Phát huy giá trị của Hiến pháp năm 2013 trong phát triển giáo dục đại học Việt Nam ở giai đoạn phát triển mới

Promoting the values of the 2013 Constitution in the development of Vietnam’s higher education in the new development stage

TS. Vũ Thị Cẩm Tú
Học viện Hành chính và Quản trị công
Email: tuvtc@apag.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết làm rõ giá trị của Hiến pháp năm 2013 với phát triển giáo dục đại học Việt Nam, tập trung vào quyền học tập, phát triển con người, nguồn nhân lực chất lượng cao, công bằng xã hội, dân chủ và hội nhập. Thực tiễn cho thấy, các giá trị hiến định đã từng bước được thể chế hóa trong tự chủ đại học, nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển đổi số và hợp tác quốc tế. Bài viết chỉ ra thách thức về bất bình đẳng số, trách nhiệm giải trình, lệ thuộc tri thức, nguy cơ thương mại hóa giáo dục. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, phát triển đội ngũ trí thức, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo vệ vững chắc định hướng xã hội chủ nghĩa trong giáo dục đại học.

Từ khóa: Hiến pháp năm 2013; giáo dục đại học; định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển mới; quyền học tập.  
Abstract: This article clarifies the values of the 2013 Constitution for the development of Vietnam’s higher education, focusing on the right to education, human development, high-quality human resources, social equity, democracy, and integration. In practice, these constitutional values have gradually been institutionalized in the areas of university autonomy, the enhancement of the quality of education and scientific research, digital transformation, and international cooperation. The article also identifies challenges related to the digital divide, accountability, intellectual dependency, and the risk of commercialization of education. Based on this analysis, it proposes solutions to refine institutional frameworks, strengthen Party leadership, improve the effectiveness of state management, develop the intellectual workforce, foster innovation, and firmly safeguard the socialist orientation in higher education.  
Keywords: 2013 Constitution; higher education; socialist orientation; new development; right to education.

1. Đặt vấn đề

Hiến pháp năm 2013 là kết tinh tư duy đổi mới của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời khẳng định những giá trị có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong thời kỳ mới. Với vị trí là đạo luật cơ bản của Nhà nước, Hiến pháp xác lập các nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, định hướng phát triển các lĩnh vực có ý nghĩa quyết định tương lai dân tộc, trong đó giáo dục và đào tạo được xác định là quốc sách hàng đầu; phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài là nhiệm vụ chiến lược của quốc gia (Quốc hội, 2013). Những quy định này tạo nền tảng chính trị, pháp lý để xây dựng nền giáo dục Việt Nam hiện đại, dân chủ, công bằng, hội nhập và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

Giáo dục đại học giữ vị trí đặc biệt trong hiện thực hóa các giá trị hiến định đó. Đây là lĩnh vực trực tiếp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển đội ngũ trí thức, thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và củng cố sức mạnh nội sinh của đất nước. Nhận thức rõ vai trò đó, Đảng đã ban hành nhiều chủ trương lớn nhằm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 và Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/08/2025 đều thể hiện sự phát triển nhất quán trong tư duy của Đảng về phát huy nguồn lực con người, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và xây dựng nền giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2013, 2024, 2025).

Những biến đổi sâu sắc của kinh tế tri thức, chuyển đổi số và cạnh tranh chiến lược toàn cầu đang đặt giáo dục đại học trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ về quản trị, chất lượng đào tạo, năng lực nghiên cứu và hội nhập quốc tế. Đồng thời, các xu hướng thương mại hóa giáo dục, cạnh tranh nguồn nhân lực chất lượng cao, tác động của công nghệ số và những quan điểm lệch lạc về tự chủ đại học, tự do học thuật hoặc hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu phải tiếp tục khẳng định và phát huy các giá trị của Hiến pháp năm 2013 như nền tảng chính trị, pháp lý bảo đảm giáo dục đại học phát triển đúng định hướng, phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Bài viết góp phần làm rõ giá trị của Hiến pháp năm 2013 với phát triển giáo dục đại học hiện nay; phân tích kết quả đạt được, những vấn đề đặt ra trong giai đoạn phát triển mới; đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục hiện thực hóa các giá trị hiến định trong quá trình đổi mới giáo dục đại học. Qua đó, khẳng định rằng phát huy giá trị của Hiến pháp năm 2013 trong giáo dục đại học góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhiệm vụ có ý nghĩa chính trị quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân vào con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

2. Giá trị của Hiến pháp năm 2013 đối với phát triển giáo dục đại học

2.1. Giá trị hiến định về quyền con người, quyền công dân trong giáo dục

Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, quyền con người, quyền công dân được quy định thành một chương riêng trong Hiến pháp năm 2013, tạo bước phát triển quan trọng về nhận thức chính trị và pháp lý đối với quyền học tập là quyền hiến định, đồng thời khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người và quyền công dân. Điều 39 quy định công dân có quyền và nghĩa vụ học tập; Điều 61 khẳng định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, ưu tiên đầu tư và tạo điều kiện để mọi người được học tập. Giá trị của các quy định này vượt ra ngoài phạm vi bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục, thể hiện tư tưởng phát triển con người toàn diện, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (Quốc hội, 2013).

