Anti-corruption under the Trần dynasty: Lessons and experiences for the present day
TS. Nguyễn Văn Bảo
Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Email: Nguyenbaovsh@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Tham nhũng, hối lộ, lạm dụng chức quyền là những biểu hiện tiêu cực đã từng xuất hiện trong đời sống chính trị – xã hội dưới triều Trần. Trước tình trạng đó, nhà Trần từng bước hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường kiểm tra, giám sát, đề cao đạo đức, kỷ cương của đội ngũ quan lại, đồng thời xử lý nghiêm những người vi phạm. Từ kết quả nghiên cứu, bài viết làm rõ về hiện trạng tham nhũng dưới triều Trần và các biện pháp phòng, chống tham nhũng của triều đình, đồng thời, rút ra một số bài học có giá trị tham khảo cho công tác phòng, chống tham nhũng hiện nay, nhất là trong kiểm soát quyền lực, tăng cường giám sát, đề cao trách nhiệm người đứng đầu và xử lý nghiêm vi phạm.
Từ khóa: Phòng, chống tham nhũng; tham ô; nhận hối lộ; triều Trần; kinh nghiệm.
Abstract: Corruption, bribery, and abuse of power were among the negative phenomena that emerged in the political and social life under the Trần dynasty. In response to this situation, the Trần court gradually refined its administrative mechanisms, strengthened inspection and supervision, emphasized the ethical standards and discipline of the officialdom, and imposed strict sanctions on those who violated the law. Based on the research findings, this article examines the state of corruption under the Trần dynasty and the measures adopted by the court to prevent and combat corruption. It also draws several lessons of contemporary relevance for anti-corruption efforts today, particularly in terms of controlling the exercise of power, strengthening oversight, emphasizing the accountability of those in leadership positions, and strictly dealing with violations.
Keywords: Anti-corruption; embezzlement; bribery; Trần dynasty; lessons and experiences.
1. Tham nhũng dưới triều Trần
Triều Trần được thành lập trên cơ sở chuyển giao quyền lực của triều Lý thông qua cuộc hôn nhân giữa Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnh. Ngày 11 tháng Chạp năm Ất Dậu (tức ngày 10/01/1226), Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh là thời điểm kết thúc thời kỳ nắm quyền của vương triều Lý (1010-1225) kéo dài 125 năm, đồng thời mở đầu triều đại nhà Trần kéo dài 175 năm (1226 – 1400), trải qua 20 triều vua thay nhau trị vì đất nước. Nhìn chung, dưới triều Trần tình hình chính trị, xã hội khá ổn định, kinh tế phát triển, đặc biệt nhà Trần đã có công lớn trong việc tập hợp Nhân dân, tổ chức kháng chiến và đánh thắng 3 lần xâm lược quân Mông – Nguyên ở thế kỷ XIII.
Triều Trần bên cạnh những thành tựu về phát triển về kinh tế, chính trị, xã hội cơ bản ổn định thì dưới chính sử cũng ghi chép một số vụ án, hiện tượng về tệ nạn xã hội tham nhũng, lạm dụng chức vụ khi thi hành công vụ để tư lợi của một bộ phận quan lại diễn ra dưới các hình thức khác nhau được chỉnh sử ghi chép, như: dưới triều vua Trần Nhân Tông, năm Nhâm Thìn (1292) chính sử ghi chép việc bổ dụng Phí Mãnh làm An phủ sứ Diễn Châu. Thời kỳ ông làm quan ở quận lỵ, bị tai tiếng là tham ô và vua triệu về bắt phạt, xong lại cho đi nhậm chức cũ, về sau Phí Mãnh nổi tiếng là quan thanh liêm (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2007, tr. 524). Tiếp đến dưới triều vua Trần Anh Tông năm Đinh Dậu (1297), triều đình bổ dụng Trần Kiến làm Đại an phủ sứ ở Kinh sư, kiêm chức quan Kiểm pháp. Trần Kiến là người cương trực, trước làm quan An phủ ở Thiên Trường “có người đưa biếu món ăn, Trần Kiến hỏi: “Có việc gì mà biếu?”. Người ấy nói: “Vì ở gần lỵ sở”. Mấy hôm sau, người ấy đem việc đến thỉnh thác. Trần Kiến giận lắm, móc cổ họng cho thổ ra” (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2007, tr. 532). Hành động trên cho thấy sự thẳng thắn, thanh liêm của người làm quan. Về sau Trần Kiến làm quan, ông được khen là người xét xử kiện tụng một cách công bằng thỏa đáng, có thể quyết đoán hình ngục được. Tiếp đến, năm Bính Dần (1326), Trương Hán Siêu đem việc hình quan tố giác Phạm Ngộ và Lê Duy ăn của đút lót. Triều đình cho xét hỏi Trương Hán Siêu đuối lý nên bị phạt tiền 300 quan, còn Phạm Ngộ, được bổ lên chức Hành Khiển (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2007, tr. 572).
