trình thực chất, cần tiếp tục theo dõi việc thực hiện sau trả lời. Một kiến nghị chỉ nên được coi là “đã xử lý” khi có sản phẩm cụ thể như văn bản hướng dẫn, quyết định điều chỉnh, kế hoạch phân bổ, báo cáo hoàn thành, dữ liệu giải ngân, kết quả hỗ trợ người dân hoặc căn cứ chứng minh vấn đề đã được khắc phục.
Cùng với đó, cần tăng cường hình thức “giám sát lại” đối với những kiến nghị quan trọng, kéo dài hoặc có ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của đồng bào dân tộc thiểu số. Báo cáo tóm tắt đánh giá hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2023 cho thấy hoạt động “giám sát lại” đã được triển khai với tinh thần chuẩn bị từ sớm, từ xa; tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội dành thời gian xem xét và chất vấn việc thực hiện của các cơ quan liên quan tới nhiều lĩnh vực đã được nêu trong các nghị quyết về giám sát chuyên đề, chất vấn (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2023).
Năm là, nâng cao năng lực tham mưu, phân tích dữ liệu và đánh giá tác động phục vụ giám sát.
Trách nhiệm giải trình chỉ có thể được yêu cầu một cách sắc bén khi chủ thể giám sát có đủ năng lực nhận diện vấn đề, đọc dữ liệu, phân tích nguyên nhân, phân biệt trách nhiệm khách quan – chủ quan và thiết kế câu hỏi đúng trọng tâm. Trong lĩnh vực chính sách dân tộc, yêu cầu này càng cao vì dữ liệu nhiều tầng, chính sách phức tạp, địa bàn đa dạng và đối tượng thụ hưởng không đồng nhất.
Trước hết, cần tăng cường năng lực cho bộ máy tham mưu, giúp việc của Hội đồng Dân tộc. Thực tiễn Hội đồng Dân tộc nhiệm kỳ 2021-2026 cho thấy bộ máy giúp việc còn chịu áp lực về biên chế, trong khi khối lượng công việc của Hội đồng Dân tộc rất lớn, bao gồm thẩm tra, giám sát, tham gia ý kiến, kiến nghị và xử lý nhiều vấn đề thuộc lĩnh vực dân tộc (Hội đồng Dân tộc, 2024). Vì vậy, cùng với việc bảo đảm nhân lực, cần tăng cường năng lực chuyên môn về phân tích chính sách công, phân tích ngân sách, đánh giá chương trình, xử lý dữ liệu, theo dõi kiến nghị sau giám sát và sử dụng công cụ số trong quản lý thông tin giám sát.
Bên cạnh bộ máy tham mưu thường xuyên, cần huy động chuyên gia, Kiểm toán nhà nước, cơ quan thanh tra, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội đồng nhân dân địa phương, người có uy tín, tổ chức chính trị – xã hội và đại diện cộng đồng thụ hưởng tham gia cung cấp thông tin, phản biện và kiểm chứng dữ liệu. Trách nhiệm giải trình trong chính sách dân tộc không nên chỉ là quan hệ giữa cơ quan hành chính với cơ quan giám sát, mà cần mở rộng sang trách nhiệm trước cử tri, Nhân dân và cộng đồng thụ hưởng.
5. Kết luận
Trách nhiệm giải trình là điều kiện để giám sát chính sách dân tộc của Quốc hội có hiệu lực thực chất. Trong lĩnh vực chính sách dân tộc, quá trình thực hiện chính sách gắn với nhiều chương trình, dự án, cấp ngân sách, chủ thể quản lý, địa bàn đặc thù và nhóm thụ hưởng dễ bị tổn thương. Vì vậy, giám sát không thể chỉ dừng ở xem xét báo cáo, ghi nhận kết quả hoặc nêu kiến nghị chung, mà phải làm rõ cơ quan nào chịu trách nhiệm, trách nhiệm ở khâu nào, nguyên nhân hạn chế là gì, biện pháp khắc phục ra sao và kết quả sau giám sát được kiểm chứng bằng dữ liệu nào.