Giá trị hiến định về quyền học tập được đặt trong chỉnh thể quyền con người. Điều 14 quy định quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật; Điều 16 khẳng định, mọi người bình đẳng trước pháp luật, không bị phân biệt đối xử. Các quy định này tạo cơ sở hiến định để xây dựng nền giáo dục đại học bảo đảm công bằng trong tiếp cận cơ hội học tập, phát triển tài năng, nghiên cứu khoa học, sáng tạo, học tập suốt đời; đồng thời yêu cầu Nhà nước thực hiện các chính sách hỗ trợ nhằm thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các vùng, các nhóm xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từng chính sách phát triển giáo dục (Quốc hội, 2013).

Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã kế thừa và cụ thể hóa các giá trị hiến định đó bằng định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Giáo dục được xác định hướng tới phát triển phẩm chất, năng lực người học; xây dựng xã hội học tập; tạo điều kiện để mọi người học tập suốt đời; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2013). Chủ trương này thể hiện sự thống nhất giữa giá trị hiến định về quyền học tập với mục tiêu phát triển con người trong định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong giai đoạn phát triển mới, Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị tiếp tục phát triển tư duy về giáo dục trên nền tảng Hiến pháp năm 2013. Nghị quyết xác định giáo dục và đào tạo là động lực quyết định nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh quốc gia; coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển bền vững; bảo đảm mọi người dân có cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng, học tập suốt đời, phát triển toàn diện trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2025). Nội dung này phản ánh sự phát triển nhận thức của Đảng về quyền học tập, chuyển trọng tâm từ bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục sang tạo điều kiện để mỗi cá nhân phát huy tối đa tiềm năng, đóng góp vào sự phát triển đất nước.

2.2. Giá trị của Hiến pháp về phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Phát triển con người luôn giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hiến pháp năm 2013 đã hiến định hóa quan điểm đó thành nguyên tắc phát triển quốc gia con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều 3 quy định Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; Điều 61 khẳng định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài (Quốc hội, 2013). Giá trị của các quy định này không dừng ở việc xác lập quyền học tập mà hình thành định hướng phát triển quốc gia lấy con người làm trung tâm, lấy chất lượng nguồn nhân lực làm yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của đất nước.

Hiến pháp năm 2013 tạo nền tảng chính trị, pháp lý để chuyển hóa quan điểm phát triển con người thành nhiệm vụ chiến lược của quốc gia. Con người được nhìn nhận là chủ thể sáng tạo, chủ thể phát triển và chủ thể thụ hưởng thành quả phát triển. Giáo dục đại học vì vậy mang sứ mệnh đào tạo đội ngũ trí thức, chuyên gia, cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhà khoa học và lực lượng lao động trình độ cao đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục phát triển tư tưởng đó khi xác định phát triển con người toàn diện, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những đột phá chiến lược, đồng thời khẳng định nguồn lực con người là yếu tố quan trọng nhất, giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Luận điểm này làm rõ hơn giá trị của Hiến pháp năm 2013, khẳng định giáo dục đại học thực hiện chức năng đào tạo, trực tiếp tạo dựng sức mạnh quốc gia thông qua phát triển trí tuệ, phẩm chất, bản lĩnh chính trị, năng lực sáng tạo và tinh thần cống hiến của con người Việt Nam.

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tố quyết định thành công của đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết yêu cầu phát triển đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn cao, năng lực làm chủ công nghệ, tư duy đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh quốc tế, qua đó, mở rộng nội hàm phát triển con người từ trình độ học vấn sang năng lực sáng tạo, năng lực kiến tạo giá trị mới trong nền kinh tế tri thức (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2024; Trần Đăng Bộ, 2025).

Tiếp nối tư duy đó, Nghị quyết số 71-NQ/TW xác định giáo dục và đào tạo giữ vai trò đột phá trong chuẩn bị nguồn nhân lực cho kỷ nguyên phát triển mới, coi phát triển nhân tài, hình thành công dân số, nâng cao năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế là yêu cầu chiến lược của đất nước (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2025). Đây là sự phát triển nhất quán từ giá trị hiến định của Hiến pháp năm 2013 đến các chủ trương lớn của Đảng, phản ánh nhận thức ngày càng sâu sắc về vai trò quyết định của con người trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia và củng cố sức mạnh tổng hợp của quốc gia.

2.3. Giá trị của Hiến pháp trong bảo đảm công bằng xã hội, bình đẳng về cơ hội học tập

Giáo dục chỉ thực sự trở thành động lực phát triển đất nước khi mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận tri thức và phát huy năng lực. Từ yêu cầu đó, Hiến pháp năm 2013 đã hình thành nền tảng hiến định cho việc thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, giá trị hiến định này được thể hiện thông qua sự thống nhất giữa quyền học tập của công dân với trách nhiệm của Nhà nước trong tạo lập điều kiện để mọi người đều có cơ hội tiếp cận giáo dục, phát triển năng lực và cống hiến cho đất nước. Điều 16 khẳng định mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không bị phân biệt đối xử; Điều 39 quy định công dân có quyền và nghĩa vụ học tập; Điều 61 xác định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, ưu tiên đầu tư, tạo điều kiện để mọi người được học tập. Những quy định đó phản ánh bản chất nhân văn và tiến bộ của chế độ xã hội chủ nghĩa, lấy con người làm trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia (Quốc hội, 2013).

