Giải pháp phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Solutions for developing Vietnam’s intellectual workforce in the new era

TS. Nguyễn Thị Huyền
Đại học Bách Khoa Hà Nội
Email: huyen.nguyenthi@hust.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lịch sử lớn, bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Để hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, việc khơi thông và phát huy nguồn lực trí thức là đòi hỏi mang tính chiến lược. Bài viết tập trung phân tích các quan điểm chỉ đạo cốt lõi của Đảng tại Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/11/2023, đánh giá thực trạng năng lực bằng hệ thống số liệu thực tế. Từ đó, đề xuất một số giải pháp đột phá nhằm phát huy vai trò của đội ngũ tri thức, trọng dụng nhân tài, tạo động lực thúc đẩy kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Từ khóa: Đội ngũ trí thức; Nghị quyết số 45-NQ/TW; Đại hội XIV của Đảng; kỷ nguyên mới; kinh tế tri thức; đổi mới sáng tạo. 

Abstract: Vietnam is at a historic turning point as it enters a new era of development. To achieve the goal of becoming a developed, high-income country by 2045, unlocking and maximizing the potential of the country’s intellectual resources is a strategic imperative. This article analyzes the Party’s key guiding viewpoints set out in Resolution No. 45-NQ/TW dated November 24, 2023, and evaluates the current capacity of the intellectual workforce based on empirical data. Based on these findings, it proposes several breakthrough solutions to enhance the role of the intellectual workforce, attract and utilize talent, and create momentum for the development of the knowledge economy and innovation in line with the spirit of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam in the context of the Fourth Industrial Revolution.

Keywords: Intellectual workforce; Resolution No. 45-NQ/TW; 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam; new era; knowledge economy; innovation.

1. Đặt vấn đề

Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh, trí thức luôn là lực lượng tiên phong, giữ vai trò quyết định đến đại cục phát triển đất nước. Bước vào giai đoạn hiện nay, thuật ngữ “kỷ nguyên phát triển mới” được Đảng xác định là kỷ nguyên bứt phá, tăng tốc để đưa Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu. Trong kỷ nguyên này, động lực tăng trưởng không còn dựa vào tài nguyên thô hay lao động giá rẻ mà dịch chuyển hoàn toàn sang khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Do đó, việc nhìn nhận lại vị thế, đánh giá thực chất năng lực và xây dựng một hệ sinh thái thể chế vượt trội để thúc đẩy đội ngũ trí thức cống hiến đang trở thành một nhiệm vụ cấp bách, có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh quốc gia. 

2. Quan điểm của Đảng về đội ngũ trí thức trong kỷ nguyên phát triển mới

Nếu như trước đây, vị trí của trí thức đôi khi được nhìn nhận dưới góc độ một tầng lớp xã hội trung gian thì trong tư duy lý luận mới của Đảng hiện nay, trí thức đã được nâng tầm thành nguồn lực chiến lược đặc biệt quan trọng; đồng thời được thể hiện tinh thần nhất quán nhưng có những bước đột phá mạnh mẽ, cụ thể: Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/11/2023 Hội nghị Trung ương tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) đã khẳng định: “Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh toàn diện là đầu tư cho xây dựng, bồi đắp “nguyên khí quốc gia” và phát triển bền vững; là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và xã hội”. Trong đó, chú trọng phát triển đội ngũ trí thức cả ở trong nước và ở nước ngoài; có cơ chế, chính sách đột phá thu hút, trọng dụng nhân tài, nhất là đối với trí thức tinh hoa, chuyên gia đầu ngành của đất nước; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng lớp trí thức trẻ, kế cận. 

Đại hội XIV của Đảng xác định rõ đội ngũ trí thức là nguồn lực đặc biệt quan trọng, giữ vai trò quyết định đối với sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Quan điểm xuyên suốt là xây dựng đội ngũ trí thức vững vàng về bản lĩnh chính trị, sâu sắc về trí tuệ, giàu tinh thần phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân; thực sự trở thành lực lượng tiên phong trong đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế tri thức, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế quốc gia.

Khẳng định vai trò của đội ngũ trí thức trong kỷ nguyên phát triển, tại buổi gặp mặt 200 trí thức, nhà khoa học có nhiều thành tích, đóng góp, đang hoạt động trong các ngành, lĩnh vực, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh “Trí thức là lực lượng đại diện cho trí tuệ, tài năng của nhân dân và dân tộc, là một trong những nguồn lực và động lực quan trọng nhất mang lại sự đột phá và sự phồn vinh cho đất nước” (Nguyễn Thị Hồng Điệp, 2024). Điều này cho thấy, trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, chính đội ngũ trí thức, nhà khoa học (nhất là đội ngũ trí công nghệ, các nhà khoa học dữ liệu) và lực lượng đổi mới sáng tạo chính là “mũi nhọn chuyển dịch” của nền kinh tế tri thức.