Năm Quý Hợi (1323) dưới triều vua Trần Minh Tông, chính sử ghi chép việc trước đây dưới triều vua Trần Anh Tông “Uy Giản hầu trước kia lấy Huy Chân công chúa. Mẹ công chúa là Trần Thị, cung tần của Anh Tông, thường chiếm ruộng của dân” (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2007, tr. 572). Sự việc về sau có người tố cáo, những ruộng nào mà chiếm đoạt đều phải trả hết lại cho dân. Qua đây cho thấy, hành vi lạm dụng chức vụ, ảnh hưởng để tư lợi không chỉ ở đối tượng quan lại mà ngay cả trong tầng lớp quý tộc ở cung đình.
Đặc biệt, dưới triều Trần còn có hiện tượng tham ô, đút lót diễn ra ở ngay trong nội bộ triều đình của một bộ phận thân tộc, nhằm tranh giành quyền lực, ảnh hưởng của nhau. Mậu Thân (1328), dưới triều vua Trần Minh Tông, bấy giờ vẫn chưa lập hoàng tử, cha hoàng hậu là Quốc Chẩn ý định đợi hoàng hậu có con rồi sẽ lập. Văn Hiến hầu (không rõ tên) là con của Tá Thánh Thái sư Nhật Duật muốn đánh đổ hoàng hậu và lập thái tử là Vượng, bèn đem vàng đến đút lót cho gia thần của Quốc Trấn là Trần Phẫu, để Trần Phẫu vu cáo Quốc Trấn âm mưu làm phản. Vì việc này mà Quốc Trấn bị chết oan. Sử chép “Quốc Trấn tự nhận mình là cố mệnh đại thần, vả lại là bố đẻ ra hoàng hậu, nên cố chấp là: “Đợi khi nào hoàng hậu sinh con trai trưởng sẽ lập làm thái tử”. Văn Hiến hầu (không rõ tên) muốn đánh đổ hoàng hậu mà lập hoàng tử tên là Vượng, bèn lấy một trăm lạng vàng đút lót cho gia thần của Quốc Trấn tên là Trần Phẫu, để Trần Phẫu vu cáo Quốc Trấn âm mưu làm phản. Nhà vua tin lời Trần Phẫu, bắt Quốc Trấn giam ở chùa Tư Phúc, rồi đem việc ấy hỏi Thiếu bảo Trần Khắc Chung. Khắc Chung về bè đảng với Văn Hiến, lại là người cùng làng với mẹ đẻ của Vượng, hơn nữa, Khắc Chung từng giữ chức sư phó để dạy Vượng, vì thế Khắc Chung liền tâu ngay bằng câu thành ngữ: “Tróc hổ dị, phóng hổ nan” (bắt hổ thì dễ thả hổ ra thì nguy). Nhà vua bèn cấm tuyệt không cho Quốc Trấn ăn uống để bắt phải tự tử. Hoàng hậu phải thấm nước vào áo đưa vào cho uống. Quốc Trấn uống xong thì mất. Những người bị bắt lây đến hơn trăm người, mỗi khi tra hỏi thì đều kêu gào là oan”.Về sau, vợ cả, vợ lẽ Trần Phẫu ghen nhau, đem việc Văn Hiến hầu đút lót vàng ra tố cáo. Nhà vua giao việc này cho quan giữ việc hình ngục là Lê Duy xét hỏi, Lê Duy là người cương trực, lập tức tra xét và phán đoán. Trần Phẫu phải tội lăng trì,… Còn Văn Hiến hầu được tha tội chết, giáng xuống làm thứ dân, tước bỏ danh tịch (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2007, tr. 576-577).