Thực tiễn thời gian qua cho thấy, trách nhiệm giải trình trong giám sát chính sách dân tộc đã có những chuyển biến tích cực. Quốc hội đã tăng cường giám sát chuyên đề, giám sát việc thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia, xem xét báo cáo, chất vấn và chú trọng hơn đến việc thực hiện kiến nghị sau giám sát. Hệ thống báo cáo, phụ lục tổng hợp nhiệm vụ, khó khăn, kiến nghị và trả lời kiến nghị đã từng bước tạo cơ sở cho chu trình giải trình. Tuy nhiên, cơ chế này vẫn còn những hạn chế về chất lượng dữ liệu, tính đầy đủ của báo cáo, sự phân tán trách nhiệm, mức độ giải trình về kết quả và tác động, cũng như cơ chế theo dõi đến cùng việc thực hiện kiến nghị sau giám sát.
Để tăng cường trách nhiệm giải trình trong giám sát chính sách dân tộc, cần xác lập rõ trách nhiệm theo chuỗi thực hiện chính sách; chuẩn hóa báo cáo giải trình và dữ liệu phục vụ giám sát; tăng cường giải trình chuyên đề tại Hội đồng Dân tộc và các cơ quan của Quốc hội; gắn giải trình với hậu giám sát; đồng thời nâng cao năng lực tham mưu, phân tích dữ liệu và đánh giá tác động. Những giải pháp này góp phần bảo đảm chính sách dân tộc được thực hiện đúng mục tiêu, đúng đối tượng, đúng địa bàn, có kết quả và tác động thực chất đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025). Văn bản hợp nhất số 09/VBHN-BDTTG ngày 12/8/2025 hợp nhất Thông tư quy định quy trình giám sát, đánh giá thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030; giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2014). Báo cáo số 660/BC-UBTVQH13 ngày 19/5/2014 về kết quả giám sát “vệc thực hiện chính sách, pháp luật về giảm nghèo, giai đoạn 2005 – 2012”.
Hội đồng Dân tộc (2018). Báo cáo số 721/BC-HĐDT14 ngày 19/10/2018 về kết quả giám sát việc thực hiện Nghị quyết số 112/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội về tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông trường, lâm trường quốc doanh.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2023). Báo cáo tóm tắt đánh giá kết quả hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2023 và triển khai chương trình giám sát năm 2024, ngày 16/11/2023.
Ủy ban Dân tộc (2024). Phụ lục số 03. Kết quả thực hiện các nhiệm vụ trình Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong chương trình công tác năm 2024.
Ủy ban Dân tộc (2024). Phụ lục số 05. Bảng tổng hợp nội dung khó khăn, vướng mắc, tồn tại của các bộ, ngành, tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương.
Ủy ban Dân tộc (2024). Phụ lục số 06.1. Tổng hợp nội dung kiến nghị, đề xuất của các tỉnh/thành phố và bộ, ngành.
Ủy ban Dân tộc (2024). Phụ lục số 06.2. Trả lời nội dung kiến nghị, đề xuất của các tỉnh/thành phố và bộ, ngành thuộc phạm vi giải quyết của Ủy ban Dân tộc.
Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khóa XV (2024). Báo cáo số 2017/BC-HĐDT15 ngày 31/12/2024 về kết quả giám sát chuyên đề “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về công tác cán bộ người dân tộc thiểu số, giai đoạn 2016-2023”.
Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khóa XV (2025). Báo cáo tổng kết công tác của Hội đồng Dân tộc nhiệm kỳ 2021-2026, Quốc hội khóa XV, ngày 02/10/2025.
Ủy ban Dân tộc – UNDP (2016). Báo cáo Dân tộc thiểu số với mục tiêu phát triển bền vững: Ai có nguy cơ bị bỏ lại phía sau?, Hà Nội.
Văn phòng Quốc hội (2023). Văn bản hợp nhất số 33/VBHN-VPQH ngày 02/8/2023 hợp nhất Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 71/2025/UBTVQH15 ngày 18/02/2025 về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể và cơ cấu tổ chức của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội.



