Mobilizing knowledge and technology resources for Vietnam’s national digital transformation through people-to-people diplomacy
ThS. Tống Thị Thanh Thủy
Cục Ngoại vụ và Ngoại giao văn hóa, Bộ Ngoại giao
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích các chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia gắn với hội nhập quốc tế, đánh giá thực trạng kết quả đạt được, nhận diện các khó khăn, điểm nghẽn về thể chế, trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp đột phá nhằm đổi mới phương thức vận động nguồn lực xã hội và phát huy vai trò cầu nối của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, góp phần nâng cao năng lực công nghệ phục vụ tiến trình hiện đại hóa đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
Từ khóa: Chuyển đổi số quốc gia; đối ngoại nhân dân; nguồn lực tri thức; chuyển giao công nghệ; kỷ nguyên phát triển mới; người Việt Nam ở nước ngoài.
Abstract: This article analyzes the Party’s policies on national digital transformation in the context of international integration, assesses the current status and achievements, identifies challenges and institutional bottlenecks, and, based on this, proposes several breakthrough solutions aimed at innovating methods for mobilizing social resources and leveraging the bridging role of the overseas Vietnamese community, thereby contributing to enhancing technological capabilities to support the nation’s modernization process in this new era of national development.
Keyword: National digital transformation; people-to-people diplomacy; knowledge resources; technology transfers.
1. Đặt vấn đề
Sau bốn thập kỷ thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Vị thế, uy tín quốc tế cùng quy mô nền kinh tế không ngừng được củng cố, tạo lập thế và lực mới để dân tộc Việt Nam bước vào khởi điểm lịch sử mới – kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Trong giai đoạn cách mạng mang tính bứt phá này, quốc phòng, an ninh và đối ngoại tiếp tục giữ vai trò tiên phong, trọng yếu nhằm kiến tạo và duy trì môi trường hòa bình, ổn định, đồng thời huy động tối đa các nguồn lực bên ngoài để phục vụ các mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước (Đảng Cộng sản Việt Nam. 2026).
Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 gắn liền với tiến trình chuyển đổi số toàn diện đang định hình lại bản đồ sức mạnh quốc gia toàn cầu. Chuyển đổi số quốc gia không còn là sự lựa chọn mang tính công cụ mà đã trở thành xu thế tất yếu khách quan, quy định sự thay đổi giới hạn tiềm năng và năng lực cạnh tranh chiến lược của mỗi nước trên trường quốc tế. Nhận thức rõ xu thế thời đại, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Các văn kiện chiến lược này khẳng định tầm nhìn của Đảng trong việc coi khoa học, công nghệ và dữ liệu số là động lực chính của mô hình tăng trưởng mới, là nhân tố quyết định đưa quốc gia bứt tốc phát triển (Tô Lâm. 2024); Bộ Chính trị. 2024); Bộ Chính trị. 2025).
Để thực hiện thành công các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia, việc kết hợp chặt chẽ giữa nội lực và ngoại lực là yêu cầu bắt buộc. Trong đó, nội lực là nhân tố quyết định và giữ vai trò nền tảng, còn ngoại lực là nhân tố quan trọng để bứt phá đi đầu, giúp tiếp thu nhanh các xu thế công nghệ mới và tri thức quản trị tiên tiến. Trong bối cảnh đó, đối ngoại nhân dân – với tính chất linh hoạt, mềm dẻo và phạm vi chủ thể rộng mở – giữ một vị trí đặc biệt quan trọng. Đây là kênh tự nhiên nhất để kết nối, thu hút nguồn lực tri thức toàn cầu, chuyển giao các công nghệ lưỡng dụng và thiết lập các mạng lưới chuyên gia quốc tế hỗ trợ đắc lực cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của nước nhà. Việc nghiên cứu và đưa ra hệ giải pháp đồng bộ nhằm nâng tầm kênh đối ngoại này trong kỷ nguyên mới có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách (Trần Đắc Lợi. 2019).
