The role of commune-level governments in green economic development governance: evidence from Hue City
TS. Ngô Quang Tuệ
Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại Đà Nẵng
(Quanlynhanuoc.vn) – Phát triển kinh tế xanh đang trở thành xu hướng tất yếu nhằm bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Trong bối cảnh thành phố Huế định hướng xây dựng đô thị di sản, văn hóa và sinh thái, việc nâng cao vai trò của chính quyền cấp xã trong quản trị phát triển kinh tế xanh trở thành yêu cầu cấp thiết. Trên cơ sở làm rõ nội hàm của quản trị phát triển kinh tế xanh và vai trò của chính quyền cấp xã trong tổ chức thực hiện chính sách, điều phối nguồn lực, huy động sự tham gia của cộng đồng và giám sát quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển xanh, bài viết đánh giá thực trạng, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân chủ yếu, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản trị phát triển kinh tế xanh ở cấp cơ sở, nâng cao vai trò của chính quyền cấp xã và góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững ở thành phố Huế.
Từ khóa: Kinh tế xanh; quản trị phát triển kinh tế xanh; chính quyền cấp xã; phát triển bền vững; thành phố Huế.
Abstract: Green economic development is becoming an inevitable trend aimed at ensuring economic growth that is aligned with environmental protection and sustainable development. As the city of Hue moves toward building itself into a heritage, cultural, and ecological city, strengthening the role of commune-level authorities in the governance of green economic development has become an urgent priority. Based on a clarification of the essence of green economic development governance and the role of commune-level authorities in implementing policies, coordinating resources, mobilizing community participation, and monitoring the progress toward green development goals, this article assesses the current situation, highlights the achievements, limitations, and key causes, and thereby proposes solutions to improve green economic development governance at the grassroots level, enhance the role of commune-level governments, and contribute to achieving sustainable development goals in Hue City.
Keywords: Green economy; green economic development governance; commune-level government; sustainable development; Hue City.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững, phát triển kinh tế xanh đã trở thành xu hướng tất yếu của nhiều quốc gia nhằm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Ở Việt Nam, chủ trương phát triển kinh tế xanh được khẳng định trong nhiều văn kiện của Đảng, đặc biệt Văn kiện Đại hội XIV yêu cầu xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế mới theo hướng “Phát triển mạnh kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng” (Đảng Cộng sản Việt Nam. 2026). Đồng thời, Chính phủ đã ban hành Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã tạo cơ sở quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam.
Đối với thành phố Huế, định hướng xây dựng đô thị trực thuộc Trung ương theo mô hình đô thị di sản, văn hóa, sinh thái và thông minh đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị phát triển. Trong đó, chính quyền cấp xã giữ vai trò trực tiếp trong tổ chức thực hiện chính sách, điều phối nguồn lực, huy động sự tham gia của cộng đồng và giám sát các hoạt động phát triển kinh tế xanh tại cơ sở. Tuy nhiên, vai trò này vẫn còn những hạn chế về thể chế, nguồn lực và năng lực thực thi. Vì vậy, nghiên cứu vai trò của chính quyền cấp xã trong quản trị phát triển kinh tế xanh ở thành phố Huế có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị ở cấp cơ sở, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và chuyển đổi xanh trong giai đoạn hiện nay.
2. Quản trị phát triển kinh tế xanh và vai trò của chính quyền cấp xã trong quản trị phát triển kinh tế xanh
2.1. Khái quát về quản trị phát triển kinh tế xanh
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên thiên nhiên và những thách thức của mô hình tăng trưởng truyền thống, kinh tế xanh đã trở thành xu hướng phát triển được nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế quan tâm. Thuật ngữ “kinh tế xanh” (Green economy) được Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) phổ biến rộng rãi từ Báo cáo Kinh tế xanh năm 2011, theo đó kinh tế xanh là nền kinh tế mang lại sự cải thiện về phúc lợi của con người và công bằng xã hội, đồng thời giảm đáng kể các rủi ro môi trường và sự khan hiếm sinh thái (United Nations Environment Programme. 2011). UNEP cũng nhấn mạnh ba đặc trưng cốt lõi của kinh tế xanh là phát thải carbon thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo đảm tính bao trùm xã hội.