Giá trị của Hiến pháp không dừng ở việc bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục theo nghĩa hình thức mà hướng tới thực hiện công bằng về cơ hội phát triển. Công bằng xã hội trong giáo dục đại học được hiểu là mọi công dân, không phân biệt giới tính, dân tộc, điều kiện kinh tế, nơi cư trú hay hoàn cảnh xã hội đều có điều kiện phát huy năng lực, tiếp cận tri thức, nghiên cứu khoa học và phát triển nghề nghiệp. Đây là yêu cầu có ý nghĩa chính trị sâu sắc bởi giáo dục đại học vừa tạo dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, vừa góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội và thực hiện mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội trong từng giai đoạn phát triển đất nước.

Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khi nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội trong từng chính sách phát triển, chăm lo phát triển con người toàn diện, không để ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển đất nước (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Đối với giáo dục đại học, đây là định hướng chính trị quan trọng để mở rộng cơ hội học tập cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, người sinh sống tại vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn và các nhóm yếu thế, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, các tầng lớp dân cư.

Nghị quyết số 71-NQ/TW tiếp tục phát triển nhận thức của Đảng về công bằng trong giáo dục bằng yêu cầu xây dựng nền giáo dục mở, hiện đại, bình đẳng, chất lượng, tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người dân, phát triển nhân lực đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên số, đồng thời bảo đảm mọi người đều được tiếp cận thành quả phát triển giáo dục, khoa học và công nghệ (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2025). Công bằng xã hội trong giáo dục vì vậy phản ánh bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, trở thành điều kiện để phát huy sức mạnh toàn dân tộc, khai thác hiệu quả nguồn lực con người, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.

2.4. Giá trị của Hiến pháp đối với xây dựng nền giáo dục Việt Nam hiện đại, dân chủ, hội nhập nhưng giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa

Lịch sử phát triển của dân tộc cho thấy, giáo dục luôn là lĩnh vực hội tụ khát vọng khai trí, chấn hưng đất nước và kiến tạo tương lai. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu hiện đại hóa giáo dục đại học không thể tách rời nhiệm vụ giữ vững bản chất của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích quốc gia, phát huy bản sắc văn hóa và bồi đắp lý tưởng phụng sự Tổ quốc. Hiến pháp năm 2013 đã đưa những yêu cầu đó thành chuẩn mực pháp lý tối cao, tạo cơ sở để đổi mới giáo dục diễn ra đúng hướng, có trật tự và phục vụ Nhân dân.

Giá trị hiến định trước hết thể hiện ở sự thống nhất giữa hiện đại hóa giáo dục với mục tiêu phát triển con người Việt Nam toàn diện. Điều 61 xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu; Điều 62 khẳng định, phát triển khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong phát triển kinh tế, xã hội. Hai quy định tạo thành trục hiến định định hướng giáo dục đại học chuyển từ truyền đạt tri thức sang sáng tạo tri thức, nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ và phụng sự phát triển quốc gia. Giáo dục đại học trong kỷ nguyên mới phải trở thành hạ tầng tri thức, kết hợp đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, đồng thời phát triển theo hướng mở, linh hoạt, tự chủ và có trách nhiệm giải trình (Phùng Kim Anh, 2026).

Tính dân chủ của nền giáo dục được thể hiện qua việc đề cao vai trò chủ thể của người học, quyền tự chủ học thuật của cơ sở đào tạo, sự độc lập chuyên môn của giảng viên và trách nhiệm giải trình trước Nhà nước, xã hội. Tự do học thuật là bộ phận quan trọng của tự do ngôn luận, đồng thời là cốt lõi của tự chủ đại học; quyền đó phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và trách nhiệm xã hội (Bùi Tiến Đạt, 2020). Như vậy, dân chủ trong giáo dục đại học không phải sự buông lỏng lãnh đạo hay tuyệt đối hóa tự do cá nhân mà là phát huy sáng tạo trên cơ sở kỷ cương, chuẩn mực khoa học và lợi ích quốc gia.

Hội nhập quốc tế mở ra điều kiện tiếp nhận tri thức, công nghệ, phương pháp quản trị và chuẩn mực đào tạo tiên tiến. Hợp tác quốc tế góp phần chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa giáo dục đại học, song đồng thời đặt ra nguy cơ lệ thuộc tri thức, suy giảm bản sắc và khó kiểm soát chất lượng chương trình xuyên biên giới (Bùi Minh Nghĩa, 2024). Hiến pháp vì vậy có giá trị như giới hạn chính trị, pháp lý bảo đảm hội nhập diễn ra chủ động, có chọn lọc, tiếp thu tinh hoa nhân loại nhưng không sao chép máy móc hay để các hệ giá trị ngoại lai chi phối mục tiêu giáo dục.

Các nghiên cứu mới thừa nhận nền giáo dục hiện đại phải mở rộng cơ hội học tập suốt đời, quốc tế hóa đội ngũ, đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học (Lê Ngọc Hùng, 2026; Nghiêm Xuân Dũng, 2025). Tuy nhiên, công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa tiến bộ khi phục vụ con người, củng cố công bằng xã hội và làm giàu sức mạnh tinh thần của dân tộc. Giáo dục đại học Việt Nam hiện đại vì thế phải đào tạo con người có tri thức, bản lĩnh chính trị, đạo đức, năng lực sáng tạo và ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng. Giáo dục đạo đức giữ vai trò định hướng nhân cách, hệ giá trị và trách nhiệm xã hội của sinh viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế (Đỗ Duy Tú và Nguyễn Thị Hoài, 2025).