Dưới triều Trần chính sử còn chép về một loại ruộng “sa châu tiệt cước” do Chiêu Từ thái hậu đặt ra, tức là những bãi phù sa mới bồi ở ven sông. Sử chép năm Tân Hợi (1371)“Trước đây, bà Chiêu Từ thái hậu đặt ra phép “sa châu tiệt cước”, để cắt lấy những bãi phù sa mới bồi ở ven sông, chiếm làm của mình. Trần Dụ Tông lại ra lệnh điểm kiểm tài sản: các nhà quyền quý có đồ quý báu, khi chết đi rồi, phải điểm kiểm đem nộp nhà nước, không được chia cho con cháu. Phàm những chính sự tệ hại ấy đều bởi bọn bầy tôi “tụ liễm” bày ra cả. Đến đây, bãi bỏ hết” (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2007, tr. 627). Qua những ghi chép trên, cho thấy đây cũng là một hình thức tham nhũng thông qua việc chiếm dụng ruộng đất, của cải của nhân dân từ một bộ phận của người có quyền thế, quý tộc nhằm tư lợi cá nhân.
Vụ án tham nhũng, tư lợi cá nhân dưới triều vua Trần Duệ Tông được xem là hi hữu dưới triều Trần được chính sử ghi chép. “Bính Thìn (1376), tháng 12, vua thân đi đánh Chiêm Thành, dẫn 12 vạn quân xuất phát từ kinh sư,… Trước đây, chúa Chiêm Thành Chế Bồng Nga quấy rối biên giới, vua sai hành khiển Đỗ Tử Bình đem quân trấn giữ Hóa Châu. Bồng Nga đem 10 mâm vàng dâng lên (vua). Tử Bình ỉm đi, cướp làm của mình, nói dối là Bồng Nga ngạo mạn vô lễ, nên đem quân đánh. Vua giận lắm, quyết ý thân chinh. Bấy giờ quan quân đến cửa biển Di Luân, các quân vượt biển mà tiến. Vua cưỡi ngựa dẫn quân bộ, men theo bờ biển, đến cửa biển Nhật Lệ đóng quân lại, luyện tập trong một tháng. Người Tân Bình, Thuận Hóa bắt được người Chiêm trốn sang, đem đến dâng nộp” (Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, 1993, tr. 160). Đây cũng là trường hợp hiếm hoi được chính sử ghi chép về việc quan lại tham nhũng với số lượng tài sản lớn như vậy, mà tài sản tham ô là của người ngoại quốc dâng lên triều đình.
2. Biện pháp phòng, chống tham nhũng dưới triều Trần
Thứ nhất, phòng, chống tham nhũng thông qua hình thức tuyển dụng quan lại có năng lực, trình độ.
Ở các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê phần lớn việc tuyển dụng quan lại vẫn dưới hình thức là lựa chọn những công thần, dòng dõi thân tộc của triều đình. Ngoài ra, còn có hình thức Nhiệm tử, tức là dùng con cháu các quan lại tập để làm quan. Đến triều Trần còn có hình thức tuyển quan lại ra làm quan bằng các Tiến cử, sách Lịch triều hiến chương loại chí cho biết “Việc cử người hiền giao cho các quan, các đời đều thế cả” (Phan Huy Chú, 1992, tr. 579).