Có thể khái quát, kinh tế xanh là nền kinh tế hướng tới tăng trưởng và thịnh vượng xã hội trên cơ sở sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và bảo đảm phát triển bền vững. Từ khái niệm có thể thấy, kinh tế xanh có một số đặc trưng cơ bản, như: (1) Kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường; (2) Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên và năng lượng; (3) Thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn, công nghệ xanh và năng lượng tái tạo; (4) Giảm phát thải khí nhà kính, thích ứng với biến đổi khí hậu; và (5) Bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Tuy nhiên, việc hiện thực hóa các đặc trưng đó của kinh tế xanh không chỉ phụ thuộc vào định hướng phát triển mà còn đòi hỏi một phương thức quản trị phù hợp. Vì vậy, cần tiếp cận dưới góc độ quản trị phát triển kinh tế xanh, trong đó nhấn mạnh vai trò của các chủ thể trong tổ chức thực hiện, điều phối, huy động nguồn lực và giám sát phát triển kinh tế xanh hiện nay.
Quản trị phát triển kinh tế xanh là một khái niệm tương đối mới trong nghiên cứu về phát triển bền vững và quản trị công. Đến nay, chưa có một định nghĩa thống nhất; các tổ chức quốc tế và các nhà nghiên cứu chủ yếu tiếp cận khái niệm này từ góc độ quản trị, phát triển bền vững hoặc quản trị môi trường. Trên cơ sở kế thừa các quan điểm của UNEP, OECD, World Bank và chủ trương của Đảng, Nhà nước Việt Nam, có thể hiểu quản trị phát triển kinh tế xanh là quá trình các chủ thể quản trị, trước hết là Nhà nước và chính quyền địa phương, xây dựng thể chế, hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách, điều phối, huy động các nguồn lực và thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp, cộng đồng và các tổ chức xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế gắn với sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, giảm phát thải và phát triển bền vững.
Từ cách tiếp cận trên, quản trị phát triển kinh tế xanh có một số đặc trưng cơ bản sau: (1) Hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và tiến bộ xã hội; (2) Thực hiện quản trị theo hướng đa chủ thể, phát huy sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng; (3) Chú trọng điều phối và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển xanh; (4) Đề cao công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quá trình quản trị; (5) Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả quản trị. Trong đó, chính quyền cấp xã giữ vai trò chủ thể quản trị trực tiếp tổ chức thực hiện chính sách, điều phối nguồn lực và huy động sự tham gia của cộng đồng, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế xanh tại địa phương.
2.2. Vai trò của chính quyền cấp xã trong phát triển kinh tế xanh
Kinh tế xanh là mô hình phát triển đòi hỏi sự tham gia của nhiều chủ thể, trong đó, đặc biệt chính quyền cấp xã mới, giữ vai trò trực tiếp tổ chức thực hiện các mục tiêu phát triển xanh tại cộng đồng dân cư. Với vị trí cấp chính quyền gần dân nhất, chính quyền cấp xã không chỉ cầu nối đưa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn mà còn chủ thể huy động các nguồn lực xã hội, điều phối các hoạt động bảo vệ môi trường và thúc đẩy các mô hình phát triển kinh tế xanh ở địa phương. Vai trò này được thể hiện trên một số phương diện cơ bản sau:
Thứ nhất, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế xanh. Chính quyền cấp xã là cấp trực tiếp đưa các chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về tăng trưởng xanh vào thực tiễn địa phương. Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030 đặt mục tiêu giảm cường độ phát thải khí nhà kính trên GDP ít nhất 15% vào năm 2030 so với năm 2014, đồng thời xanh hóa các ngành kinh tế và lối sống (Thủ tướng Chính phủ. 2021a). Để hiện thực hóa mục tiêu này, chính quyền cấp xã có trách nhiệm xây dựng kế hoạch triển khai, tuyên truyền, phổ biến chính sách và hướng dẫn người dân thực hiện các hoạt động sản xuất, tiêu dùng thân thiện với môi trường. Đây là cầu nối quan trọng giữa chính sách quốc gia và hành động của cộng đồng dân cư.
