Pháp luật về bảo mật thông tin người tiêu dùng sử dụng dịch vụ ngân hàng số ở Việt Nam

Legal framework for the protection of consumer information in digital banking services in Vietnam

ThS. Trần Thế Hệ
NCS Trường Đại học Luật, Đại học Huế
Email: tranthehe@hueuni.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong thời đại công nghệ số, sự ra đời và phát triển của các ngân hàng số là xu thế tất yếu. Bên cạnh nhiều lợi ích, việc sử dụng dịch vụ ngân hàng số cũng tiềm ẩn những rủi ro, đặc biệt liên quan đến bảo mật thông tin của người tiêu dùng. Thông tin cá nhân và dữ liệu tài chính của khách hàng có thể bị truy cập trái phép, đánh cắp hoặc lợi dụng để lừa đảo. Bài viết phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về bảo mật thông tin người tiêu dùng khi sử dụng dịch vụ ngân hàng số ở Việt Nam, chỉ ra một số hạn chế, bất cập và đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.

Từ khóa: Ngân hàng số; người tiêu dùng; bảo mật; thông tin người tiêu dùng; sử dụng.

Abstract: In the digital age, the emergence and development of digital banks have become an inevitable trend. In addition to its many benefits, the use of digital banking services also poses potential risks, particularly those related to the security of consumer information. Customers’ personal information and financial data may be accessed without authorization, stolen, or exploited for fraudulent purposes. This article analyzes the current legal regulations on the protection of consumer information in the use of digital banking services in Vietnam, identifies several limitations and shortcomings, and proposes recommendations to improve the legal framework in this field.

Keywords: Digital banking; consumers; security; consumer information security; use.

1. Đặt vấn đề

Cách mạng công nghiệp 4.0, với sự kết hợp của công nghệ số đã và đang tác động sâu rộng đến lĩnh vực ngân hàng. Trong bối cảnh đó, dịch vụ ngân hàng số ngày càng trở nên phổ biến, giúp các chủ thể dễ dàng thực hiện các nhu cầu tài chính, ngân hàng của mình. Tuy nhiên, việc sử dụng dịch vụ ngân hàng số cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro liên quan đến bảo mật thông tin và dữ liệu tài chính của người tiêu dùng. Bảo mật thông tin của người tiêu dùng khi sử dụng dịch vụ ngân hàng nói chung và dịch vụ ngân hàng số nói riêng là một quyền luật định. Tuy nhiên, trên thực tế, quyền này vẫn bị xâm phạm thông qua các hành vi truy cập trái phép, đánh cắp hoặc lợi dụng dữ liệu vì mục đích trục lợi. Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, bài viết tập trung phân tích, làm rõ các quy định pháp luật hiện hành về bảo mật thông tin của người tiêu dùng trong dịch vụ ngân hàng số, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam.

2. Ngân hàng số và bảo mật thông tin người tiêu dùng sử dụng dịch vụ ngân hàng số

Trong bối cảnh hiện nay, ngân hàng số đã trở nên phổ biến trong đời sống kinh tế – xã hội. Tương tự như ngân hàng truyền thống, theo khoản 17 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 được sửa đổi, bổ sung năm 2025, ngân hàng số vẫn thực hiện các hoạt động ngân hàng cơ bản như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Tuy nhiên, điểm khác biệt cốt lõi là trong khi ngân hàng truyền thống chủ yếu tiến hành giao dịch thông qua các điểm giao dịch vật lý, thì ngân hàng số lại cung cấp sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng công nghệ số, thông qua Internet, điện thoại di động thông minh, máy tính bảng, thậm chí cả mạng xã hội (Thiếu Quang Hiệp, 2020, tr. 45-50).