Bên cạnh đó, cuộc cách mạng chuyển đổi số cũng đặt ra yêu cầu phải hiện đại hóa toàn diện phương thức triển khai đối ngoại nhân dân. Ngoại giao nhân dân hiện đại không thể tách rời không gian số. Việc làm chủ không gian mạng, tận dụng các nền tảng công nghệ số và truyền thông số sẽ tạo ra những công cụ kết nối lực lượng xuyên quốc gia vượt trội, đồng thời củng cố khả năng phòng ngừa chiến tranh thông tin, đấu tranh bảo vệ lợi ích và hình ảnh quốc gia từ sớm, từ xa. Do đó, việc xây dựng tầm nhìn chiến lược dài hạn cho đối ngoại nhân dân gắn liền với hội nhập công nghệ số là nhiệm vụ vừa mang tính cấp bách trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài.
2. Chủ trương của Đảng, Nhà nước về chuyển đổi số quốc gia và hội nhập khoa học – công nghệ
Chủ trương đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia và nâng cao tiềm lực khoa học – công nghệ đã được Đảng ta hoạch định một cách nhất quán và có tính đột phá qua từng thờ” và xây dựng chính phủ số được đưa vào Văn kiện chính thức của Đảng, đánh dấu bước phát triển quan trọng về nhận thức lý luận, Đảng tiếp tục đặt ra yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất mới chất lượng cao, lấy kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh và kinh tế số làm trọng tâm để tạo bước bứt bách về năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. (Đảng Cộng sản Việt Nam. 2021; Đảng Cộng sản Việt Nam. 2026).
Sự phát triển tư duy lý luận của Đảng được cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị. Nghị quyết xác định rõ ràng phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số là đột phá chiến lược hàng đầu, là điều kiện tiên quyết để nước ta xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Đảng ta chỉ rõ định hướng tháo gỡ dứt điểm các điểm nghẽn thể chế, xóa bỏ tư duy khép kín ‘không quản được thì cấm’, đồng thời cho phép thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với các mô hình công nghệ mới nổi như trí tuệ nhân tạo (AI), blockchain, công nghệ bán dẫn, điện toán đám mây và công nghệ lượng tử… với mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số phải đóng góp tối thiểu 30% GDP và nâng hạng Chỉ số Chính phủ điện tử của Việt Nam vào nhóm các nước dẫn đầu. Đây là những chỉ tiêu định lượng mang tính bứt phá bám sát yêu cầu phát triển bứt tốc của đất nước (Bộ Chính trị. 2024).
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới đặt ra yêu cầu phải đẩy mạnh hội nhập quốc tế về khoa học, công nghệ, chuyển từ tâm thế thụ động “tham gia” sang chủ động “kiến tạo” và tham gia xây dựng chuẩn mực chung. Hợp tác quốc tế phải hướng vào việc xây dựng chính sách đặc thù nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao từ các tập đoàn lớn, gắn liền với yêu cầu chuyển giao công nghệ nguồn, công nghệ nền tảng và hình thành các trung tâm R&D tại Việt Nam. Chủ trương này mở ra không gian hành động rộng lớn cho cả hệ thống chính trị, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của tất cả các cấp, các ngành, đặc biệt là kênh đối ngoại nhân dân để khơi thông dòng chảy tri thức quốc tế (Bộ Chính trị. 2025).
Về phía quản lý nhà nước, việc ban hành các chương trình, chiến lược phát triển hạ tầng số quốc gia cũng khẳng định tính cấp bách của hành lang pháp lý thông suốt. Sự đan xen lợi ích giữa an ninh mạng, bảo vệ chủ quyền số quốc gia với yêu cầu mở cửa thu hút FDI công nghệ cao đòi hỏi phải có cơ chế phối hợp liên ngành phản ứng nhanh. Các tổ chức quần chúng, doanh nghiệp công nghệ và hiệp hội ngành nghề chính là các chủ thể năng động nhất giúp chuyển hóa chủ trương của Đảng thành các dự án hợp tác thực tế với đối tác quốc tế, tạo lập hệ sinh thái đổi mới sáng tạo liên thông toàn cầu (Bộ Chính trị. 2026).