Thứ hai, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển không gian sống xanh. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 giao cho chính quyền địa phương nhiều nhiệm vụ trong quản lý chất thải, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, kiểm soát ô nhiễm và phát triển kinh tế tuần hoàn. Chính quyền cấp xã trực tiếp tổ chức các hoạt động thu gom, phân loại chất thải, bảo vệ nguồn nước, đất đai và cảnh quan môi trường trên địa bàn. Theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2024, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại khu vực đô thị đạt khoảng 37.252,81 tấn/ngày; tỷ lệ thu gom và xử lý đạt 97,26%. Tuy nhiên, khoảng 64% lượng chất thải rắn sinh hoạt vẫn được xử lý bằng hình thức chôn lấp, phản ánh yêu cầu tiếp tục đổi mới công nghệ xử lý chất thải theo hướng tái chế, tái sử dụng và kinh tế tuần hoàn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường. 2025).Điều này cho thấy vai trò của chính quyền cấp xã trong quản lý môi trường có ý nghĩa quyết định đối với việc xây dựng cộng đồng xanh và phát triển bền vững.
Thứ ba, huy động nguồn lực xã hội và thúc đẩy các mô hình kinh tế xanh ở địa phương. Phát triển kinh tế xanh không thể chỉ dựa vào nguồn lực của Nhà nước mà cần sự tham gia của doanh nghiệp, người dân và các tổ chức xã hội. Với lợi thế gần dân, am hiểu địa bàn, chính quyền cấp xã giữ vai trò kết nối các chủ thể, hỗ trợ phát triển các mô hình nông nghiệp sạch, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng và kinh tế tuần hoàn phù hợp với điều kiện địa phương. Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030 xác định cần “Khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân, tạo điều kiện thuận lợi cho các hình thức hợp tác giữa Nhà nước và tư nhân, giữa các nhà đầu tư trong và ngoài nước trong các dự án xanh” (Thủ tướng Chính phủ. 2021b).Đây là lĩnh vực mà chính quyền cấp xã giữ vai trò hỗ trợ và tổ chức thực hiện trực tiếp.
Thứ tư, thúc đẩy chuyển đổi số phục vụ phát triển kinh tế xanh. Chuyển đổi số là công cụ quan trọng giúp chính quyền cấp xã nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên, giám sát môi trường, cung cấp dịch vụ công trực tuyến và hỗ trợ phát triển các mô hình kinh tế xanh. Thông qua ứng dụng cơ sở dữ liệu số, nền tảng số và công nghệ thông minh, chính quyền địa phương có thể tăng cường minh bạch thông tin, kết nối người dân, doanh nghiệp với các hoạt động sản xuất, tiêu dùng xanh. Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đặt mục tiêu đến năm 2030 kinh tế số đạt khoảng 30% GDP, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và chuyển đổi số trong phát triển các ngành kinh tế xanh (Thủ tướng Chính phủ. 2021c).
Thứ năm, kiểm tra, giám sát và bảo đảm thực hiện các mục tiêu phát triển xanh. Bên cạnh vai trò tổ chức thực hiện, điều phối, huy động nguồn lực, chính quyền cấp xã còn là chủ thể trực tiếp kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định về môi trường, sử dụng tài nguyên và phát triển bền vững trên địa bàn. Thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra, tiếp nhận phản ánh của người dân và phối hợp với các cơ quan chức năng, chính quyền cấp xã góp phần phòng ngừa các hành vi gây ô nhiễm môi trường, khai thác tài nguyên trái phép và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
3. Thực trạng vai trò của chính quyền cấp xã trong thúc đẩy phát triển kinh tế xanh ở thành phố Huế
3.1. Những kết quả đạt được
Thứ nhất, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế xanh ở cấp cơ sở ngày càng hiệu quả.
Thời gian qua, chính quyền cấp xã trên địa bàn thành phố Huế đã chủ động cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và thành phố về tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững thông qua việc lồng ghép các mục tiêu phát triển kinh tế xanh vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, chương trình xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh phù hợp với điều kiện của từng địa phương. Đồng thời, chính quyền cấp xã đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn và hỗ trợ người dân phát triển nông nghiệp sạch, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng và các hoạt động sản xuất, kinh doanh thân thiện với môi trường. Qua đó, nhận thức, trách nhiệm và sự tham gia của cộng đồng trong phát triển kinh tế xanh từng bước được nâng cao, tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh tại địa phương.
Thứ hai, công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và xây dựng cộng đồng xanh có nhiều chuyển biến tích cực.