Dưới triều Trần chính sử cũng ghi chép nhiều người được tiến cử ra là quan và giữ chức vụ quan trọng trong triều, như: năm Mậu Tý (1288) Trần Khắc Chung tiến cử em là Đỗ Thiên Hứ đi sứ nước Nguyên và được vua Trần Nhân Tông chấp nhận. Sử chép: “Mùa đông, tháng 10, sai Đỗ Thiên Hư (Thiên Hư là em Khắc Chung) sang Nguyên. Đỗ Khắc Chung [trước đây] đi sứ sang Nguyên có công, đến nay, tiến cử em là Thiên Hư. Vua nghe theo” (Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, 1993, tr. 62). Nhiều môn khách của Trần Hưng Đạo được ông tiến cử cho triều đình về sau làm quan lớn trong triều như: năm Đinh Dậu (1297), “mùa hạ, tháng 4, lấy Trần Thì Kiến làm Kiểm pháp quan, nhậm chức Đại an phủ Kinh sư. Thì Kiến tính người cương trực, trước kia làm môn khách của Hưng Đạo Vương, Vương tiến cử ông, được cất nhắc làm An phủ sứ Thiên Trường” (Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, 1993, tr. 75). Năm Canh Tý (1300) lại tiến cử Trương Hán Siêu, Phạm Lãm, Trịnh Dũ, Ngô Sĩ Thường, Nguyễn Thế Trực,… Sử chép: “Ông (Trần Quốc Tuấn – TG) lại khéo tiến cử người tài giỏi cho đất nước, như Dã Tượng, Yết Kiêu là gia thần của ông, có dự công dẹp Ô Mã Nhi, Toa Đô. Bọn Phạm Ngũ Lão, Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm, Trịnh Dũ, Ngô Sĩ Thường, Nguyễn Thế Trực vốn là môn khách của ông, đều nổi tiếng thời đó về văn chương và chính sự, bởi vì ông có tài mưu lược, anh hùng, lại một lòng giữ gìn trung nghĩa vậy” (Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, 1993, tr. 81). Như vậy, với việc đa dạng các hình thức tuyển chọn quan lại dưới triều Trần đã giúp cho triều đình có được đội ngũ quan lại có trình độ, có năng lực và uy tín để ra làm quan, đây cũng là biện pháp để ngăn ngừa tham nhũng từ xa.
Thứ hai, thực hiện chính sách khảo khóa để khen thưởng đối với quan lại, đồng thời xử phạt đối với những người không hoàn thành nhiệm vụ, tham nhũng, nhận hối lộ.
Lệ “khảo khóa” dưới triều Trần có vai trò quan trọng để làm căn cứ cho việc thăng, giáng, thưởng, phạt đối với quan lại. Từ thời Lý năm 1051, triều đình đã đặt ra lệ khảo khóa để “Định cho các quan văn võ làm việc lâu năm mà không có lỗi được thăng chức tước theo thứ bậc khác nhau” (Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, 1993, tr. 269), tiếp đến năm 1162, vua Lý Anh Tông quy định cứ 9 năm lại khảo khóa (Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, 1993, tr. 345). Triều đình cũng luôn chú trọng, chăm lo đời sống cho quan lại để họ không bị thiếu ăn, không vì nghèo mà nhận đút lót “lo quan lại giữ việc hình ngục hoặc có kẻ vì nhà nghèo mà nhận tiền đút lót, cấp thêm cho tiền bổng và thức ăn để nhà được giàu đủ” (Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, 1993, tr. 276). Tiếp đến “Năm Kỷ Hợi (1179) vua Lý Cao Tông lại cho xét công ban thưởng, phân công trạng theo các hạng “khiến cho quan chức không lạm nhũng” (Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, 1993, tr. 327).