3. Vai trò cầu nối và kết nối nguồn lực quốc tế của đối ngoại nhân dân phục vụ chuyển đổi số
Đối ngoại nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng và quản lý tập trung của Nhà nước, có vị trí thể chế đặc thù, liên kết chặt chẽ với khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới ngọn cờ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Sở hữu tính linh hoạt, mềm dẻo, đối ngoại nhân dân có khả năng tiếp cận và thiết lập quan hệ phi chính thức với các đối tác, viện nghiên cứu, quỹ phát triển quốc tế mà ngoại giao nhà nước chính thức chưa thuận tiện triển khai. Đây là lợi thế lớn để thực hiện “ngoại giao khoa học” và “ngoại giao số” trên kênh nhân dân, góp phần kiến tạo môi trường lòng tin thuận lợi cho các hợp tác kỹ thuật số chuyên sâu (Ban Bí thư. 2022).
Trọng tâm của đối ngoại nhân dân trong bối cảnh mới là sự dịch chuyển căn bản về tư duy và phương thức triển khai: chuyển từ tâm thế ‘vận động viện trợ’ nhân đạo đơn thuần sang xây dựng cơ chế “đối tác phát triển, đồng kiến tạo giá trị” (Ban Bí thư, 2025, tr. 3). Theo tinh thần Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 26/8/2025 của Ban Bí thư về công tác phi chính phủ nước ngoài, việc kết nối với các tổ chức phi chính phủ quốc tế (INGO) và các quỹ phát triển không chỉ để tiếp nhận tài chính, mà quan trọng hơn là để tiếp cận nguồn tri thức, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và mô hình vận hành tiên tiến của nhân loại phục vụ mục tiêu phát triển bền vững địa phương. Đây chính là quá trình chuyển dịch từ “vận động hỗ trợ” sang “đồng kiến tạo”, nơi các bên cùng thiết kế dự án, cùng đóng góp nguồn lực và cùng thụ hưởng giá trị tăng thêm của sự hợp tác (Ban Bí thư. 2025).
Bên cạnh đó, cộng đồng khoảng 6 triệu người Việt Nam ở nước ngoài sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ là bộ phận không tách rời và là nguồn lực chiến lược đặc biệt quan trọng của đối ngoại nhân dân. Đội ngũ trí thức, chuyên gia, doanh nhân kiều bào có lợi thế lớn về trình độ công nghệ đỉnh cao, sự am hiểu văn hóa quốc tế và mạng lưới quan hệ đa quốc gia. Họ đóng vai trò là những “sứ giả nhân dân”, là nhịp cầu tự nhiên để kết nối các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ trong nước với các trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu thế giới tại Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore… Thông qua các kênh giao lưu học thuật, hợp tác nghiên cứu, cộng đồng kiều bào giúp Việt Nam đi tắt đón đầu trong việc tiếp nhận các xu hướng công nghệ mới, đồng thời hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực số chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước (Lê Đình Tĩnh. 2026).
Đặc biệt, thế hệ trẻ kiều bào sinh ra và lớn lên ở nước ngoài đang nắm giữ những vị trí then chốt trong các tập đoàn công nghệ toàn cầu. Đây là lực lượng kế cận có tư duy hiện đại, tính hội nhập cao và khả năng kết nối không giới hạn trên không gian số. Việc đổi mới phương thức tập hợp lực lượng kiều bào trẻ, gắn kết họ thông qua các dự án khởi nghiệp xã hội, các cổng đổi mới sáng tạo quốc gia và các diễn đàn kết nối trí thức trẻ toàn cầu sẽ tạo ra xung lực mới cho đối ngoại nhân dân, biến nguồn lực tri thức kiều bào thành sức mạnh công nghệ tự thân cho đất nước (Ban Bí thư. 2026).