3. Phát huy giá trị của Hiến pháp năm 2013 trong phát triển giáo dục đại học Việt Nam ở giai đoạn mới

3.1. Những kết quả nổi bật trong thể chế hóa các giá trị của Hiến pháp

Kết quả nổi bật trước hết là quyền học tập của công dân từng bước được cụ thể hóa trong chính sách phát triển giáo dục đại học. Việc mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục, quan tâm các nhóm có hoàn cảnh khó khăn, thúc đẩy bình đẳng giữa các vùng và tạo điều kiện học tập suốt đời đã phản ánh yêu cầu tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người theo tinh thần Hiến pháp. Giáo dục đại học vì thế ngày càng được nhìn nhận như con đường phát triển con người, nâng cao vị thế xã hội và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.

Giá trị hiến định về phát triển nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài được chuyển hóa thành chủ trương nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học và lao động trình độ cao. Sứ mệnh của giáo dục đại học từng bước được mở rộng từ truyền thụ tri thức sang nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và tham gia giải quyết các yêu cầu phát triển đất nước. Sự chuyển biến đó phù hợp với mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và củng cố sức mạnh tổng hợp của đất nước.

Tiến trình thể chế hóa còn được thể hiện qua việc mở rộng quyền tự chủ đại học đi đôi với trách nhiệm giải trình. Các cơ sở giáo dục đại học từng bước có điều kiện chủ động hơn trong tổ chức đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển đội ngũ và hợp tác quốc tế. Quyền tự chủ tạo động lực giải phóng sức sáng tạo, song luôn được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và yêu cầu phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc. Đây là biểu hiện sinh động của sự kết hợp giữa dân chủ và kỷ cương, giữa đổi mới quản trị với giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hội nhập quốc tế và chuyển đổi số trong giáo dục đại học có bước phát triển đáng ghi nhận. Hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, trao đổi học thuật và tiếp cận tri thức mới góp phần nâng cao chất lượng, mở rộng không gian sáng tạo và tăng cường vị thế của giáo dục đại học Việt Nam. Quá trình hội nhập được định hướng bởi lợi ích quốc gia, yêu cầu phát huy bản sắc văn hóa và mục tiêu xây dựng con người Việt Nam có bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức, tinh thần cống hiến.

3.2. Những vấn đề đặt ra trong bối cảnh chuyển đổi số, tự chủ đại học, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức

Chuyển động nhanh chóng của thời đại số đang đặt giáo dục đại học Việt Nam trước phép thử lớn về năng lực đổi mới, bản lĩnh hội nhập và trách nhiệm phụng sự đất nước. Tri thức, dữ liệu, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành nguồn lực sản xuất trực tiếp; vì vậy, việc hiện thực hóa các giá trị của Hiến pháp năm 2013 không thể dừng ở mở rộng quy mô đào tạo, mà được đo bằng chất lượng phát triển con người, hiệu quả nghiên cứu khoa học, mức độ công bằng trong tiếp cận giáo dục và đóng góp thực chất đối với sức mạnh quốc gia.

Trước hết, chuyển đổi số chưa diễn ra đồng đều giữa các cơ sở giáo dục đại học. Chênh lệch về hạ tầng công nghệ, học liệu số, năng lực số của giảng viên, sinh viên và cán bộ quản lý có nguy cơ làm sâu thêm khoảng cách về chất lượng đào tạo. Chuyển đổi số phải tạo ra sự thay đổi căn bản về tư duy quản lý, phương thức tổ chức, tiếp cận tri thức và quản trị dựa trên dữ liệu, chứ không dừng ở số hóa tài liệu hay đưa bài giảng lên môi trường mạng (Đặng Thu Trang, 2025). Yêu cầu đặt ra là phải bảo đảm công nghệ phục vụ quyền học tập, công bằng giáo dục và sự phát triển toàn diện của người học, không để bất bình đẳng số trở thành dạng bất bình đẳng giáo dục mới.

Tự chủ đại học đã mở rộng không gian sáng tạo, song việc thực hiện còn thiếu đồng đều, có nơi nghiêng về tự chủ tài chính, trong khi tự chủ học thuật, tổ chức, nhân sự và trách nhiệm giải trình chưa được phát huy đầy đủ. Quản trị dựa trên dữ liệu, kiểm định chất lượng, công khai trách nhiệm xã hội và vai trò của hội đồng trường vẫn là những điểm cần tiếp tục hoàn thiện. Tự chủ chỉ phát huy giá trị khi đi liền với minh bạch, giám sát xã hội, quản lý theo kết quả đầu ra và trình độ quản trị phù hợp của từng cơ sở giáo dục đại học (Phùng Kim Anh, 2026). Nếu tự chủ bị đồng nhất với tăng học phí hoặc giảm trách nhiệm của Nhà nước, giá trị hiến định về quyền học tập và công bằng xã hội sẽ đứng trước nguy cơ bị thu hẹp.