Ngân hàng số  đã tích hợp, số hóa đối với toàn bộ quy trình và hoạt động của ngân hàng truyền thống, so với ngân hàng điện tử (E-banking) và ngân hàng trực tuyến (Online Banking) thì ngân hàng số có phạm vi rộng và toàn diện hơn. Trong khi E-banking chỉ bổ sung thêm một số tính năng cho các dịch vụ truyền thống như: chuyển tiền, thanh toán, tra cứu số dư tài khoản hay Online Banking thông qua kết nối internet tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng mọi lúc, mọi nơi thì ngân hàng số lại có tất cả mọi tính năng của một ngân hàng đích thực như: đăng ký trực tuyến, thanh toán, chuyển khoản, nhận tiền gửi, cho vay, quản lý tài khoản và các hình thức khác.

Có thể nói, công nghệ đã làm thay đổi các ngân hàng truyền thống về cách tiếp cận và phục vụ khách hàng. Đối với dịch vụ ngân hàng truyền thống thì khách hàng phải tìm kiếm ngân hàng để đáp ứng nhu cầu của mình nên ngân hàng là bên chiếm ưu thế, những sản phẩm, dịch vụ mà khách hàng sử dụng phụ thuộc vào khả năng cung ứng dịch vụ và “khẩu vị rủi ro” của từng ngân hàng. Đối với dịch vụ ngân hàng số thì hoàn toàn ngược lại, khách hàng trở thành chủ thể trung tâm nên ngân hàng phải chủ động tìm kiếm khách hàng để cung ứng dịch vụ. Đồng thời, ngân hàng số đã có sự thay đổi về cách thiết kế sản phẩm, quy trình, phương thức cung ứng dịch vụ tùy thuộc vào nhu cầu và thói quen của từng khách hàng. Bên cạnh đó, các dịch vụ được cung ứng bởi ngân hàng số có tốc độ nhanh, tiện lợi và thường có sự tham gia của bên thứ ba (là bên cung ứng dịch vụ công nghệ thông tin) (Nguyễn Xuân Bang, 2021, tr. 89-96).

Những năm gần đây, hệ sinh thái ngân hàng số tại Việt Nam phát triển mạnh mẽ, song hành với tiến trình chuyển đổi số quốc gia. Theo khảo sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đến nay hầu hết dịch vụ ngân hàng cơ bản đã được thực hiện trên kênh số, nhiều ngân hàng đạt tỷ lệ trên 95% giao dịch thực hiện trên kênh số. Số lượng tài khoản thanh toán của cá nhân đạt hơn 200 triệu tài khoản. Khoảng 57% tổ chức tín dụng đã thí điểm và triển khai rộng rãi mô hình chi nhánh tự phục vụ cho phép khách hàng thực hiện định danh, đăng ký thông tin sinh trắc học. Hầu hết ngân hàng đã ứng dụng dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI), học máy (Machine Learning), chuỗi khối (Blockchain) và đưa các dịch vụ tư vấn tự động 24/7 thông qua các hội thoại trên ứng dụng mobile, website. Hơn 70% các tổ chức tín dụng đã và đang triển khai hệ thống Data Warehouse (kho dữ liệu) để phục vụ chấm điểm tín dụng tự động, tối ưu hóa quy trình, nâng cao trải nghiệm khách hàng… (Thanh Phương, 2025).

Theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023: người tiêu dùng là người mua, sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức và không vì mục đích thương mại. Theo khoản 38 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024: Tổ chức tín dụng là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Như vậy, khách hàng sử dụng các dịch vụ do tổ chức tín dụng cung cấp để thỏa mãn mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, cơ quan và tổ chức trong các nghiệp vụ mà tổ chức tín dụng thực hiện được xem là người tiêu dùng sử dụng dịch vụ của tổ chức tín dụng. Quan hệ giữa người tiêu dùng với tổ chức tín dụng là mối quan hệ giữa bên sử dụng dịch vụ và bên cung cấp dịch vụ. Vì vậy, các quy định về bảo mật thông tin người tiêu dùng trong pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được quy định tại Điều 15, áp dụng trong lĩnh vực ngân hàng, là phù hợp.

Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa đưa ra định nghĩa về bảo mật thông tin người tiêu dùng sử dụng dịch vụ ngân hàng số mà chỉ có quy định về bảo mật thông tin khi cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng tại Điều 13 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024. Thông qua Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, có thể hiểu: bảo mật thông tin người tiêu dùng sử dụng dịch vụ ngân hàng số là việc ngân hàng áp dụng các lực lượng, phương tiện và biện pháp kỹ thuật, pháp lý nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi xâm phạm đến bí mật thông tin của người tiêu dùng trong quá trình sử dụng dịch vụ ngân hàng số.

Bảo mật thông tin người tiêu dùng sử dụng dịch vụ ngân hàng số là một phạm trù có tính chất liên ngành, liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau, như: Nhà nước (với vai trò xây dựng và thực thi pháp luật, chính sách), hệ thống ngân hàng (chủ thể trực tiếp cung ứng dịch vụ), các công ty công nghệ (đơn vị hỗ trợ giải pháp kỹ thuật), khách hàng (người tiêu dùng dịch vụ) và các chủ thể khác có liên quan (nhà cung cấp hạ tầng viễn thông, trung gian thanh toán, tổ chức tín dụng quốc tế,…). Bảo mật thông tin người tiêu dùng sử dụng dịch vụ ngân hàng số có thể chia thành hai nhóm sau: (1) Nhóm các hoạt động ngân hàng như bảo mật thông tin trong hoạt động huy động vốn, bảo mật thông tin trong hoạt động cấp tín dụng và bảo mật thông tin trong hoạt động thanh toán qua tài khoản; (2) Nhóm áp dụng công nghệ thông tin, công nghệ số trong quá trình cung cấp các dịch vụ ngân hàng.

Theo Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC), những rủi ro chính khi triển khai dịch vụ tài chính, ngân hàng số bao gồm: Rủi ro chiến lược, rủi ro hoạt động, rủi ro pháp lý, rủi ro công nghệ, rủi ro tài chính và rủi ro gian lận, trong đó rủi ro hoạt động, rủi ro công nghệ và rủi ro gian lận được coi là chủ yếu khi triển khai dịch vụ ngân hang số (Basel Committee on Banking Supervision, 2006). Chính vì vậy, cần áp dụng các biện pháp phòng chống các loại rủi ro này đối với hoạt động ngân hàng số.

3. Pháp luật về bảo mật thông tin người tiêu dùng sử dụng dịch vụ ngân hàng số

Trong lĩnh vực ngân hàng, pháp luật đã có những quy định riêng về bảo mật thông tin người tiêu dùng khi sử dụng các dịch vụ ngân hàng (cho dù đó là những dịch vụ ngân hàng truyền thống hay dịch vụ ngân hàng số), cụ thể, Điều 14 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 13 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 đã quy định về bảo mật thông tin khách hàng. Để cụ thể hóa Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 117/2018/NĐ-CP ngày 11/9/2018 về việc giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài với những vấn đề sau đây:

Thứ nhất, thông tin người tiêu dùng là một khái niệm rộng, nội dung cụ thể phụ thuộc vào từng quan hệ mà người tiêu dùng tham gia. Pháp luật ngân hàng quy định: thông tin người tiêu dùng chính là thông tin do khách hàng cung cấp, thông tin phát sinh trong quá trình khách hàng đề nghị hoặc được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cung ứng các nghiệp vụ ngân hàng, sản phẩm, dịch vụ trong hoạt động được phép, bao gồm thông tin định danh khách hàng và các thông tin sau: thông tin về tài khoản, thông tin về tiền gửi, thông tin về tài sản gửi, thông tin về giao dịch, thông tin về tổ chức, cá nhân là bên bảo đảm tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các thông tin có liên quan khác.