Đến triều Trần chế độ khảo khóa tiếp tục được duy trì và trở thành Lệ khảo khóa cho các quan, đồng thời triều đình cũng quan tâm, chăm lo tới lương bổng, thưởng cho quan lại để họ giữ mình thanh liêm. Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú nhận xét “đặt quan để làm việc, tất phải có lương bổng để nuôi, rồi sau mới bắt phải thanh liêm được” (Phan Huy Chú, 1992, tr. 542). Về niên hạn khảo khóa năm 1246 vua Trần Thái Tông quy định có sự thay đổi so với triều Lý trước đây là 9 năm, giờ thành “Cứ 15 năm 1 lần xét duyệt, 10 năm thăng tước 1 cấp, 15 năm thăng chức 1 bậc. Chức quan nào khuyết thì chức chánh kiêm chức phó. Chánh phó đều khuyết thì lấy quan khác tạm giữ, đợi đủ hạn xét duyệt thì bổ chức ấy” (Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, 1993, tr. 21). Nhìn chung, chế độ khảo khóa dưới triều Trần là một trong những biện pháp để vừa giám sát việc thực thi công vụ đối với quan lại, đồng thời thông qua đó để triều đình nắm được năng lực của quan lại, qua đó làm cơ sở để khen thưởng, thăng chức cho những người hoàn thành tốt nhiệm vụ, giữ mình liêm chính. Mặt khác, hình thức khảo khóa còn là cơ sở để triều đình phát hiện, ngăn chặn, cũng như trừng trị người vi phạm tham nhũng một cách kịp thời.
Thứ ba, triều đình tăng cường hoàn thiện hệ thống pháp luật để làm cơ sở ngăn chặn và xử lý quan lại tham nhũng.
Xây dựng hệ thống pháp luật cũng như các định luật, điều lệ là cơ sở, tiền đề quan trọng phục vụ việc quản lý đất nước, trong đó có phòng, chống tham nhũng. Qua các nguồn sử liệu cho biết, triều Trần rất quan tâm đến việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, cụ thể là việc biên soạn và ban bố các bộ luật, định luật. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật có tác dụng quản lý xã hội, đồng thời cũng là cơ sở để phòng, chống tham nhũng. Năm Bính Tuất (1226), khi vua Trần Thái Tông mới lên ngôi đã cho “định luật lệ, điều lệ” (Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, 1993, tr. 8). Đến năm Canh Dần (1230) lại cho “khảo xét các luật lệ của triều trước, soạn thành Quốc triều thông chế và sửa đổi hình luật lễ nghi, gồm 20 quyển” và cho “chép công việc của quốc triều làm bộ Quốc triều thường lệ, 10 quyển” (Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, 1993, tr. 12). Tiếp đến năm 1341, vua Trần Dụ Tông lại sai Trương Hán Siêu và Nguyễn Trung Ngạn biên định bộ Hoàng triều đại điển và khảo soạn bộ Hình thư để ban hành (Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, 1993, tr. 127). Các bộ luật trên đến nay không còn nên không khảo cứu được các quy định, điều lệ cụ thể ra sao, nhưng với việc triều đình cho biên soạn các bộ luật, điều lệ cho thấy, sự hoàn chỉnh của bộ máy chính quyền trong việc quản lý và điều hành đất nước.
Dưới triều Trần từ năm Đinh Hợi (1227) triều đình còn quy định hàng năm Tể tướng và các quan phải đến đền thờ thần Đồng Cổ ở phía tây Kinh thành để tuyên thệ, phải luôn giữ phẩm hạnh, tận trung với nước, hiếu với dân, tận tụy trong công việc. Sử chép: “uống máu ăn thề; viên Trung thư kiểm chính tuyên đọc thệ thư rằng: “Người làm tôi phải hết lòng trung với vua, người làm quan phải giữ phẩm hạnh trong trắng, nếu ai trái lời thề này, xin thần linh làm hại người ấy”. Tuyên đọc xong, viên Tể tướng đóng cửa đền lại, kiểm điểm trăm quan, người nào vắng mặt phạt 5 quan tiền. Việc này theo thể lệ cũ của triều Lý. Từ năm nay trở đi, năm nào cũng cử hành lễ này. Ngày hôm ấy, con trai con gái kéo nhau ra xem kín cả hai bên đường, họ nhận đấy là việc tốt” (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2007, tr. 427). Lễ thề tại đền Đồng Cổ được thực hiện hàng năm dưới triều Trần cũng là một trong những biện pháp quan trọng để chống tham nhũng, thông qua lễ thề quan lại phải tự răn mình, giữ liêm chính, hết lòng tận tụy với công việc, tận trung với nước, hiếu với dân.
Thứ tư, thi hành các biện pháp dăn đe, trừng phạt đối với quan lại tham nhũng.