Hội nhập quốc tế tạo cơ hội tiếp nhận tri thức tiên tiến, nâng cao chuẩn đào tạo và mở rộng hợp tác học thuật, song đồng thời đặt ra yêu cầu bảo vệ chủ quyền giáo dục, bản sắc văn hóa và định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc chạy theo thứ hạng, công bố quốc tế hay chương trình nhập khẩu mà xem nhẹ nhu cầu phát triển đất nước có thể dẫn tới lệ thuộc tri thức và xa rời sứ mệnh phục vụ Nhân dân. Giáo dục đại học hội nhập chủ động, có chọn lọc, lấy lợi ích quốc gia, chất lượng thực chất và giá trị con người Việt Nam làm chuẩn mực.

Kinh tế tri thức còn đặt ra sức ép đổi mới chương trình đào tạo và cơ cấu ngành nghề. Nghiên cứu gần đây cho thấy mối liên hệ giữa đào tạo với thị trường lao động, doanh nghiệp và nhu cầu nhân lực dài hạn vẫn chưa chặt chẽ; năng lực nghiên cứu còn phân hóa, trong khi cơ cấu đào tạo chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ và các ngành kỹ thuật then chốt (Phùng Kim Anh, 2026). Giáo dục Việt Nam vẫn đối diện với sự chênh lệch vùng miền, hạn chế trong tự chủ, quản trị, cơ sở vật chất, chất lượng đội ngũ và tính liên thông của hệ thống giáo dục (Lê Ngọc Hùng, 2026).

Những vấn đề trên cho thấy, thách thức lớn nhất không phải lựa chọn giữa hiện đại hóa và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, mà là bảo đảm mọi đổi mới đều phục vụ con người, công bằng xã hội, độc lập dân tộc và khát vọng phát triển đất nước. Đó là thước đo chính trị cao nhất của quá trình phát huy giá trị Hiến pháp năm 2013 trong giáo dục đại học.

3.3. Những yêu cầu mới đối với giáo dục đại học nhằm hiện thực hóa các giá trị hiến định

Kỷ nguyên phát triển mới đòi hỏi giáo dục đại học Việt Nam phải chuyển mạnh từ thích ứng sang chủ động kiến tạo tri thức, nhân lực và sức mạnh phát triển quốc gia. Giá trị của Hiến pháp năm 2013 chỉ được hiện thực hóa đầy đủ khi quyền học tập, phát triển con người, công bằng xã hội và vai trò quốc sách hàng đầu của giáo dục trở thành kết quả có thể nhận diện trong chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, quản trị đại học và cơ hội thụ hưởng của Nhân dân.

Một là, tiếp tục đổi mới tư duy phát triển giáo dục đại học theo hướng mở, linh hoạt, liên thông và học tập suốt đời. Tri thức không còn ổn định trong từng chu kỳ nghề nghiệp; chương trình đào tạo phải được cập nhật theo sự phát triển của khoa học, công nghệ, thị trường lao động và nhu cầu xã hội. Giáo dục đại học trong kỷ nguyên mới phải kết hợp chặt chẽ đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo; hiệu quả phát triển được đánh giá bằng mức độ đáp ứng yêu cầu của người học và xã hội (Phùng Kim Anh, 2026).

Hai là, xây dựng quản trị đại học hiện đại, thực chất và có trách nhiệm giải trình. Tự chủ phải bao quát học thuật, tổ chức, nhân sự, tài chính, đồng thời chịu sự giám sát của Nhà nước và xã hội. Quyền tự quyết chỉ có giá trị khi phục vụ chất lượng, công bằng và lợi ích công, không thể bị thu hẹp thành tự chủ nguồn thu. Yêu cầu đổi mới quản trị đại học trong bối cảnh chuyển đổi số nhằm nâng cao chất lượng đào tạo (Nguyễn Thị Mỹ Dung và cộng sự, 2025).

Ba là, chuyển đổi số phải trở thành sự chuyển biến toàn diện về quản trị, giảng dạy, học tập, nghiên cứu và phục vụ người học. Phát triển dữ liệu dùng chung, học liệu số, năng lực số của đội ngũ, chuẩn mực sử dụng trí tuệ nhân tạo AI và cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân. Công nghệ phải mở rộng quyền tiếp cận tri thức, thu hẹp chênh lệch vùng miền, hỗ trợ người học yếu thế và bảo đảm không ai bị loại khỏi tiến trình giáo dục số. Đổi mới giáo dục đại học phải đáp ứng trực tiếp yêu cầu chuyển đổi số và đào tạo nhân lực phục vụ các ngành công nghệ cao (Nghiêm Xuân Dũng, 2025).

Bốn là, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, nhà khoa học và cán bộ quản trị. Đội ngũ phải có năng lực nghiên cứu, ngoại ngữ, công nghệ, hợp tác quốc tế, đạo đức học thuật và tinh thần phụng sự đất nước. Nền giáo dục hiện đại, hội nhập cần đội ngũ nhà giáo đủ tâm, tài, tín; đồng thời, phải tăng cường nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và đào tạo nhân lực trình độ cao (Lê Ngọc Hùng, 2026).