Khi đề cập thông tin người tiêu dùng, pháp luật về lĩnh vực ngân hàng sử dụng phương pháp liệt kê bao gồm các thông tin như đã nêu ở trên. Tuy nhiên, trong nguyên tắc giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng được quy định tại Điều 4 Nghị định số 117/2018/NĐ-CP lại nhắc đến một loại thông tin khác mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cung cấp trừ trường hợp có chấp thuận của khách hàng đó là “thông tin xác thực khách hàng khi truy cập vào các dịch vụ ngân hàng”. Trong định nghĩa “thông tin khách hàng” lại không nhắc đến loại thông tin này. Từ đó, có thể hiểu rằng “thông tin xác thực khách hàng” không được xem là “thông tin khách hàng” mà chỉ là “thông tin của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cung cấp cho khách hàng trong quá trình khách hàng truy cập các dịch vụ ngân hàng nhằm xác thực danh tính khách hàng sử dụng dịch vụ”.

Khoản 2 Điều 4 Nghị định này quy định các thông tin xác thực khách hàng bao gồm: mã khóa bí mật, dữ liệu sinh trắc học, mật khẩu truy cập của khách hàng và các thông tin xác thực khách hàng khác. Ngoại trừ mã khóa bí mật, mật khẩu truy cập, dữ liệu sinh trắc học là loại thông tin đặc biệt nhất. Không chỉ được xem là “thông tin xác thực của khách hàng” mà còn là thông tin về thuộc tính vật lý, đặc điểm sinh học của mỗi cá nhân, gắn liền với con người và được coi là dữ liệu cá nhân. Trong bối cảnh dữ liệu sinh trắc học (vân tay, mống mắt…) đang có xu hướng được sử dụng để tích hợp trong thẻ căn cước công dân và trở thành thông tin định danh thì việc không xếp dữ liệu sinh trắc học vào nhóm thông tin định danh được quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 117/2018/NĐ-CP là sự thiếu sót của pháp luật hiện hành khi quy định về các loại thông tin khách hàng.

Thứ hai, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin người tiêu dùng trong quá trình cung cấp, quản lý, sử dụng, lưu trữ thông tin. Quy định này được ghi nhận tại Điều 13 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, trên cơ sở đó Điều 4 và khoản 2 Điều 14 Nghị định số 117/2018/NĐ-CP quy định: tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có trách nhiệm “đảm bảo an toàn, bí mật thông tin khách hàng trong quá trình cung cấp, quản lý, sử dụng, lưu trữ thông tin khách hàng”. Đây là một nghĩa vụ quan trọng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nhằm bảo vệ lợi ích, quyền tự do riêng tư của khách hàng.

Thông qua hoạt động nghiệp vụ của mình, các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước sẽ nắm giữ rất nhiều thông tin của khách hàng như nghề nghiệp, tuổi tác, thu nhập, tình trạng hôn nhân, thói quen tiêu dùng… những thông tin khác như phương án sản xuất kinh doanh, doanh số hoạt động, mối quan hệ kinh doanh với đối tác, kết quả kinh doanh của khách hàng, các dữ liệu, số liệu có giá trị khác và các thông tin về bí mật kinh doanh. Đây là những thông tin rất quan trọng, nhạy cảm và là vũ khí lợi hại để đối thủ cạnh tranh trong kinh doanh khai thác (Nguyễn Thị Kim Thoa, 2019, tr.22-26). Do đó, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người tiêu dung là điều tất yếu, dưới phương diện là bên cung ứng dịch vụ ngân hàng cho khách hàng.