Chính quyền cấp xã trên địa bàn thành phố Huế đã chú trọng gắn công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường với mục tiêu phát triển kinh tế xanh. Nhiều địa phương đã triển khai các hoạt động phân loại chất thải tại nguồn, giảm thiểu rác thải nhựa, bảo vệ nguồn nước và cảnh quan sinh thái, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch xanh, du lịch cộng đồng và các mô hình sinh kế thân thiện với môi trường. Đặc biệt, thông qua Dự án “Huế – Đô thị giảm nhựa” giai đoạn 2021 – 2026 đã “góp phần giảm 933,6 tấn rác thải nhựa thất thoát ra môi trường tự nhiên” (WWF – Việt Nam. (2026). Đồng thời, Huế đặt mục tiêu giảm 100% rác thải nhựa vào năm 2030 (Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc. 2023), qua đó từng bước xây dựng cộng đồng xanh và nền kinh tế tuần hoàn. Bên cạnh, năm 2026, thành phố Huế tiếp tục triển khai Bộ tiêu chí du lịch xanh, phát triển mô hình du lịch không rác thải nhựa dùng một lần và hỗ trợ phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng (Ủy ban nhân dân thành phố Huế. 2025), góp phần nâng cao chất lượng môi trường và thúc đẩy phát triển kinh tế xanh bền vững.
Thứ ba, cơ chế huy động sự tham gia của người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội trong phát triển kinh tế xanh từng bước được phát huy.
Trên cơ sở các định hướng phát triển tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và du lịch bền vững của thành phố Huế, chính quyền cấp xã đã tích cực vận động người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội tham gia phát triển các mô hình kinh tế xanh tại địa phương. Nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp sạch, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái (nông nghiệp, đầm phá, làng quê, kết hợp với di sản), giảm thiểu rác thải nhựa và tái chế chất thải đã từng bước được triển khai, góp phần tạo sinh kế bền vững cho người dân. Đặc biệt, thành phố Huế là địa phương tiên phong thực hiện các sáng kiến giảm nhựa và kinh tế tuần hoàn, qua đó thúc đẩy sự tham gia rộng rãi của cộng đồng trong quá trình phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, từng bước hình thành nền tảng cho phát triển kinh tế xanh ở cơ sở.
Thứ tư, ứng dụng chuyển đổi số trong quản trị và điều hành phát triển kinh tế xanh ngày càng được đẩy mạnh.
Trong những năm qua, chính quyền cấp xã trên địa bàn thành phố Huế đã từng bước ứng dụng công nghệ số vào quản trị, điều hành và triển khai các mục tiêu phát triển kinh tế xanh thông qua nền tảng Hue-S và Trung tâm Giám sát, điều hành đô thị thông minh (IOC). Đến nay, IOC đã vận hành gần 20 dịch vụ đô thị thông minh phục vụ quản lý môi trường, phản ánh hiện trường, quy hoạch đất đai, du lịch, giao thông và các dịch vụ công trực tuyến, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị địa phương. Đồng thời, năm 2022, Huế được xếp thứ 4/63 tỉnh, thành phố về Chỉ số chuyển đổi số (DTI) (Phan Quốc Sơn. 2023a), tạo nền tảng quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế xanh theo hướng hiện đại và bền vững.
Thứ năm, cơ chế phối hợp, kiểm tra, giám sát và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xanh ngày càng được ang cường.
Cùng với việc triển khai các chương trình phát triển kinh tế xanh, chính quyền cấp xã trên địa bàn thành phố Huế ngày càng chú trọng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường, sử dụng tài nguyên và các mô hình phát triển xanh tại địa phương. Thông qua các hoạt động giám sát cộng đồng, tiếp nhận phản ánh hiện trường trên nền tảng số Hue-S và sự phối hợp của các tổ chức chính trị – xã hội, nhiều vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường, quản lý chất thải và bảo vệ cảnh quan được phát hiện, xử lý kịp thời. Qua đó, ý thức chấp hành pháp luật của người dân và doanh nghiệp được nâng lên, góp phần bảo đảm các mục tiêu phát triển kinh tế xanh từng bước được thực hiện hiệu quả và bền vững tại cơ sở.
3.2. Những hạn chế, bất cập
Một là, việc triển khai chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xanh ở chính quyền cấp xã còn chậm và thiếu đồng bộ.