Dưới triều Trần cùng với chính sách đãi ngộ xét thăng chức, ban thưởng để khuyến khích quan lại làm việc, giữ mình thanh liêm thì triều đình cũng có những biện pháp mạnh mẽ xử phạt đối với quan lại tham lam, không giữ mình để tha hóa, tham nhũng, nhận hối lộ, cụ thể một số vụ án bị xử phạt, như: Năm Kỷ Tị (1209), dưới triều vua Lý Cao Tông chính sử chép sự kiện Phạm Bỉnh Di và Phạm Du. Bấy giờ, Phạm Du nổi loạn, Phạm Bỉnh Di đem quân tiến đánh và dẹp được. Nhưng để thoát tội phản loạn, Phạm Du mới ngầm cho người đến kinh đô đút lót vàng cho người trong kinh, nói Phạm Bỉnh Di tàn khốc, giết hại những người vô tội. Phạm Du lại kể lể nỗi oan của mình, xin về kinh đô để đợi chịu tội. Bấy giờ vì vua Lý Cao Tông tin vào những lời ấy, khi Phạm Bỉnh Di vào chầu mới sai người bắt, rồi giam cả con là Phụ tại nhà Thủy viện, đem giết chết (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2007, tr. 411). Vụ việc trên cho thấy, cái chết oan của Phạm Bỉnh Di, vì hành động hối lộ của Phạm Du để tố cáo sai, nhưng qua đó cho thấy, triều đình cũng khá nghiêm minh trong xử lý người vi phạm.
Dưới triều vua Trần Minh Tông, vào năm Mậu Thìn (1328), chính sử ghi chép về một vụ án tham nhũng xảy ra trong nội bộ hoàng tộc của nhà Trần và dẫn đến cái chết oan của Quốc Phụ thượng tể Huệ Vũ vương là Quốc Trấn. Quốc Trấn là quan đại thần trong triều và là bố để của Hoàng hậu nên muốn “Đợi khi nào hoàng hậu sinh con trai trưởng sẽ lập làm thái tử”. Tuy nhiên, Văn hiến hầu (không rõ tên) muốn tìm cách lập hoàng tử tên là Vượng, đã đem 100 lạng vàng đút cho gia thần của Quốc Trấn tên là Trần Phẫu, mục đích là để Trần Phẫu vu cáo Quốc Trấn là có âm mưu làm phản. Vua Trần Minh Tông mới tin lời Trần Phẫu, bắt Quốc Trấn giam ở chùa Tư Phúc, cấm tuyệt không cho ăn uống, để bắt phải tự tử. Hoàng hậu phải thấm nước vào áo đưa vào cho uống. Quốc Trấn uống xong thì mất. Những người bị bắt lây đến hơn trăm người, mỗi khi tra hỏi thì đều kêu gào là oan (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2007, tr. 577). Vụ án trên về sau được hóa giải, bởi xuất phát từ mâu thuẫn giữa vợ cả và vợ lẽ Trần Phẫu ghen nhau, mới đem việc Văn Hiến hầu đút lót vàng ra tố cáo, triều đình mới giao cho Lê Duy xét hỏi thì người phạm tội tham nhũng mới bị trừng trị và “Trần Phẫu phải tội lăng trì,… còn Văn Hiến hầu được tha tội chết, giáng xuống làm thứ dân, tước bỏ danh tịch” (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2007, tr. 577). Qua các vụ án tham nhũng nêu trên cho thấy, triều đình xử phạt khá nghiêm khắc đối với quan lại phạm tội, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật trong việc trừng trị quan lại tham nhũng.
3. Bài học kinh nghiệm
Một là, đối với phòng, chống tham nhũng phải lấy phòng ngừa là chính. Thực tiễn nghiên cứu trên cho thấy, dưới triều Trần đã sớm xem các hành vi, như: tham ô, nhận hối lộ, lạm quyền, chiếm đoạt tài sản công, nhũng nhiễu Nhân dân… là những biểu hiện nguy hại, làm suy yếu bộ máy nhà nước và phá vỡ trật tự xã hội. Triều Trần đặc biệt coi trọng tư tưởng “lấy phòng làm chính”, chú trọng xây dựng đội ngũ quan lại có năng lực, đạo đức và tinh thần trách nhiệm, xem đây là nền tảng để hạn chế sự tha hóa quyền lực.