Với những quy định trên cho thấy, pháp luật hiện hành vẫn chưa có quy định về giới hạn các loại thông tin mà mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài yêu cầu khách hàng cung cấp khi thực hiện các giao dịch ngân hàng truyền thống và ngân hàng số. Thực tiễn thông qua hoạt động cho vay qua ứng dụng (APP) của công ty tài chính, nhiều APP yêu cầu khách hàng phải cho phép truy cập vào danh bạ điện thoại, các tài khoản mạng xã hội, chụp ảnh nhận diện,… để phục vụ cho việc thu hồi nợ về sau. Người vay chỉ biết cung cấp các thông tin, các loại giấy tờ theo yêu cầu của APP mà không được thông báo rõ ràng mục đích thu thập thông tin, không thể biết chắc chắn thông tin của họ cung cấp có được sử dụng đúng mục đích hay không. Trong quá trình thu thập thông tin để làm hồ sơ vay tiền, người tiêu dùng không được thông báo là các số điện thoại của người thân sẽ được sử dụng trong quá trình thu hồi nợ (nếu có) phát sinh về sau. Người tiêu dùng được thông báo là việc thu thập số điện thoại của người thân nhằm mục đích xác minh khoản vay, tuy nhiên, thực tế thì nhân viên thu hồi nợ thường xuyên và liên tục liên hệ với người thân để tác động kèm theo đe dọa và quấy nhiễu nhằm thu hồi nợ của khách hàng (Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công Thương, 2015).

Thứ ba, trách nhiệm khi tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài vi phạm quy định pháp luật về bảo mật thông tin người tiêu dùng. Theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 117/2018/NĐ-CP: “tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật đối với trường hợp vi phạm quy định của Nghị định này, pháp luật có liên quan” (ví dụ, chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật đối với việc làm lộ thông tin khách hàng, sử dụng thông tin khách hàng không đúng mục đích).

Như vậy, ngoại trừ các trường hợp pháp luật quy định cho phép được cung cấp thông tin khách hàng thì các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được phép làm lộ thông tin khách hàng. Theo đó, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 và các luật liên quan đều ghi nhận các chế tài mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ phải gánh chịu tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm như bị xử lý kỷ luật, phạt vi phạm hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự, phải bồi thường thiệt hại. Cụ thể, các quy định về trách nhiệm hành chính của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong vấn đề bảo mật thông tin khách hàng được quy định tại Nghị định số 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 143/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021; trách nhiệm dân sự với việc vi phạm nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có thể bị khởi kiện và bị yêu cầu bồi thường thiệt hại với các thiệt hại của khách hàng phát sinh từ hành vi vi phạm, dựa trên các điều khoản được giao kết trong hợp đồng giữa khách hàng và tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; trách nhiệm hình sự.

Qua tìm hiểu về trách nhiệm với khách hàng trong trường hợp trên, hiện nay Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 và các văn bản hướng dẫn thi hành đều không có quy định chi tiết về trường hợp này. Do đó, nếu trong hợp đồng giao dịch giữa tổ chức tín dụng và khách hàng không có thỏa thuận về trách nhiệm của tổ chức tín dụng khi nhân viên của tổ chức tín dụng tiết lộ thông tin trái quy định pháp luật thì khách hàng sẽ gặp nhiều khó khăn để yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Thứ tư, đối với cơ chế bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị định số 117/2018/NĐ-CP, khách hàng có quyền “khiếu nại, khởi kiện, yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật trong trường hợp cơ quan nhà nước, tổ chức khác, cá nhân, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cung cấp, sử dụng thông tin khách hàng không đúng quy định của pháp luật”. Như vậy, các quyền mà người tiêu dùng có thể sử dụng bao gồm quyền khiếu nại, quyền khởi kiện và quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, nhưng không bao gồm quyền tố cáo – một trong số các quyền chính đáng được sử dụng để bảo vệ quyền lợi, được quy định tại Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Tuy nhiên, trong quy định của Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010, các quyền mà Luật ghi nhận cho người tiêu dùng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bao gồm: “Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Theo quy định này, người tiêu dùng có cả “quyền tố cáo” để bảo vệ quyền lợi của mình”. Như vậy, phải chăng đã có sự không đồng bộ giữa Nghị định số 117/2018/NĐ-CP và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 về cơ chế bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Theo Luật Tố cáo năm 2018, hoạt động tố cáo bao gồm tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ và tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.

