The ideological value of V.I. Lenin on the relationship between democracy and strengthening social discipline – Significance for the implementation of the Party’s Resolution No. 71-NQ/TW today
Trung tá, TS. Nguyễn Tú Anh
Thượng tá, TS. Đỗ Tiến Dũng
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Email: tuanh85cnxh@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết làm rõ một số nội dung cơ bản của tư tưởng V.I. Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa dân chủ và tăng cường kỷ cương xã hội; từ đó, rút ra giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng V.I. Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa dân chủ và tăng cường kỷ cương xã hội. Trên cơ sở đó, luận giải ý nghĩa của tư tưởng đó đối với việc thực hiện chủ trương đột phá phát triển giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo hiện nay, đáp ứng yêu cầu đổi mới, hội nhập và phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Từ khóa: V.I.Lênin; dân chủ; kỷ cương xã hội; Nghị quyết số 71-NQ/TW; Bộ Chính trị khóa XIII; đột phá giáo dục và đào tạo.
Abstract: This article clarifies some basic contents of V.I. Lenin’s thought on the dialectical relationship between democracy and strengthening social discipline; from there, it draws out the theoretical and practical value of V.I. Lenin’s thought on the dialectical relationship between democracy and strengthening social discipline. Based on that, it explains the significance of this thought for implementing the breakthrough policy in education and training development in accordance with Resolution No. 71-NQ/TW of the Politburo on breakthrough development in education and training today, meeting the requirements of innovation, integration, and rapid and sustainable development of the country in the new period.
Keywords: V.I. Lenin; democracy; social discipline; Resolution No. 71-NQ/TW; the Politburo of the 13th Party Congress; breakthroughs in education and training.
1. Mở đầu
V.I.Lênin (1870-1924) sinh ra ở Nga trong một gia đình trí thức tiến bộ; cuộc đời và sự nghiệp của V.I.Lênin là biểu tượng sáng ngời của trí tuệ, bản lĩnh, tinh thần cống hiến và lòng trung thành tuyệt đối với lý tưởng giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Từ thực tiễn hoạt động cách mạng, V.I.Lênin đã đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ thành lập chính đảng cách mạng kiểu mới của giai cấp vô sản, có kỷ luật chặt chẽ, nghiêm minh, thống nhất ý chí và hành động, đủ năng lực lãnh đạo cách mạng giành thắng lợi. Dưới sự lãnh đạo của V.I.Lênin, quần chúng nhân dân lao động đã tiến hành thắng lợi Cách mạng tháng Mười năm 1917, lật đổ chính quyền tư sản lâm thời, thiết lập chính quyền Xô viết – Nhà nước của công nhân và nông dân đầu tiên trong lịch sử. Trên cương vị lãnh đạo nhà nước mới, V.I.Lênin đã đề ra nhiều chính sách quan trọng nhằm bảo vệ chính quyền cách mạng, xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa và mở rộng dân chủ cho nhân dân lao động, đồng thời tăng cường kỷ luật, pháp luật và trật tự xã hội trong điều kiện hết sức khó khăn của nội chiến và bao vây từ bên ngoài. Vì vậy, giá trị tư tưởng của V.I.Lênin về mối quan hệ giữa dân chủ và tăng cường kỷ cương xã hội có ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc ở nhiều phương diện, đặc biệt trong nghiên cứu, học tập và quán triệt Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
2. Giá trị tư tưởng của V.I.Lênin về mối quan hệ giữa dân chủ và tăng cường kỷ cương xã hội
Tư tưởng của V.I. Lênin về mối quan hệ giữa dân chủ và tăng cường kỷ cương xã hội là hệ thống quan điểm khẳng định dân chủ và kỷ cương có mối quan hệ thống nhất biện chứng, bổ sung và tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, trong đó dân chủ là điều kiện phát huy quyền làm chủ, tính tích cực và sáng tạo của nhân dân, còn kỷ cương là cơ sở bảo đảm dân chủ được thực hiện đúng pháp luật, đúng nguyên tắc và đạt hiệu quả, phát huy dân chủ luôn phải gắn liền với tăng cường pháp chế, kỷ luật và trách nhiệm xã hội nhằm xây dựng một xã hội ổn định, trật tự và phát triển bền vững.