Đảng và Nhà nước luôn khẳng định, phòng, ngừa tham nhũng là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, trong đó trọng tâm là xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”. Muốn làm được điều đó thì việc cần thiết phải xây dựng được đội ngũ cái bộ nhà nước có trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất đạo đức tốt, am hiểu về pháp luật, cũng như những quy định về phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước. Nhà nước phải chú trọng đến công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thực hiện công tác tuyển dụng cán bộ một cách chặt chẽ, không để những người có trình độ thấp, yếu kém về năng lực phẩm chất đạo đức vào trong bộ máy quản lý nhà nước. Để đào tào được đội ngũ cán bộ có chuyên môn cao, chuyên sâu vào những lĩnh vực cụ thể thì công tác giáo dục phải được chú trọng ngay từ đầu, ngay từ trong nhà trường, từ chương trình giáo dục, gắn giáo dục chuyên môn, với giáo dục tư cách, đạo đức. Dưới thời Trần thì tư tưởng Nho giáo chính là cơ sở để giáo dục quan lại, luôn lấy tư tưởng “trung quân – ái quốc” hết lòng phụng sự triều đình, phụng sự Nhân dân.
Thứ hai, Nhà nước phải luôn xem công tác cán bộ là then chốt của việc phòng, chống tham nhũng. Dưới triều Trần việc tuyển chọn cán bộ được vận dụng tương đối linh hoạt, thông qua nhiều hình thức thi cử, tiến cử, nhiệm tử. Thực tiễn cho thấy, những người được tiến cử bởi các công thần có uy tín thường là những người có tài năng và khí tiết. Bài học rút ra là phải đặt công tác cán bộ là trung tâm trong phòng, chống tham nhũng. Lịch sử triều Trần cho thấy, người đứng đầu và đội ngũ quan lại chủ chốt giữ được liêm chính thì tham nhũng khó có điều kiện phát sinh.
Kinh nghiệm dưới triều Trần, việc tuyển dụng cán bộ phải dựa trên tiêu chuẩn cụ thể với điều kiện chặt chẽ, công khai minh bạch tránh “chạy chức, chạy quyền”. Bên cạnh đó, cần tăng cường bồi dưỡng, giáo dục đối với cán bộ, công chức, viên chức là việc làm thường xuyên, trong đó có nội dung phòng, chống tham nhũng. Cán bộ phải luôn giữ phẩm chất đạo đức trong thi hành công vụ, tránh xa tệ nạn xã hội nói chung, tham nhũng nói riêng, giữ cho mình liêm chính, tiếng thơm cho gia đình và dòng họ. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần có chính sách thu hút người tài, tăng cường các hình thức tuyển dụng cán bộ, lựa chọn người có chuyên môn, phẩm chất đạo đức tốt phục vụ trong bộ máy chính quyền. Để đưa được người tài phục vụ trong bộ máy nhà nước thì cần có chính sách đãi ngộ hợp lý, có chính sách tiền lương thỏa đáng để bảo đảm cán bộ, viên chức có cuộc sống kinh tế tốt, để họ có thể yên tâm công tác, đồng thời, hạn chế phần nào tình trạng tham ô, nhũng nhiễu, cửa quyền. Cần có chính sách khen thưởng kịp thời, thỏa đáng đối với người hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, có thành tích đặc biệt như tăng lương, thưởng, thăng chức để kịp thời động viên, từ đó khuyến khích cán bộ hăng say, thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Thứ ba, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật kết hợp với giáo dục đạo đức. Dưới triều Trần việc giáo dục đạo đức và các biện pháp chế tài được thực hiện đồng thời. Bên cạnh các bộ luật thì Lễ thề tại đền Đồng Cổ là một hình thức giáo dục đạo đức và răn đe tinh thần đặc biệt, yêu cầu