Mặc dù các chủ trương, chính sách về tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và kinh tế tuần hoàn đã được triển khai đến cấp cơ sở, song việc cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch và mô hình phát triển kinh tế xanh ở một số xã còn chậm và thiếu đồng bộ. Nội dung phát triển kinh tế xanh chủ yếu tập trung vào bảo vệ môi trường, xây dựng cảnh quan xanh hoặc các hoạt động tuyên truyền, trong khi việc thúc đẩy các ngành, lĩnh vực tạo giá trị gia tăng theo hướng xanh như nông nghiệp hữu cơ, du lịch sinh thái, kinh tế tuần hoàn và đổi mới sáng tạo còn hạn chế. Do đó, đóng góp của kinh tế xanh vào tăng trưởng kinh tế địa phương và tạo sinh kế bền vững cho người dân vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và định hướng phát triển của thành phố Huế.
Hai là, hiệu quả quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế tuần hoàn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xanh.
Mặc dù công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trên địa bàn thành phố Huế đã có nhiều chuyển biến tích cực, song ở một số địa phương, việc khai thác và sử dụng tài nguyên vẫn chưa thực sự gắn với mục tiêu phát triển kinh tế xanh. Hoạt động phân loại chất thải tại nguồn, tái chế và tái sử dụng chất thải chưa được triển khai đồng bộ; tình trạng ô nhiễm môi trường tại một số khu vực dân cư, điểm du lịch và làng nghề vẫn còn xảy ra. Bên cạnh đó, việc phát huy giá trị tài nguyên sinh thái, cảnh quan và môi trường để phát triển du lịch xanh, kinh tế tuần hoàn và các mô hình sinh kế bền vững còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng và định hướng phát triển xanh của thành phố Huế.
Ba là, các mô hình kinh tế xanh và sự tham gia của cộng đồng chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển.
Mặc dù thành phố Huế có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế xanh với hơn 500 lễ hội, trong đó có 58 lễ hội tiêu biểu, cùng hệ thống làng nghề truyền thống, du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng phong phú (Ủy ban nhân dân thành phố Huế. 2023), song việc phát triển các mô hình kinh tế xanh ở cấp xã vẫn chủ yếu ở quy mô nhỏ, thiếu tính liên kết và chưa hình thành chuỗi giá trị bền vững. Bên cạnh đó, các mô hình kinh tế tuần hoàn, tái chế và sử dụng hiệu quả tài nguyên còn phát triển chậm, điều đó cho thấy sự tham gia của người dân, doanh nghiệp và hợp tác xã vào phát triển kinh tế xanh vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển của địa phương.
Bốn là, ứng dụng chuyển đổi số trong quản trị phát triển kinh tế xanh ở cấp cơ sở chưa đồng bộ và chưa khai thác hiệu quả dữ liệu số.
Mặc dù tỉnh Thừa Thiên Huế đạt nhiều kết quả tích cực trong chuyển đổi số, với Chỉ số chuyển đổi số (DTI) năm 2022 xếp thứ 4/63 tỉnh, thành phố, trong đó đứng thứ 2 về chính quyền số, thứ 4 về kinh tế số và thứ 6 về xã hội số (Phan Quốc Sơn. 2023b), song những kết quả này chưa được phát huy đồng đều trong quản trị phát triển kinh tế xanh ở cấp cơ sở. Việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, giám sát các mục tiêu phát triển xanh và cung cấp dịch vụ công còn thiếu tính đồng bộ; cơ chế kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu dùng chung giữa các cơ quan, địa phương chưa thật sự hiệu quả. Do đó, dữ liệu số chưa được khai thác hiệu quả để hỗ trợ công tác dự báo, hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát các mục tiêu phát triển kinh tế xanh ở cấp xã.
Năm là, công tác phối hợp, giám sát, đánh giá và trách nhiệm giải trình trong quản trị phát triển kinh tế xanh còn hạn chế.
Mặc dù chính quyền cấp xã đã tổ chức triển khai các chương trình phát triển kinh tế xanh trên địa bàn, song công tác phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, hợp tác xã và cộng đồng dân cư trong tổ chức thực hiện còn thiếu chặt chẽ. Hoạt động kiểm tra, giám sát chủ yếu tập trung vào các vấn đề môi trường, trong khi việc theo dõi, đánh giá hiệu quả của các mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và sinh kế bền vững chưa được thực hiện thường xuyên. Ngoài ra, hệ thống tiêu chí đánh giá, cơ sở dữ liệu và cơ chế giám sát phục vụ quản trị phát triển kinh tế xanh ở cấp cơ sở còn thiếu và chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi các mục tiêu tăng trưởng xanh trên địa bàn thành phố Huế.