V.I.Lênin đã chỉ ra những vấn đề có tính nguyên tắc để giải quyết mối quan hệ giữa dân chủ và tăng cường kỷ cương xã hội để củng cố, xây dựng chính quyền Xô viết, phát huy tính năng động, sáng tạo của Nhân dân trong xây dựng chủ nghĩa xã hội; đồng thời bảo đảm kỷ cương xã hội, xử lý nghiêm các phần tử cơ hội, xét lại; đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa chống cộng; giữ vững thành quả cách mạng đã giành được, đưa nước Nga Xô viết trở thành mẫu mực, tiêu biểu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. V.I.Lênin đã khẳng định: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội, đó là điều không thể tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến lên chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau. Mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại hình này hay loại hình khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội” (V.I.Lênin, 2005, tr.160).
V.I.Lênin chỉ rõ dân chủ không phải là sự tự do vô hạn, cũng không phải là trạng thái xã hội thiếu tổ chức, kỷ luật và pháp luật. Trái lại, dân chủ chân chính chỉ có thể tồn tại và phát triển trong khuôn khổ một trật tự xã hội nghiêm minh và một hệ thống pháp luật được tôn trọng. V.I.Lênin chỉ ra rằng, nếu tách dân chủ khỏi pháp luật và kỷ cương, dân chủ sẽ bị biến dạng, dẫn tới vô tổ chức, vô chính phủ và cuối cùng làm suy yếu chính quyền của Nhân dân. Dân chủ nhằm khơi dậy tính năng động, sáng tạo của Nhân dân trong xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội; đoàn kết, thống nhất đấu tranh chống chủ nghĩa vô chính phủ, những âm mưu, thủ đoạn của bọn cơ hội, xét lại, chủ nghĩa chống cộng.
Kỷ cương xã hội là điều kiện khách quan để bảo vệ và thực hiện quyền dân chủ của đại đa số Nhân dân. V.I.Lênin chỉ rõ: “Giai cấp vô sản cần có chính quyền nhà nước, cần có tổ chức sức mạnh tập trung, cần có tổ chức bạo lực để trấn áp sự phản kháng của bọn bóc lột và lãnh đạo quảng đại quần chúng nhân dân – nông dân, tiểu tư sản, nửa vô sản trong công cuộc tổ chức nền kinh tế xã hội chủ nghĩa” (V.I.Lênin, 2005, tr. 32). Điều đó có nghĩa là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xã hội chưa thể đạt đến sự hài hòa tuyệt đối về lợi ích. Trong điều kiện đó, nếu thiếu kỷ cương và pháp luật nghiêm minh, quyền dân chủ của đại đa số sẽ bị xâm hại bởi các thế lực chống phá hoặc bởi chính sự hỗn loạn trong quản lý xã hội. Vì vậy, kỷ cương không phải là sự hạn chế dân chủ, mà là điều kiện để dân chủ được bảo vệ trong thực tế. V.I.Lênin từng nhấn mạnh rằng dân chủ vô sản là “dân chủ cho đa số và trấn áp thiểu số bóc lột”. Sự trấn áp này không thể thực hiện bằng ý chí tự phát mà phải thông qua hệ thống pháp luật, bộ máy nhà nước và kỷ luật xã hội nghiêm minh. Như vậy, kỷ cương là phương tiện duy trì môi trường chính trị – xã hội ổn định để dân chủ phát triển.
Từ việc khái quát nội dung tư tưởng của V.I.Lênin về mối quan hệ giữa dân chủ và tăng cường kỷ cương xã hội, giá trị lý luận, thực tiễn của tư tưởng đó được thể hiện ở một số khía cạnh chủ yếu sau:
Một là, về giá trị lý luận, tư tưởng của V.I.Lênin góp phần phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác về dân chủ trong điều kiện xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa. V.I.Lênin đã kế thừa và cụ thể hóa quan niệm của chủ nghĩa Mác về dân chủ. Học thuyết của chủ nghĩa Mác về dân chủ luôn gắn liền với bản chất giai cấp của nhà nước. Mác và Ăngghen cho rằng trong xã hội có giai cấp, không tồn tại nền dân chủ “phi giai cấp”, mà mỗi nền dân chủ đều phục vụ lợi ích của một giai cấp nhất định. Dân chủ tư sản, dù mang hình thức phổ quát, nhưng thực chất vẫn là công cụ bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản.