quan lại giữ gìn phẩm hạnh, tận trung với nước, tận hiếu với dân. Do vậy, bài học kinh nghiệm hiện nay là cần hoàn chỉnh các văn bản luật trong hoặc động phòng, chống tham nhũng, đó là cơ sở quan trọng trong công tác quản lý, xử phạt đối với người vi phạm. Bên cạnh việc hoàn thiện văn bản luật thì cần đẩy mạnh tuyên truyền, tập huấn, phổ biến cho cán bộ, Nhân dân hiểu biết về những quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng, xây dựng văn hóa liêm chính trong Đảng và bộ máy nhà nước. Có hình thức xử phạt đối tượng tham nhũng, đưa hối lộ, đút lót một cách nghiêm minh, không có vùng cấm, không phân biệt đối tượng, địa vị, chức vụ, bảo đảm mọi người phải công bằng trước pháp luật, từ đó, mới có tính răn đe, tạo niềm tin cho Nhân dân vào hệ thống pháp luật của Nhà nước. Dưới triều Trần qua các vụ án của Trần Phẫu hay Văn Hiến hầu, dù vẫn còn những oan khuất, hạn chế nhất định do điều kiện lịch sử nhưng qua đó cũng cho thấy, thái độ của triều đình cương quyết xử phạt.
Thứ tư, dưới thời Trần biện pháp khảo khóa đối với quan lại giữ vai trò quan trọng đối với việc thưởng phạt quan lại. Vận dụng trong giai đoạn hiện nay bằng hình thức tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực thi công vụ của cán bộ công chức, viên chức, xem đó là nhiệm vụ thường xuyên. Thông qua việc kiểm tra giám sát để có hình thức khen thưởng đối với người hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, như: tăng lương, thưởng, đưa vào quy hoạch, cất nhắc cán bộ ở vị trí cao hơn để khuyến khích họ phấn đấu, cống hiến cho cơ quan đơn vị. Mặt khác, thanh tra, giám sát cũng là biện pháp để sớm phát hiện các hiện tượng tham nhũng, tiêu cực, từ đó, có biện pháp để ngăn chặn cũng như có chế tài xử lý kịp thời, góp phần hạn chế những sai phạm lớn, gây thất thoát cho ngân sách nhà nước.
Thứ năm, đối với công tác phòng, chống tham nhũng tiêu cực cần phải xem là một việc làm thường xuyên trong các cơ quan, tổ chức. Dưới triều Trần, việc phát giác tham nhũng không chỉ đến từ triều đình mà còn xuất phát từ việc tố cáo của quan lại, dân chúng và các mối quan hệ xã hội. Nhiều vụ án được làm rõ chính nhờ sự tố cáo của những người bên ngoài bộ máy quản lý nhà nước. Điều đó cho thấy, vai trò giám sát của xã hội giữ vị trí quan trọng cần được phát huy. Bài học kinh nghiệm hiện nay là phải xem công tác phát giác các hiện tượng, vụ việc tham nhũng là trách nhiệm không chỉ của Nhà nước mà là của toàn xã hội, do vậy cần phải huy động các tổ chức chính trị – xã hội, các lực lượng và Nhân dân cùng tham gia giám sát, phản biện xã hội; đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Đồng thời, cũng cần có cơ chế, chính sách để bảo vệ người tố giác, khuyến khích, khen thưởng việc phản ánh hiện tượng tiêu cực, tham nhũng.
Tài liệu tham khảo:
Lê Quang Chắn (Chủ nhiệm) (2024). Tệ nạn xã hội và những biện pháp phòng, chống của các triều đại quân chủ Việt Nam giai đoạn 1428 – 1884. Đề tài cấp Bộ 2023-2024. Lưu tại thư viện Viện Sử học.
Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê (1993). Đại Việt sử ký toàn thư (Tập I, II). Nxb Khoa học Xã hội.
Phan Huy Chú (1992). Lịch triều Hiến chương loại chí (Tập 1,2). Nxb Khoa học Xã hội.
Quốc sử quán triều Nguyễn (2007). Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Tập 1, 2). Nxb Giáo dục.