Như vậy, trong trường hợp cơ quan nhà nước, tổ chức tín dụng cung cấp, sử dụng thông tin khách hàng không đúng quy định, người tiêu dùng hoàn toàn có quyền thực hiện tố cáo các chủ thể trên vì đáp ứng các trường hợp được tố cáo theo Luật Tố cáo năm 2018. Tuy nhiên, Nghị định số 117/2018/NĐ-CP không quy định về quyền này, từ đó có thể gây ảnh hưởng đến hoạt động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, gây khó khăn trong công tác áp dụng pháp luật để giải quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

4. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo mật thông tin người tiêu dùng sử dụng dịch vụ ngân hàng số

Trong bối cảnh chuyển đổi số kinh tế nói chung và lĩnh vực ngân hàng nói riêng đang được đẩy mạnh thì những bất cập trong quy định pháp luật về bảo mật thông tin người tiêu dùng nêu trên có thể trở thành các rào cản cho quá trình phát triển dịch vụ ngân hàng số. Do đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị giải pháp sau đây:

Thứ nhất, Nghị định số 117/2018/NĐ-CP nên quy định theo hướng xếp “dữ liệu sinh trắc học” vào nhóm các thông tin định danh khách hàng và trở thành thông tin khách hàng được bảo mật chứ không chỉ là thông tin xác thực khách hàng, theo đó điểm a khoản 2 Điều 3 Nghị định số 117/2018/NĐ-CP cùng với những thông tin định danh khách hàng theo quy định thì nên bổ sung thêm “dữ liệu sinh trắc học” vào thông tin định danh khách hàng.

Như vậy, các dữ liệu sinh trắc học ngoài việc được bảo mật theo các quy tắc sử dụng dịch vụ, sẽ được tổ chức tín dụng đưa vào các quy định nội bộ về bảo mật thông tin khách hàng và được bảo mật chặt chẽ hơn, cũng như cho phép các tổ chức tín dụng được khai thác vào các mục đích khác phục vụ cho hoạt động kinh doanh ngoài mục đích xác thực. Khi sử dụng dữ liệu sinh trắc học của khách hàng trong các dịch vụ ngân hàng số, các tổ chức tín dụng có thể tích hợp dữ liệu này vào các công cụ phục vụ giao dịch (như thẻ ATM), qua đó phát triển dịch vụ ngân hàng số của mình. Mặt khác, điều này đòi hỏi tổ chức tín dụng cũng phải có biện pháp bảo vệ, giữ bí mật, cũng như cung cấp dữ liệu này một cách hợp lý.

Thứ hai, cần bổ sung thêm các quy định kiểm soát hoạt động thu thập thông tin “đầu vào” khi người tiêu dùng tham gia vào hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng. Trong Nghị định số 117/2018/NĐ-CP và văn bản quy định về hoạt động ngân hàng liên quan đến thủ tục gửi tiết kiệm, thủ tục vay, thủ tục cung ứng dịch vụ thanh toán… đặc biệt là thông qua phương tiện điện tử, trong đó quy định giới hạn chi tiết mục đích thu thập thông tin của người tiêu dùng; làm rõ những loại thông tin mà các tổ chức tín dụng được phép hoặc không được phép yêu cầu người tiêu dùng cung cấp nếu như không liên quan trực tiếp đến giao dịch, tránh việc “thả nổi” để các tổ chức tín dụng thu thập thông tin, ép người tiêu dùng phải cung cấp nhưng thông tin không cần thiết. Ngoài ra, pháp luật nên bổ sung quy định về quyền người tiêu dùng trong việc yêu cầu tổ chức tín dụng giải thích mục đích của việc thu thập thông tin, có quyền từ chối cung cấp thông tin khi cảm thấy những thông tin của bản thân có khả năng bị sử dụng sai mục đích.