3.3. Nguyên nhân của hạn chế, bất cập
Thứ nhất, nhận thức và năng lực triển khai phát triển kinh tế xanh của một bộ phận cán bộ, công chức và người dân còn hạn chế.
Mặc dù phát triển kinh tế xanh đã trở thành định hướng quan trọng trong chiến lược phát triển của thành phố Huế, song nhận thức của một bộ phận cán bộ, công chức cấp xã và người dân về nội dung, mục tiêu và yêu cầu của mô hình này vẫn chưa đầy đủ. Nhiều người vẫn xem kinh tế xanh chủ yếu là hoạt động bảo vệ môi trường, chưa nhận thức rõ đây là mô hình phát triển kinh tế gắn với đổi mới sáng tạo, sử dụng hiệu quả tài nguyên và nâng cao chất lượng tăng trưởng. Bên cạnh đó, năng lực tham mưu, tổ chức thực hiện và hướng dẫn triển khai các mô hình kinh tế xanh ở một số địa phương còn hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện các mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững tại cơ sở.
Thứ hai, thể chế, cơ chế và chính sách triển khai quản trị phát triển kinh tế xanh ở cấp cơ sở còn thiếu đồng bộ.
Thời gian qua, thành phố Huế đã ban hành nhiều chủ trương, chương trình và kế hoạch về tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và kinh tế tuần hoàn, song việc cụ thể hóa và triển khai ở cấp cơ sở vẫn còn một số bất cập. Hệ thống chính sách liên quan đến phát triển kinh tế xanh chưa thực sự đồng bộ, thiếu các hướng dẫn cụ thể về tổ chức thực hiện và tiêu chí đánh giá phù hợp với điều kiện của từng địa phương. Bên cạnh đó, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị và chính quyền cấp xã trong triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế xanh còn hạn chế; nguồn lực tài chính và chính sách hỗ trợ chưa đáp ứng yêu cầu, ảnh hưởng đến hiệu quả thúc đẩy phát triển kinh tế xanh trên địa bàn thành phố Huế.
Thứ ba, nguồn lực tài chính, nhân lực, khoa học – công nghệ và hạ tầng số chưa đáp ứng yêu cầu quản trị phát triển kinh tế xanh.
Phát triển kinh tế xanh đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn, đội ngũ nhân lực có chuyên môn và sự hỗ trợ của khoa học – công nghệ hiện đại. Tuy nhiên, ở nhiều địa phương trên địa bàn thành phố Huế, nguồn kinh phí dành cho các chương trình, dự án phát triển kinh tế xanh còn hạn chế, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước và các dự án hỗ trợ. Mặt khác, năng lực chuyên môn của một bộ phận cán bộ, công chức cấp xã về tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi số chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Việc ứng dụng khoa học – công nghệ và hạ tầng số vào sản xuất, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường còn chậm, ảnh hưởng đến hiệu quả thúc đẩy phát triển kinh tế xanh tại cơ sở.
Thứ tư, cơ chế huy động sự tham gia của doanh nghiệp, cộng đồng và các tổ chức xã hội trong quản trị phát triển kinh tế xanh còn hạn chế.
Phát triển kinh tế xanh đòi hỏi sự tham gia tích cực của doanh nghiệp, hợp tác xã và cộng đồng dân cư trong quá trình chuyển đổi mô hình sản xuất, tiêu dùng và quản lý tài nguyên theo hướng bền vững. Tuy nhiên, tại nhiều địa phương trên địa bàn thành phố Huế, mức độ tham gia của các chủ thể này vẫn còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư vào các mô hình sản xuất xanh, kinh tế tuần hoàn hoặc ứng dụng công nghệ thân thiện với môi trường do chi phí đầu tư cao và thời gian thu hồi vốn dài. Ngoài ra, một bộ phận người dân còn tâm lý trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa chủ động tham gia các hoạt động phát triển kinh tế xanh, làm giảm hiệu quả thực hiện các mục tiêu tăng trưởng xanh ở địa phương.
Thứ năm, cơ chế phối hợp, chia sẻ dữ liệu, kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình trong quản trị phát triển kinh tế xanh chưa đáp ứng yêu cầu.