Mục tiêu chiến lược được xác định trong Nghị quyết số 45-NQ/TW, đó là: “…đến năm 2030, phát triển đội ngũ trí thức về số lượng và chất lượng, nhất là đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành trong lĩnh vực then chốt, trọng yếu, lĩnh vực mới đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” và “Tầm nhìn đến năm 2045, đội ngũ trí thức Việt Nam lớn mạnh, có chất lượng cao, cơ cấu hợp lý, thuộc tốp đầu khu vực và tiệm cận với các nước phát triển; nhiều nhà khoa học có ảnh hưởng trên thế giới, đạt các giải thưởng quốc tế trên các lĩnh vực; nhiều tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở giáo dục và đào tạo đạt chuẩn quốc tế đáp ứng yêu cầu của quốc gia phát triển”.

3. Thực trạng đội ngũ trí thức Việt Nam

Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 06/8/2008 về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và bước đầu triển khai Nghị quyết số 45-NQ/TW, đội ngũ trí thức Việt Nam đã có sự lớn mạnh rõ rệt. Tính đến nay, cả nước có khoảng gần 7.000 giáo sư và phó giáo sư đang công tác trực tiếp tại các cơ sở giáo dục đại học (Nguyễn Liên, Mạnh Hưng, 2025). Điều này cho thấy, tiềm lực khoa học công nghệ quốc gia liên tục được củng cố với mạng lưới hàng trăm trường đại học và viện nghiên cứu, đào tạo ra hàng triệu nhân lực có trình độ từ đại học trở lên. 

Trong những năm gần đây, Việt Nam liên tục thăng hạng về Chỉ số Đổi mới sáng tạo Toàn cầu (GII). Theo báo cáo mới nhất của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) 2025, Việt Nam xuất sắc xếp vị trí 44/139 quốc gia, giữ vững vị trí thứ 2 trong nhóm các quốc gia thu nhập trung bình thấp và nằm trong tốp đầu (đứng thứ 3 sau Singapore và Malaysia) của khu vực ASEAN về tăng trưởng đổi mới sáng tạo, một trong hai quốc gia giữ kỷ lục có thành tích vượt trội so với mức độ phát triển trong 15 năm liên tiếp (gồm Ấn Độ và Việt Nam) (Thu Giang, 2025). Đặc biệt, số lượng bài báo khoa học của các nhà nghiên cứu Việt Nam trên các tạp chí thuộc danh mục uy tín ISI/Scopus tăng trưởng ấn tượng. Điển hình như: “năm 2024, Đại học Quốc gia Hà Nội công bố hơn 2.000 bài báo trên hệ thống WoS/Scopus, tăng 16% so với năm 2023, đặc biệt, có 1.267 bài thuộc nhóm Q1, Q2, chiếm 70% tổng số bài báo quốc tế” (Linh An, 2025).

Có thể nói, vai trò đội ngũ trí thức ngày càng quan trọng trong tư vấn chính sách, chuyển giao công nghệ, phản biện xã hội, lan tỏa tri thức phục vụ phát triển bền vững. Thực tế, đã có nhiều nhà khoa học trẻ, chuyên gia công nghệ, trí thức cả trong nước và đang sinh sống, công tác tại nước ngoài đều đã và đang khẳng định năng lực trong môi trường quốc tế. Những đóng góp của đội ngũ trí thức thời gian qua trong tư vấn chính sách và phản biện xã hội đã góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho nhiều chủ trương, chiến lược, quy hoạch, chương trình phát triển kinh tế – xã hội. Nhiều ý kiến phản biện đã giúp chính sách sát thực tiễn hơn, giảm rủi ro, tránh lãng phí nguồn lực và tăng tính khả thi khi triển khai.

Trong chuyển giao tri thức và ứng dụng khoa học công nghệ, đội ngũ trí thức đã có nhiều đóng góp cụ thể vào sản xuất nông nghiệp, y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường, chuyển đổi số trong quản lý nhà nước, phát triển doanh nghiệp và nâng cao đời sống Nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh các điểm sáng, hệ thống vẫn tồn tại những rào cản nội tại lớn cần nhìn nhận thẳng thắn việc đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) còn khiêm tốn: Tổng chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của Việt Nam hiện chỉ dao động ở mức dưới 0,5% GDP. Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới (World Bank) năm 2024, tại Việt Nam, tỷ lệ chi tiêu cho R&D trên GDP đã tăng từ 0,30% năm 2013 lên 0,43% năm 2021, tuy đã là bước tiến tích cực nhưng vẫn còn thấp so với mức trung bình của các nước phát triển (thường dao động từ 2% đến 4% GDP) (Thái Khang, 2025).