Năm là, hội nhập quốc tế phải được thực hiện chủ động, bình đẳng và có chọn lọc. Việc tiếp nhận chuẩn mực tiên tiến phục vụ nhu cầu phát triển đất nước, củng cố năng lực tự chủ về tri thức và bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Giáo dục đại học phải góp phần hình thành con người Việt Nam có tư duy sáng tạo, năng lực làm chủ khoa học, ý thức công dân, trách nhiệm xã hội, lòng yêu nước và khát vọng cống hiến. Các nghiên cứu mới khẳng định xây dựng con người Việt Nam hiện đại phải đồng thời phát triển tri thức, kỹ năng số, kỷ luật, trách nhiệm và bản lĩnh chính trị (Phạm Thị Hoàng Hà, Nguyễn Thị Thu Huyền và Nguyễn Thị Hoa, 2026).

4. Giải pháp phát huy giá trị của Hiến pháp năm 2013 trong phát triển giáo dục đại học Việt Nam

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển giáo dục đại học trên cơ sở các giá trị của Hiến pháp năm 2013.

Giá trị thực tiễn của Hiến pháp được khẳng định bằng mức độ các giá trị hiến định đi vào pháp luật, chính sách và đời sống xã hội. Đối với giáo dục đại học, yêu cầu cấp thiết hiện nay là tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, minh bạch, ổn định, tạo động lực đổi mới, đồng thời bảo đảm quyền học tập, công bằng xã hội, phát triển con người và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là điều kiện để chuyển các tuyên bố hiến định thành quyền được thụ hưởng thực chất của Nhân dân và trách nhiệm pháp lý cụ thể của Nhà nước.

Trước hết, rà soát toàn diện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục đại học, khoa học, công nghệ, đầu tư công, ngân sách, tài sản công, viên chức, sở hữu trí tuệ và hợp tác quốc tế nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo, thiếu thống nhất. Thể chế mới phải tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao tri thức và đổi mới sáng tạo, đồng thời bảo vệ lợi ích công, lợi ích quốc gia và quyền chính đáng của người học. Mọi sửa đổi pháp luật quán triệt tinh thần giáo dục là quốc sách hàng đầu, phát triển nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài là nhiệm vụ chiến lược của đất nước.

Thể chế hóa đầy đủ hơn quyền học tập và nguyên tắc bình đẳng về cơ hội giáo dục. Chính sách học phí, học bổng, tín dụng, hỗ trợ người học, phân bổ ngân sách và phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục đại học phải hướng tới thu hẹp chênh lệch giữa các vùng, các nhóm xã hội và các điều kiện kinh tế khác nhau. Không thể để tự chủ tài chính làm suy giảm cơ hội tiếp cận giáo dục của người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật hoặc người học tại địa bàn khó khăn. Công bằng giáo dục trở thành tiêu chí bắt buộc trong xây dựng, thẩm định và đánh giá chính sách.

Thể chế tự chủ đại học được hoàn thiện theo hướng phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm và giới hạn pháp lý của cơ sở đào tạo. Tự chủ học thuật, tổ chức, nhân sự và tài chính phải đi đôi với trách nhiệm giải trình, kiểm định chất lượng, công khai nguồn lực và giám sát xã hội. Nhà nước chuyển mạnh từ can thiệp hành chính trực tiếp sang kiến tạo phát triển, xây dựng chuẩn mực, kiểm tra kết quả và bảo vệ lợi ích công. Quyền tự chủ không thể bị giản lược thành quyền quyết định nguồn thu, càng không thể trở thành lý do làm giảm trách nhiệm đầu tư của Nhà nước đối với giáo dục đại học.

Quá trình hoàn thiện thể chế mở rộng sự tham gia thực chất của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, giảng viên, người học, tổ chức xã hội và đơn vị sử dụng lao động. Cơ chế tham vấn, phản biện, công khai chính sách phải được bảo đảm để thể chế phản ánh đúng yêu cầu phát triển và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân. Đồng thời, thiết lập công cụ đánh giá tác động của chính sách đối với quyền học tập, chất lượng đào tạo, công bằng xã hội, năng lực nghiên cứu và lợi ích quốc gia.

Thứ hai, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển giáo dục đại học.

Sự phát triển của giáo dục đại học Việt Nam luôn chịu sự chi phối trực tiếp của mục tiêu phát triển đất nước, lợi ích quốc gia, dân tộc và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là yêu cầu có tính nguyên tắc nhằm bảo đảm mọi đổi mới trong giáo dục đại học diễn ra đúng định hướng, phục vụ Nhân dân, phát triển con người Việt Nam toàn diện và củng cố sức mạnh quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Trước hết, nâng cao năng lực hoạch định chủ trương, định hướng chiến lược và dự báo của các cấp ủy đảng đối với giáo dục đại học. Chủ trương lãnh đạo phải bám sát yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế tri thức, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, đồng thời kiên định mục tiêu đào tạo con người có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực sáng tạo và tinh thần phụng sự Tổ quốc.

Củng cố vai trò của tổ chức đảng trong các cơ sở giáo dục đại học, bảo đảm sự thống nhất giữa lãnh đạo chính trị với thực hiện nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ xã hội. Cấp ủy phải lãnh đạo xây dựng chiến lược phát triển nhà trường, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể, đề cao trách nhiệm người đứng đầu và ngăn ngừa biểu hiện hành chính hóa hoạt động của tổ chức đảng.