Phát triển kinh tế xanh là lĩnh vực liên ngành, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, cơ chế phối hợp, chia sẻ dữ liệu và kết nối thông tin giữa các chủ thể ở cấp cơ sở vẫn chưa đồng bộ, trong khi trách nhiệm của từng chủ thể trong thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xanh chưa được phân định rõ. Mặt khác, công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá chủ yếu tập trung vào lĩnh vực bảo vệ môi trường, chưa chú trọng theo dõi hiệu quả của các mô hình kinh tế xanh và kết quả thực hiện các mục tiêu tăng trưởng xanh. Những hạn chế này làm giảm hiệu quả điều phối, giám sát và trách nhiệm giải trình trong quản trị phát triển kinh tế xanh ở cấp cơ sở.
4. Giải pháp và đề xuất chính sách
Một là, hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện phát triển kinh tế xanh ở cấp cơ sở.
Chính quyền cấp xã cần chủ động cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Trung ương, thành phố Huế về tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững thành các chương trình, kế hoạch phù hợp với điều kiện của từng địa phương. Cần lồng ghép các mục tiêu phát triển kinh tế xanh vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, chương trình xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh. Đồng thời, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức và cộng đồng trong triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế xanh; xây dựng các tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện phù hợp với đặc thù cấp xã nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện trong thực tiễn.
Hai là, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong quản trị phát triển kinh tế xanh.
Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã giữ vai trò trực tiếp trong huy động, điều phối và tổ chức thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xanh. Vì vậy, cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và chuyển đổi số cho đội ngũ này. Thành phố Huế cần xây dựng các chương trình tập huấn chuyên sâu gắn với thực tiễn địa phương, đồng thời khuyến khích cán bộ, công chức chủ động tiếp cận các mô hình phát triển xanh hiệu quả trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực tham mưu, điều phối và huy động nguồn lực nhằm giúp chính quyền cấp xã thực hiện tốt hơn vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế xanh.
Ba là, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính, nhân lực và khoa học – công nghệ cho quản trị phát triển kinh tế xanh.
Phát triển kinh tế xanh đòi hỏi sự bảo đảm đồng bộ về nguồn lực tài chính, nhân lực và khoa học – công nghệ. Vì vậy, chính quyền cấp xã cần chủ động phối hợp với các cơ quan chuyên môn, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu và các tổ chức xã hội để huy động, lồng ghép và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phục vụ quản trị phát triển kinh tế xanh. Bên cạnh việc khai thác hiệu quả nguồn ngân sách nhà nước, cần khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất sạch, du lịch xanh, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi số; đồng thời chú trọng nâng cấp hạ tầng số, cơ sở dữ liệu và ứng dụng khoa học – công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, điều hành và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xanh ở cấp cơ sở.
Bốn là, hoàn thiện cơ chế huy động sự tham gia của doanh nghiệp, cộng đồng và các tổ chức xã hội trong quản trị phát triển kinh tế xanh.
Chính quyền cấp xã cần xây dựng và hoàn thiện cơ chế khuyến khích, phối hợp và tạo điều kiện để doanh nghiệp, hợp tác xã, cộng đồng dân cư và các tổ chức xã hội tham gia vào quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện và giám sát các chương trình, dự án phát triển kinh tế xanh. Đồng thời, đẩy mạnh công khai thông tin, tăng cường đối thoại và tham vấn cộng đồng nhằm phát huy vai trò đồng hành của các chủ thể trong quản trị phát triển kinh tế xanh. Bên cạnh, cần phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội trong tuyên truyền, vận động, giám sát và phản biện xã hội, góp phần tạo sự đồng thuận, huy động nguồn lực xã hội và nâng cao hiệu quả quản trị phát triển kinh tế xanh ở địa phương.
Năm là, đẩy mạnh chuyển đổi số, hoàn thiện cơ chế chia sẻ dữ liệu, tăng cường công khai, minh bạch và nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát trong quản trị phát triển kinh tế xanh.
Chính quyền cấp xã cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và theo dõi việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xanh. Đồng thời, hoàn thiện cơ chế kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu dùng chung, bảo đảm thông tin được cập nhật, đồng bộ và phục vụ kịp thời công tác quản trị, điều hành. Mặt khác, cần tăng cường công khai, minh bạch trong quá trình xây dựng và thực hiện các chương trình phát triển kinh tế xanh; hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá và trách nhiệm giải trình của các chủ thể liên quan. Qua đó, nâng cao hiệu quả quản trị, tăng cường sự tham gia của người dân và góp phần thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế xanh ở cấp cơ sở.