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh phí chi cho nghiên cứu phát triển (R&D) đạt 2% GDP, trong đó kinh phí từ xã hội chiếm hơn 60%; bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và tăng dần theo yêu cầu phát triển…

Mặc dù số lượng bằng cấp tăng cao nhưng tỷ lệ các công nghệ chế tạo, bằng sáng chế (patent) được ứng dụng thương mại hóa vào sản xuất, kinh doanh còn rất thấp. Tình trạng “chảy máu chất xám” vẫn diễn ra khi môi trường học thuật, chính sách tiền lương và hành lang pháp lý quản lý tài chính khoa học tại nhiều đơn vị công lập còn nặng tính hành chính hóa, chưa thực sự khơi thông tinh thần tự do sáng tạo. Báo cáo Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam tại Đại hội lần thứ XIV của Đảng (2026) đã thẳng thắn chỉ rõ: “Việt Nam đang đối mặt với “nguy cơ tụt hậu”, nhất là về công nghệ và “rơi vào bẫy thu nhập trung bình”. Năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh còn thấp (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 20). Bên cạnh đó, tình trạng thiếu hụt nhân lực chất lượng cao diễn ra nghiêm trọng, đặc biệt trong các ngành công nghiệp nền tảng và mũi nhọn, như: chip bán dẫn, AI, năng lượng mới; chế độ đãi ngộ và tiền lương trong khu vực công chưa tương xứng với giá trị lao động sáng tạo.

4. Giải pháp đưa đội ngũ trí thức thành động lực quyết định bứt phá phát triển đất nước

Phát triển đội ngũ trí thức vừa là nhu cầu của thực tiễn, vừa là yêu cầu tất yếu của quá trình phát triển. Trong kỷ nguyên mới, trước bối cảnh chuyển đổi số, phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam thực sự là một trong những động lực phát triển đất nước. Vì vậy, để hiện thực hóa khát vọng hùng cường và đưa đội ngũ trí thức trở thành động lực quyết định bứt phá phát triển đất nước, cần tập trung thực hiện đồng bộ năm nhóm giải pháp sau: 

Một là, cải cách thể chế quản lý khoa học, chấp nhận rủi ro trong sáng tạo. Cần thay đổi căn bản tư duy quản lý khoa học từ “kiểm soát thủ tục hành chính” sang “quản lý theo sản phẩm đầu ra và hiệu quả cống hiến”. Nghiên cứu khoa học là con đường đi vào cái mới, do đó thể chế phải khuyến khích dấn thân và chấp nhận rủi ro. Cần thiết lập cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, giảm thiểu tối đa các thủ tục hóa đơn, chứng từ rườm rà đang làm nản lòng các nhà khoa học. 

Hai là, đổi mới chính sách đãi ngộ, xây dựng cơ chế đặc thù cho nhân tài đầu ngành. Áp dụng cơ chế tiền lương, thưởng vượt trội và môi trường làm việc đạt chuẩn quốc tế đối với các nhà khoa học đầu ngành, các tổng công trình sư chủ trì các nhiệm vụ quốc gia đặc biệt quan trọng. Cần xây dựng các “đặc khu học thuật” hoặc phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia có quyền tự chủ cao độ, nơi các trí thức hàng đầu có toàn quyền quyết định về nhân sự và phương hướng nghiên cứu. 

Ba là, thúc đẩy liên kết ba nhà: Nhà nước – Nhà trường – Nhà doanh nghiệp. Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo, sử dụng các công cụ thuế và quỹ hỗ trợ để khuyến khích các tập đoàn doanh nghiệp lớn đầu tư mạnh mẽ vào các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) đặt tại các trường đại học lớn. Chuyển dịch mạnh mẽ mô hình các trường đại học từ “thuần túy đào tạo” sang “đại học nghiên cứu và đổi mới sáng tạo”, lấy việc thương mại hóa các phát minh khoa học làm thước đo năng lực phát triển của cơ sở giáo dục. 

Bốn là, thu hút và phát huy nguồn lực từ mạng lưới trí thức kiều bào. Trí thức Việt Nam hải ngoại là một phần không thể tách rời của nguyên khí quốc gia. Cần xây dựng cơ chế mở, linh hoạt cho phép các nhà khoa học gốc Việt trên thế giới tham gia giảng dạy, dẫn dắt các dự án nghiên cứu lớn tại Việt Nam mà không bị ràng buộc bởi các quy định cư trú hành chính. Biến mạng lưới này thành cầu nối đưa tri thức tiên tiến nhất của thế giới về phục vụ đất nước. 