4. Thực trạng và kết quả đạt được thời gian qua
Thực tiễn triển khai công tác đối ngoại nhân dân giai đoạn 2021 – 2026 đã mang lại những kết quả toàn diện, củng cố vững chắc thế trận đối ngoại nước nhà. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba trụ cột đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân theo nguyên lý “kiềng ba chân” đã tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn. Đối ngoại nhân dân đã đóng vai trò tích cực trong việc huy động nguồn tri thức và thu hút nguồn lực quốc tế hỗ trợ thiết thực cho chuyển đổi số và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Các thành tựu cụ thể được phản ánh qua các dữ liệu thống kê (Lê Đình Tĩnh. 2026).
Để có cái nhìn trực quan về quy mô và tương quan lực lượng của các kênh đối ngoại, Biểu đồ 1 phác họa mạng lưới đối tác đối ngoại của Việt Nam tính đến giai đoạn 2025 – 2026.

Số liệu từ Biểu đồ 1 cho thấy, đối ngoại nhân dân sở hữu mạng lưới đối tác rộng lớn nhất với hơn 1.200 tổ chức đối tác quốc tế và phi chính phủ trên toàn cầu. Đây là một mạng lưới quan hệ đa dạng, không bị ràng buộc bởi các nghi thức ngoại giao chính thức, tạo lập một “lớp đệm xã hội” cực kỳ vững chắc hỗ trợ cho ngoại giao nhà nước và đối ngoại đảng. Sự đan xen, hỗ trợ lẫn nhau này tạo ra thế linh hoạt và năng lực thích ứng cao trước những biến động địa chính trị phức tạp, đồng thời mở rộng không gian tiếp cận tri thức quốc tế.
Tiếp theo, để đánh giá tầm nhìn và các mục tiêu cụ thể về kinh tế số và chuyển đổi số quốc gia của Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn 2045, Biểu đồ 2, cho thấy:

Dữ liệu từ Biểu đồ 2 làm nổi bật mục tiêu chuyển đổi số mang tính cách mạng của Việt Nam. Để đạt được tỷ trọng kinh tế số chiếm 30% GDP vào năm 2030 và bứt phá lên 50% GDP vào năm 2045, Việt Nam phải thực hiện một cuộc cách mạng thực sự về phương thức sản xuất và mô hình tăng trưởng. Tỷ lệ giao dịch không dùng tiền mặt và dịch vụ công trực tuyến toàn trình đạt 100% vào năm 2045 đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của toàn hệ thống chính trị, và kênh đối ngoại nhân dân đóng vai trò quan trọng trong việc khơi thông dòng vốn công nghệ và tri thức để phục vụ mục tiêu bứt tốc này.
Đồng thời, đối ngoại nhân dân đã phát huy hiệu quả to lớn trong việc thu hút các nguồn lực tài chính bên ngoài và phát huy sức mạnh đóng góp của cộng đồng kiều bào, được lượng hóa chi tiết tại Biểu đồ 3.

Phân tích dữ liệu từ Biểu đồ 3, cho thấy, nguồn tài chính ngoài nước đóng góp vào sự phát triển quốc gia đạt tỷ trọng rất lớn. Lượng kiều hối lũy kế gửi về nước đạt gần 250 tỷ USD tính đến cuối năm 2024 là nguồn lực nội sinh cực kỳ quan trọng, hỗ trợ đắc lực cho an sinh xã hội, hạ tầng viễn thông và kinh tế số tại các địa phương. Bên cạnh đó, 422 dự án đầu tư trực tiếp của kiều bào với tổng số vốn 1,725 tỷ USD tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ số và xuất khẩu, trực tiếp tạo ra hàng trăm nghìn việc làm chất lượng cao. Giá trị viện trợ phi chính phủ nước ngoài duy trì ổn định trên 200 triệu USD/năm đã hỗ trợ hiệu quả cho việc đào tạo kỹ năng số và nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ tại các vùng khó khăn. Tất cả những thành tựu thực chất này đã góp phần cải thiện Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức cao 0,766 điểm và nâng cao vị thế hạnh phúc quốc gia lên xếp hạng thứ 46 thế giới (Đảng Cộng sản Việt Nam. 2026b; Đảng Cộng sản Việt Nam. 2026a).