Sáu là, phát triển và nhân rộng các mô hình kinh tế xanh phù hợp với đặc thù đô thị di sản, văn hóa và sinh thái của thành phố Huế.
Trên cơ sở lợi thế về di sản văn hóa, cảnh quan thiên nhiên và hệ sinh thái đặc trưng, chính quyền cấp xã cần chủ động lựa chọn, phát triển và nhân rộng các mô hình kinh tế xanh phù hợp với điều kiện của từng địa phương. Trọng tâm là phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch di sản gắn với các làng nghề truyền thống và sản phẩm OCOP; mở rộng các mô hình nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế tuần hoàn và các hoạt động sản xuất, kinh doanh theo hướng giảm phát thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên. Đồng thời, cần tổng kết, đánh giá và nhân rộng các mô hình hoạt động hiệu quả, góp phần tạo sinh kế bền vững, nâng cao giá trị kinh tế và thúc đẩy quản trị phát triển kinh tế xanh phù hợp với định hướng đô thị di sản, văn hóa và sinh thái của thành phố Huế.
5. Kết luận
Phát triển kinh tế xanh là xu hướng tất yếu nhằm bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Kết quả nghiên cứu cho thấy chính quyền cấp xã giữ vai trò quan trọng trong việc triển khai các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xanh, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, huy động sự tham gia của cộng đồng và thúc đẩy các mô hình kinh tế xanh tại cơ sở. Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình thực hiện vẫn còn một số hạn chế về thể chế, nguồn lực, năng lực quản trị và sự tham gia của các chủ thể liên quan. Vì vậy, cần đồng bộ các giải pháp về hoàn thiện chính sách, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, huy động nguồn lực xã hội, đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển các mô hình kinh tế xanh phù hợp với đặc thù từng địa phương. Đây là cơ sở quan trọng góp phần xây dựng thành phố Huế theo định hướng đô thị di sản, văn hóa, sinh thái và phát triển bền vững.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025). Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2024: Môi trường đô thị và các khu công nghiệp Việt Nam – Thực trạng và giải pháp, tr. 33.
Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (2023). Hướng đến xây dựng kinh tế tuần hoàn ở tỉnh Thừa Thiên Huế – Nghiên cứu dòng vật liệu để đánh giá tác động kinh tế – xã hội và môi trường, UNDP. 92.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 182.
Thủ tướng Chính phủ (2021a). Quyết định 1658/QĐ-TTg Phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050, tr. 2.
Thủ tướng Chính phủ (2021b). Quyết định 1658/QĐ-TTg Phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050, tr. 13.
Thủ tướng Chính phủ (2021c). Quyết định 1658/QĐ-TTg Phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050, tr. 3.
Phan Quốc Sơn (2023a). Phát triển kinh tế xanh và bền vững gắn với chuyển đổi số tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Diễn đàn Quốc tế Huế: Huế – Công nghệ thông tin – Thúc đẩy phát triển bền vững, 01/12/2023, tr. 11.
Phan Quốc Sơn (2023b). Phát triển kinh tế xanh và bền vững gắn với chuyển đổi số tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Diễn đàn Quốc tế Huế: Huế – Công nghệ thông tin – Thúc đẩy phát triển bền vững, 01/12/2023, tr. 11.
Ủy ban nhân dân thành phố Huế (2023). Báo cáo tổng hợp quy hoạch tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050, 11/2023, tr. 185.
Ủy ban nhân dân thành phố Huế (2025). Kế hoạch số 484/KH-UBND ngày 23/12/2025 về Thực hiện Chương trình phát triển văn hoá, du lịch – dịch vụ thành phố Huế năm 2026, tr. 6.
United Nations Environment Program (2011). Towards a Green Economy: Pathways to Sustainable Development and Poverty Eradication. Nairobi: UNEP. 16.
WWF – Việt Nam. (2026). Hội thảo tổng kết Dự án “Huế – Đô thị giảm nhựa ở miền Trung Việt Nam” giai đoạn 2021 – 2026, ngày 23/5/2026.