Công tác tư tưởng được đổi mới mạnh mẽ, bảo đảm sức thuyết phục, tính khoa học và sự phù hợp với môi trường đại học. Giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, trách nhiệm công dân phải được thực hiện bằng nội dung thiết thực, đối thoại học thuật và những giá trị mẫu mực trong đời sống nhà trường. Chủ động đấu tranh với quan điểm sai trái, biểu hiện lệch chuẩn, tư tưởng thực dụng, tuyệt đối hóa lợi ích thị trường hoặc lợi dụng tự do học thuật để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc mục tiêu xã hội chủ nghĩa của nền giáo dục Việt Nam.

Cùng với đó, phải tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương của Đảng trong giáo dục đại học. Kịp thời phát hiện sai phạm, lợi ích nhóm, thiếu minh bạch và suy giảm trách nhiệm xã hội. Việc kiểm tra hướng vào kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, chất lượng đào tạo, đạo đức học thuật, công bằng trong giáo dục và hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Thứ ba, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, bảo đảm quyền tự chủ đại học đi đôi với trách nhiệm giải trình.

Nền giáo dục đại học năng động không thể hình thành từ cơ chế quản lý hành chính cứng nhắc, nhưng quyền tự chủ thiếu kiểm soát cũng có thể dẫn đến xa rời lợi ích công, gia tăng bất bình đẳng và suy giảm chất lượng. Yêu cầu đặt ra là đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nước, tạo lập sự thống nhất giữa quyền chủ động của cơ sở giáo dục đại học với trách nhiệm phục vụ Nhân dân, tuân thủ pháp luật và bảo vệ các giá trị hiến định. Quản lý nhà nước cần chuyển từ can thiệp trực tiếp vào hoạt động chuyên môn sang định hướng chiến lược, xây dựng chuẩn mực, phân bổ nguồn lực, kiểm tra kết quả và bảo vệ lợi ích công. Cơ quan quản lý tập trung hoạch định chính sách, dự báo nhu cầu nhân lực, quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo, xây dựng chuẩn chất lượng và giám sát việc thực hiện quyền học tập, công bằng giáo dục. Khắc phục tình trạng vừa quản lý bằng mệnh lệnh hành chính, vừa buông lỏng kiểm tra chất lượng và trách nhiệm xã hội.

Quyền tự chủ phải được bảo đảm đầy đủ trên các lĩnh vực học thuật, tổ chức, nhân sự, tài chính, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế. Tự chủ học thuật tạo điều kiện để nhà trường chủ động xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo, lựa chọn hướng nghiên cứu và phát triển đội ngũ theo sứ mệnh đã công bố. Tự chủ tài chính phải đi cùng trách nhiệm duy trì cơ hội học tập cho người có hoàn cảnh khó khăn, sử dụng hiệu quả nguồn lực công và không thương mại hóa giáo dục. Nhà nước vẫn phải giữ trách nhiệm đầu tư cho các ngành khoa học cơ bản, lĩnh vực chiến lược và cơ sở giáo dục thực hiện nhiệm vụ phục vụ cộng đồng.

Trách nhiệm giải trình trở thành nguyên tắc bắt buộc, không dừng ở công khai hình thức. Mỗi cơ sở giáo dục đại học phải giải trình về chất lượng đào tạo, chuẩn đầu ra, việc làm của người học, hoạt động nghiên cứu, sử dụng tài chính, tuyển dụng nhân sự, chính sách học phí và thực hiện trách nhiệm xã hội.

Thứ tư, phát triển đội ngũ giảng viên, nhà khoa học và nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.

Giáo dục đại học chỉ hoàn thành sứ mệnh hiến định khi xây dựng được đội ngũ giảng viên, nhà khoa học đủ sức sáng tạo tri thức, dẫn dắt đổi mới và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Đổi mới căn bản công tác quy hoạch, tuyển dụng, sử dụng và phát triển đội ngũ giảng viên, nhà khoa học. Việc tuyển chọn phải dựa trên phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, năng lực nghiên cứu, giảng dạy và cống hiến thực chất; khắc phục biểu hiện coi trọng văn bằng, chức danh hơn sản phẩm khoa học và giá trị xã hội.

Chính sách đãi ngộ phải đủ sức thu hút, trọng dụng và giữ chân nhân tài. Hoàn thiện cơ chế tiền lương, thù lao nghiên cứu, điều kiện làm việc, quỹ phát triển khoa học, hỗ trợ công bố và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; đồng thời có chính sách đặc thù đối với chuyên gia đầu ngành, nhà khoa học trẻ, giảng viên làm việc trong các ngành khoa học cơ bản, công nghệ chiến lược và lĩnh vực đất nước đang thiếu hụt nhân lực. Trọng dụng nhân tài phải dựa trên hiệu quả lao động, đóng góp sáng tạo và trách nhiệm đối với cộng đồng.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chuyển mạnh sang phát triển năng lực nghiên cứu, công nghệ số, ngoại ngữ, hợp tác quốc tế, xây dựng chương trình và tổ chức đào tạo theo chuẩn chất lượng cao. Mỗi giảng viên phải đồng thời là nhà giáo dục, nhà khoa học và chủ thể truyền cảm hứng cống hiến.

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phải xuất phát từ nhu cầu chiến lược của quốc gia. Ưu tiên đào tạo nhân lực cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, quản trị quốc gia, y tế, giáo dục và các ngành công nghiệp trọng điểm; tăng cường phối hợp giữa nhà trường, cơ quan nhà nước, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và thị trường lao động. Chương trình đào tạo phải chú trọng tư duy độc lập, năng lực sáng tạo, đạo đức nghề nghiệp, ý thức công dân và trách nhiệm xã hội.

Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang làm thay đổi căn bản vị thế của giáo dục đại học trong chiến lược phát triển quốc gia. Tri thức trở thành nguồn lực quyết định năng suất, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của đất nước. Trong bối cảnh đó, phát huy giá trị của Hiến pháp năm 2013 đòi hỏi giáo dục đại học Việt Nam vừa tiếp cận thành tựu mới của nhân loại, vừa kiên định mục tiêu phát triển con người, phục vụ Nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Chuyển đổi số trở thành động lực đổi mới toàn diện phương thức quản trị, đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng. Việc hình thành hạ tầng dữ liệu thống nhất, học liệu số, thư viện số, môi trường học tập thông minh và ứng dụng trí tuệ nhân tạo hướng đến nâng cao chất lượng giáo dục, mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, các nhóm xã hội.

Đổi mới sáng tạo được xác lập là động lực phát triển của giáo dục đại học. Hoạt động nghiên cứu khoa học hướng vào giải quyết những vấn đề lớn của đất nước, nâng cao năng lực làm chủ công nghệ, thúc đẩy chuyển giao tri thức và hình thành các sản phẩm có giá trị khoa học, kinh tế, xã hội. Trường đại học là trung tâm đào tạo, trung tâm sáng tạo tri thức, đóng góp trực tiếp vào phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế.

Hội nhập quốc tế chỉ thực sự có ý nghĩa khi góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, mở rộng không gian học thuật và tăng cường vị thế của giáo dục đại học Việt Nam. Quá trình tiếp thu tinh hoa giáo dục thế giới phải dựa trên nguyên tắc chủ động, bình đẳng, chọn lọc, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc làm tiêu chuẩn cao nhất. Việc hợp tác đào tạo, nghiên cứu, kiểm định chất lượng và trao đổi học thuật góp phần nâng cao năng lực nội sinh của các cơ sở giáo dục đại học, tránh lệ thuộc vào mô hình phát triển bên ngoài hoặc chạy theo các chỉ số hình thức.

5. Kết luận

Phát huy giá trị của Hiến pháp năm 2013 trong giáo dục đại học là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới. Đây không đơn thuần là quá trình hoàn thiện pháp luật hay đổi mới hoạt động giáo dục, mà là quá trình hiện thực hóa quan điểm của Đảng về phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng nền giáo dục hiện đại, hội nhập, dân chủ, công bằng và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Giá trị hiến định chỉ thực sự được khẳng định khi quyền học tập, quyền phát triển của con người và mục tiêu bồi dưỡng nhân tài được chuyển hóa thành những thành quả cụ thể trong đào tạo, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Bảo vệ, phát huy giá trị của Hiến pháp năm 2013 trong giáo dục đại học đồng thời là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Những quan điểm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, tuyệt đối hóa cơ chế thị trường, đồng nhất tự chủ đại học với buông lỏng quản lý nhà nước hoặc cổ súy các khuynh hướng làm suy giảm bản sắc, mục tiêu xã hội chủ nghĩa của nền giáo dục Việt Nam đều đi ngược lại các giá trị hiến định và lợi ích căn bản của quốc gia, dân tộc.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Bùi Minh Nghĩa (08/10/2024). Hợp tác quốc tế về giáo dục, đào tạo đại học: Chủ trương, kết quả và giải pháp tăng cường. Tạp chí Lý luận chính trị.
Bùi Tiến Đạt (08/06/2020). Quyền tự do học thuật trong giáo dục đại học. Tạp chí Nghiên cứu lập pháp.
Đặng Thu Trang (2025). Chuyển đổi số với đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Tạp chí Lý luận chính trị.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập 1). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Đỗ Duy Tú & Nguyễn Thị Hoài (2025). Nội dung và phương thức giáo dục đạo đức cho sinh viên ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Tạp chí Lý luận chính trị.
Lê Ngọc Hùng (02/02/2026). Phát triển nền giáo dục quốc dân hiện đại, hội nhập. Tạp chí Lý luận chính trị. DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.4080
Nghiêm Xuân Dũng (2026). Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong giai đoạn hiện nay: Một số vấn đề đặt ra và khuyến nghị. Tạp chí Giáo dục, 25 (Số đặc biệt 10), 37-43.
Nguyễn Thị Mỹ Dung, Lương Minh Đức & Mai Kim Tuyền (2025). Đổi mới quản trị đại học gắn với tự chủ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong bối cảnh chuyển đổi số. Tạp chí Giáo dục, 25 (Đặc biệt 9), 381-386.
Phạm Thị Hoàng Hà, Nguyễn Thị Thu Huyền & Nguyễn Thị Hoa (27/01/2026). Xây dựng tiêu chí con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Tạp chí Lý luận chính trị.
Phùng Kim Anh (17/5/2026). Phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Tạp chí Lý luận chính trị. DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.4003
Quốc hội (2013). Hiến pháp năm 2013.
Trần Đăng Bộ (2025). Luận giải sự cần thiết đào tạo, phát triển nguồn nhân lực số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XIII. Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triển, 4 (2), 1-8. DOI: https://doi.org/10.58902/tcnckhpt.v4i2.255