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, công tác thu hút tri thức công nghệ qua kênh đối ngoại nhân dân vẫn bộc lộ những thách thức và hạn chế. Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 12-CT/TW đã chỉ ra các điểm nghẽn: Thứ nhất, mạng lưới bạn bè truyền thống ủng hộ Việt Nam có xu hướng già hóa, tạo ra nguy cơ ‘khoảng trống thế hệ’ nếu chúng ta không kịp thời kết nối với thế hệ trẻ, giới chuyên gia công nghệ và lực lượng lao động trẻ toàn cầu. Thứ hai, cơ chế phối hợp thông tin và dữ liệu dùng chung giữa ba trụ cột đối ngoại còn hạn chế, dẫn đến việc phân tán nguồn lực. Thứ ba, tình trạng hành chính hóa và quy trình phê duyệt hành chính rườm rà đối với các hội đoàn quốc tế gây cản trở lớn đến tính phản ứng nhanh trước các cơ hội hợp tác công nghệ số.
5. Các giải pháp đột phá nâng tầm kênh đối ngoại nhân dân trong thu hút tri thức và công nghệ số
Để thực hiện thành công các mục tiêu chiến lược của Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 59-NQ/TW, đưa đất nước bứt phá phát triển trong kỷ nguyên mới, công tác đối ngoại nhân dân cần quán triệt kỹ lưỡng phương châm chỉ đạo mới của Đảng: “Chủ động kiến tạo, thích ứng linh hoạt, đột phá phát triển, thực chất hiệu quả”. Phương châm chỉ đạo mới này đòi hỏi toàn hệ thống đối ngoại nhân dân phải chuyển dịch mạnh mẽ từ tâm thế bị động sang chủ động thiết lập luật chơi và kiến tạo cơ hội hợp tác (Ban Bí thư. 2026).
Để hiện thực hóa phương châm, cần triển khai đồng bộ các giải pháp đột phá sau:
Một là, cải cách hành chính quyết liệt và đột phá thể chế quản lý hoạt động đối ngoại nhân dân. Cần khẩn trương thể chế hóa Quy định số 392-QĐ/TW của Bộ Chính trị về quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại theo hướng tăng cường phân cấp, phân quyền cho các địa phương “tiền kiểm” sang cơ chế quản lý theo phân loại rủi ro gắn liền với ‘hậu kiểm’, đơn giản hóa tối đa thủ tục phê duyệt các hội thảo khoa học quốc tế, tiếp nhận chuyển giao công nghệ và quản lý đoàn ra, đoàn vào, tạo điều kiện thuận lợi nhất để các tổ chức nhân dân phản ứng nhanh trước các biến động công nghệ (Bộ Chính trị. 2026).
Hai là, hiện đại hóa thông tin đối ngoại nhân dân và xây dựng hệ sinh thái truyền thông số. Ứng dụng mạnh mẽ trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn để thiết lập một nền tảng dữ liệu dùng chung và ‘bản đồ đối tác’ quốc tế dùng chung trong toàn hệ thống đối ngoại. Đây là cơ sở để kết nối chính xác nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp, địa phương với các chuyên gia, trí thức kiều bào trên toàn cầu, khắc phục tình trạng phân tán thông tin. Đồng thời, chủ động thông tin đúng đắn để bảo vệ an ninh văn hóa số và chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, ngăn ngừa các hoạt động chống phá tinh vi núp bóng hữu nghị nhân dân (Bộ Chính trị. 2024).