Đối với đội ngũ trí thức người Việt Nam ở nước ngoài, cần có cơ chế kết nối linh hoạt, thiết thực và phù hợp hơn. Việc thu hút trí thức kiều bào không nên chỉ được hiểu là mời họ về nước làm việc dài hạn, mà có thể được triển khai bằng nhiều hình thức khác nhau như tham gia hội đồng tư vấn, hướng dẫn nhóm nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, kết nối các cơ sở đào tạo và phòng thí nghiệm, hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, giảng dạy trực tuyến hoặc đóng góp vào cơ sở dữ liệu chuyên gia. Quan trọng hơn cả là phải tạo được niềm tin, môi trường làm việc chuyên nghiệp, cơ chế phối hợp rõ ràng và những nhiệm vụ cụ thể gắn với nhu cầu phát triển của đất nước, để trí thức kiều bào thấy rằng sự đóng góp của mình là thiết thực, được trân trọng và có mức đãi ngộ xứng đáng.

Năm là, đổi mới mạnh mẽ cơ chế tài chính cho khoa học – công nghệ. Phải có cơ chế đặt hàng nhiệm vụ lớn, giao quyền tự chủ đi đôi với trách nhiệm giải trình; chấp nhận độ trễ và rủi ro của nghiên cứu; chuyển mạnh từ tư duy tiền kiểm sang hậu kiểm; đánh giá kết quả nghiên cứu bằng chất lượng, tác động và khả năng ứng dụng trong thực tế; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, nhất là các doanh nghiệp tư nhân cho đổi mới sáng tạo; hình thành các quỹ hỗ trợ nghiên cứu, khởi nghiệp sáng tạo, thương mại hóa kết quả khoa học.

5. Kết luận

Sự nghiệp đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới đặt lên vai đội ngũ trí thức Việt Nam những trọng trách lịch sử chưa từng có. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, cùng một hành lang pháp lý thông thóang và các cơ chế trọng dụng thực chất, đội ngũ trí thức chắc chắn sẽ phát huy tối đa bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng của mình. Đầu tư cho trí thức chính là chìa khóa vàng để khơi thông nguồn lực, giúp Việt Nam bứt phá phát triển nhanh, bền vững, tự tin tiến vào kỷ nguyên thịnh vượng. 

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2023). Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/11/2023 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới. 
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2008). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 06/8/2008 về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2024). Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII 2024).
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 20. 
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 5). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
Nguyễn Liên, Mạnh Hưng (18/9/2025). Cả nước hiện nay có gần 7.000 giáo sư, phó giáo sư. Báo Đại biểu Nhân dân. https://daibieunhandan.vn/ca-nuoc-hien-nay-co-gan-7-000-giao-su-pho-giao-su-10387112.html  
Nguyễn Thị Hồng Điệp (30/12/2024). Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi gặp mặt tri thức nhà khoa học (Phần I). Thông tấn xã Việt Nam. https://chinhsachcuocsong.vnanet.vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-buoi-gap-mat-tri-thuc-nha-khoa-hoc-phan-i/53722.html
Nguyễn Thị Vân Nga (03/3/2026). Phát triển nền kinh tế trí thức trong kỷ nguyên mới. Báo Nhân dân. https://nhandan.vn/phat-trien-nen-kinh-te-tri-thuc-trong-ky-nguyen-moi-post945839.html)
Nguyễn Thắng Lợi. (2017). Trí thức và công tác trí thức của Đảng trong thời kỳ đổi mới. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 23, tr 31- 43.
Thái Khang (23/7/2025). Việt Nam chi cho nghiên cứu phát triển thấp hơn nhiều so với các nước phát triển. Vietnamnet. https://vietnamnet.vn/viet-nam-chi-cho-nghien-cuu-phat-trien-thap-hon-nhieu-so-voi-cac-nuoc-phat-trien-2424780.html
Thu Giang (16/9/2025). Việt Nam duy trì xếp hạng 44 về chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu 2025. Báo Chính phủ. https://baochinhphu.vn/viet-nam-duy-tri-xep-hang-44-ve-chi-so-doi-moi-sang-tao-toan-cau-2025-102250916195648812.htm
Trần Thị Hương (25/01/2025). Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/01/25/xay-dung-doi-ngu-tri-thuc-viet-nam-trong-thoi-ky-doi-moi/).
WIPO. (2025). Global Innovation Index Report.