Thứ ba, để khắc phục khoảng trống pháp lý hiện nay, cần sớm bổ sung vào Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại của tổ chức tín dụng trong trường hợp nhân viên tiết lộ thông tin khách hàng trái quy định, theo hướng áp dụng nguyên tắc trách nhiệm khách quan. Đồng thời, cần sửa đổi, hoàn thiện Nghị định số 117/2018/NĐ-CP theo hướng tăng cường chế tài xử phạt và bổ sung cơ chế bồi thường trực tiếp cho khách hàng bị xâm hại quyền lợi. Bên cạnh đó, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 cũng cần được vận dụng để thiết lập quy định riêng về bảo mật thông tin tài chính – ngân hàng, cho phép người tiêu dùng khởi kiện tập thể khi quyền lợi bị xâm phạm.

Thứ tư, Nghị định số 117/2018/NĐ-CP nên bổ sung quy định về quyền tố cáo của người tiêu dùng khi phát hiện ra sai phạm trong quá trình bảo mật, cung cấp, sử dụng thông tin người tiêu dùng của các tổ chức tín dụng, cơ quan nhà nước, tổ chức khác, cá nhân, theo đó, khoản 1 Điều 13 Nghị định số 117/2018/NĐ-CP bổ sung thêm “khiếu nại, tố cáo, khởi kiện, yêu cầu bồi thường thiệt hại” theo quy định của pháp luật trong trường hợp cơ quan nhà nước, tổ chức khác, cá nhân, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cung cấp, sử dụng thông tin khách hàng không đúng quy định của pháp luật.

5. Kết luận

Ở Việt Nam, ngân hàng số mặc dù còn khá mới, tuy nhiên, ngân hàng số là xu hướng phát triển tất yếu của ngân hàng. Bảo mật thông tin người tiêu dùng sử dụng dịch vụ ngân hàng số là chìa khóa then chốt quyết định sự ổn định và phát triển của các ngân hàng số. Tuy nhiên, việc bảo mật thông tin người tiêu dùng nói chung và người tiêu dùng sử dụng dịch vụ ngân hàng số nói riêng đang còn yếu. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, song không thể phủ nhận một trong những nguyên nhân đó là sự thiếu hoàn thiện của các quy định pháp luật. Hoàn thiện pháp luật về bảo mật thông tin người tiêu dùng sử dụng dịch vụ ngân hàng số là hết sức quan trọng và cần thiết, cùng với các giải pháp về kỹ thuật, công nghệ, con người… là vấn đề được chú trọng nhằm bảo đảm sự phát triển hệ thống ngân hàng trong tương lai ở Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:
Basel Committee on Banking Supervision (2006). International convergence of capital measurement and capital standards: A revised framework – Comprehensive version (Basel II). Bank for International Settlements.
Chính phủ (2019). Nghị định số 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công Thương. (10/9/2015). Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch tín dụng tiêu dùng. https://thuonghieucongluan.com.vn/bao-ve-quyen-loi-nguoi-tieu-dung-trong-cac-giao-dich-tin-dung-tieu-dung-a25311.html
Nguyễn Thị Kim Thoa (2019). Bàn về pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng. Tạp chí Ngân hàng, (20), 22–26.
Nguyễn Xuân Bang (2021). Đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng số ở Việt Nam hiện nay. Trong Kỷ yếu hội thảo khoa học: Những vấn đề pháp lý về hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng trong kỷ nguyên của công nghệ số (tr. 89 – 96). Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
Quốc hội (2010). Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010.
Quốc hội (2023). Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023.
Quốc hội (2024). Luật các tổ chức tín dụng năm 2024.
Thanh Phương (25/04/2025). Chuyển đổi số ngân hàng và bài toán an ninh, an toàn thông tin. Tạp chí Ngân hàng. https://tapchinganhang.gov.vn/chuyen-doi-so-ngan-hang-va-bai-toan-an-ninh-an-toan-thong-tin-15897.html
Thiếu Quang Hiệp (2020). Phát triển ngân hàng số ở Việt Nam: Thực trạng và đề xuất. Tạp chí Tài chính, kỳ 2, 45–50.