Ba là, đổi mới phương thức vận động kiều bào, trí thức và xây dựng các mạng lưới dự án linh hoạt. Chuyển từ tư duy kêu gọi kiều bào về nước cống hiến lâu dài sang cơ chế “đồng kiến tạo giá trị” sòng phẳng và có tính thích ứng cao. Thiết lập các nhóm công tác trực tuyến, hội đồng tư vấn khoa học linh hoạt để kiều bào trẻ, các nhà khoa học hàng đầu có thể tham gia hiến kế, chuyển giao công nghệ lõi (bán dẫn, AI) từ xa cho đất nước mà không bị ràng buộc bởi địa giới hành chính, tạo lập môi trường hợp tác mở và cởi mở (Ban Bí thư. 2025).
Bốn là, phát triển lực lượng đối ngoại nhân dân chuyên nghiệp, hiện đại, đa chủ thể và xây dựng mạng lưới “đại sứ xã hội”. Chú trọng đào tạo cán bộ đối ngoại tinh thông nghiệp vụ đa phương và kỹ năng số. Đồng thời, phát huy vai trò của giới khoa học, doanh nhân trẻ, nghệ sĩ, những người có uy tín và ảnh hưởng lớn trên không gian số để làm những sứ giả quảng bá văn hóa, thu hút đầu tư, kết nối chuyển giao tri thức mới, góp phần định hình một “không gian văn hóa Việt toàn cầu” vững chắc, nâng cao sức hấp dẫn và uy tín mềm quốc gia (Ban Bí thư. 2022; Ban Bí thư. 2026).
6. Kết luận
Khai thác nguồn lực tri thức và công nghệ quốc tế phục vụ chuyển đổi số thông qua kênh đối ngoại nhân dân là nhiệm vụ vừa mang tính chiến lược lâu dài, vừa có tính cấp bách trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ. Kế thừa triết lý lấy Nhân dân làm gốc của tư tưởng Hồ Chí Minh, công tác đối ngoại nhân dân trong kỷ nguyên mới cần được đổi mới toàn diện cả về tư duy và hành động, đáp ứng yêu cầu bứt tốc và bứt phá của đất nước trong chặng đường mới.
Khi những điểm nghẽn thể chế được tháo gỡ, nguồn lực của 6 triệu kiều bào được quy tụ và mạng lưới hơn 1.200 đối tác quốc tế được khai thác có trọng tâm, đối ngoại nhân dân sẽ tiếp tục khẳng định vai trò là trụ cột vững chắc, phối hợp cùng đối ngoại đảng và ngoại giao nhà nước đưa đất nước vươn mình bứt phá, hiện thực hóa khát vọng phát triển độc lập, phồn vinh và hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn.
Tài liệu tham khảo:
Bài viết trong khuôn khổ nghiên cứu của nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ năm 2026: “Công tác đối ngoại nhân dân của Việt Nam trong kỷ nguyên mới: vấn đề và giải pháp”. Mã nhiệm vụ BNG/NV/2026-05.
Ban Bí thư (2022). Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 05/01/2022 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả đối ngoại nhân dân trong tình hình mới.
Ban Bí thư (2025). Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 26/8/2025 về công tác phi chính phủ nước ngoài.
Ban Bí thư (2026). Dự thảo Chỉ thị của Ban Bí thư về nâng tầm công tác đối ngoại nhân dân.
Bộ Chính trị (2026). Quy định số 392-QĐ/TW ngày 06/01/2026 về việc quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
Lê Đình Tĩnh (2026). Đối ngoại góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa: quan điểm và một số giải pháp. Tạp chí Lý luận chính trị, số 6/2026.
Tô Lâm (2024). Cơ sở định vị mục tiêu đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới và các định hướng chiến lược. https://special.nhandan.vn/dinh_vi_muc_tieu_dua_dat_nuoc_buoc_vao_ky_nguyen_moi_va_nhung_dinh_huong_chien_luoc/index.html.
Trần Đắc Lợi (2019). Công tác đối ngoại nhân dân ở nước ta: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.