Kế thừa quan điểm đó, V.I.Lênin khẳng định, dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ của đại đa số nhân dân lao động, đối lập với dân chủ tư sản. Tuy nhiên, điểm phát triển của V.I.Lênin là ông không chỉ dừng lại ở việc khẳng định bản chất giai cấp của dân chủ, mà còn làm rõ cơ chế thực hiện dân chủ trong xã hội mới. Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng, V.I.Lênin viết: “chế độ dân chủ cho nhân dân; cho số đông, đi đôi với trấn áp tất yếu cho số ít, đối với bọn bóc lột” (V.I.Lênin, 2005, tr.109). V.I.Lênin phát triển lý luận về dân chủ xã hội chủ nghĩa như một nền dân chủ thực chất, trong đó quần chúng không chỉ có quyền chính trị mà còn có điều kiện thực tế để thực hiện quyền đó. Ông nhấn mạnh việc thu hút hàng triệu người lao động tham gia trực tiếp vào công tác quản lý nhà nước và công tác xã hội. Tuy nhiên, để điều đó trở thành hiện thực, V.I.Lênin khẳng định cần có tổ chức và kỷ luật. Trong những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết, ông nhấn mạnh: “Không có kỷ luật sắt thì không thể nói đến thắng lợi của chủ nghĩa xã hội.
Tư tưởng của V.I.Lênin góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa dân chủ và kỷ cương xã hội. V.I. Lênin chỉ ra rằng dân chủ không chỉ là quyền được ghi nhận, mà còn phải trở thành hiện thực trong đời sống xã hội. Để làm được điều đó, cần có những điều kiện bảo đảm, trong đó kỷ cương xã hội giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Trong xã hội, nếu thiếu trật tự và kỷ luật, các quyết định dân chủ khó có thể được thực hiện. Quyền tham gia của người dân có thể bị biến thành sự tùy tiện, thậm chí bị lợi dụng cho mục đích cá nhân. Khi đó, dân chủ không những không được củng cố mà còn bị suy yếu. V.I.Lênin nhấn mạnh vai trò của tổ chức, của pháp luật và của cơ chế kiểm tra, giám sát trong việc bảo đảm thực hiện quyền dân chủ. Ông đề cao nguyên tắc “kiểm kê và kiểm soát” như một nội dung cốt lõi của quản lý xã hội: “Thống kê và kiểm soát, đó là điều chủ yếu cần thiết cho cả việc tổ chức lẫn hoạt động đều đặn của xã hội cộng sản chủ nghĩa, trong giai đoạn đầu của nó” (V.I.Lênin, 2005, tr. 124).
Tư tưởng của V.I.Lênin góp phần định hướng cho việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn với kỷ luật tự giác của xã hội. Trong tư tưởng của V.I.Lênin, dân chủ xã hội chủ nghĩa không chỉ dừng lại ở việc mở rộng quyền lực cho nhân dân, mà còn hướng tới việc hình thành một xã hội trong đó con người tự giác tuân thủ các quy tắc chung. Đây chính là biểu hiện cao nhất của dân chủ, khi quyền và nghĩa vụ thống nhất trong ý thức tự nguyện của mỗi cá nhân.
Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng, V.I.Lênin chỉ ra rằng, khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định, nhà nước sẽ dần “tiêu vong” cùng với sự biến mất của đối kháng giai cấp. Khi đó, việc quản lý xã hội không còn dựa chủ yếu vào cưỡng chế mà dựa vào ý thức tự giác của con người. Ông viết rằng, khi mọi người đã quen với việc tuân thủ những quy tắc chung của đời sống xã hội, thì “không cần đến một bộ máy cưỡng chế đặc biệt” nữa. Điều này cho thấy, V.I.Lênin đã nhìn nhận kỷ luật tự giác như một trạng thái phát triển cao của xã hội, nơi dân chủ không còn mang tính hình thức mà trở thành một thực tiễn sống động. Như vậy, kỷ luật tự giác không phải là sự phủ nhận dân chủ mà là kết quả của sự phát triển cao của dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Hai là, về thực tiễn, tư tưởng của V.I.Lênin về mối quan hệ giữa dân chủ và tăng cường kỷ cương xã hội góp phần định hướng cho việc kết hợp giữa mở rộng dân chủ với giữ vững trật tự, ổn định xã hội. V.I.Lênin cho rằng nếu không có kỷ luật và trật tự, các quyền dân chủ sẽ khó có thể được thực thi trong thực tế. Trong tác phẩm Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết, V.I.Lênin nhấn mạnh yêu cầu thiết lập “kỷ luật sắt” trong quản lý nhà nước và tổ chức sản xuất; không có kỷ luật sắt, không có sự phục tùng nghiêm chỉnh đối với một ý chí thống nhất thì không thể nói đến thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. Điều đó cho thấy vai trò của kỷ cương rất quan trọng; khi quần chúng tham gia rộng rãi vào quản lý xã hội, nếu thiếu sự điều phối thống nhất, các hoạt động xã hội sẽ rơi vào tình trạng phân tán, chồng chéo và kém hiệu quả. Kỷ cương xã hội, do đó, không phải là yếu tố hạn chế dân chủ mà là điều kiện để dân chủ vận hành hiệu quả. Nó giúp: bảo đảm sự thống nhất trong hành động; duy trì trật tự xã hội; ngăn chặn các hành vi lợi dụng dân chủ để gây rối. Chính nhờ có kỷ cương, các quyết định của nhân dân mới có thể được triển khai đồng bộ và đạt hiệu quả thực tiễn.
Tư tưởng của V.I.Lênin về mối quan hệ giữa dân chủ và tăng cường kỷ cương xã hội góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và xã hội. Theo V.I.Lênin, quản lý nhà nước và xã hội là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp thống nhất giữa nhiều chủ thể khác nhau. Điều này chỉ có thể đạt được khi có kỷ luật và trật tự xã hội. Trong tác phẩm Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết, V.I.Lênin đặc biệt nhấn mạnh tính kỷ luật trong lao động, nhưng cũng đề cao tính sáng tạo và dân chủ của người lao động trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Khi các cá nhân và tổ chức tuân thủ kỷ luật chung, các quyết định của nhà nước mới có thể được triển khai đồng bộ và hiệu quả. Ngược lại, nếu thiếu kỷ cương, các chủ thể sẽ hành động theo ý chí riêng, dẫn đến tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn và lãng phí nguồn lực. Điều này làm giảm hiệu lực của bộ máy nhà nước và cản trở sự phát triển của xã hội. Như vậy, kỷ cương xã hội không chỉ là công cụ duy trì trật tự mà còn là yếu tố quyết định hiệu quả của công tác quản lý nhà nước. Kết hợp dân chủ và kỷ cương nhằm khắc phục hai khuynh hướng sai lầm trong quản lý. Một giá trị thực tiễn quan trọng của tư tưởng V.I.Lênin là giúp nhận diện và khắc phục hai khuynh hướng sai lầm phổ biến trong quản lý nhà nước: tuyệt đối hóa dân chủ hoặc tuyệt đối hóa kỷ cương. Nếu tuyệt đối hóa dân chủ mà xem nhẹ kỷ cương, quản lý nhà nước có thể rơi vào tình trạng “tự do vô tổ chức”. Việc kết hợp giữa dân chủ và kỷ cương giúp tạo ra sự cân bằng trong quản lý: vừa bảo đảm tính linh hoạt, sáng tạo của quần chúng, vừa duy trì sự thống nhất và hiệu quả của bộ máy nhà nước.
3. Ý nghĩa đối với việc thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Đảng hiện nay
Một là, tư tưởng của V.I. Lênin về mối quan hệ giữa dân chủ và tăng cường kỷ cương xã hội là cơ sở lý luận định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay.
Nghị quyết số 71-NQ/TW đã xác định quan điểm: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai của dân tộc. Phát triển giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân” (Bộ Chính trị, 2025). Vận dụng tư tưởng của V.I.Lênin đòi hỏi quá trình đổi mới giáo dục phải lấy người học làm trung tâm, phát huy quyền tự chủ, tư duy độc lập, năng lực sáng tạo và khát vọng cống hiến của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và người học. Dân chủ trong giáo dục cần được thể hiện ở việc tạo môi trường học thuật cởi mở, khuyến khích tranh luận khoa học, tôn trọng các ý kiến phản biện trên cơ sở khoa học và pháp luật; mở rộng quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục gắn với trách nhiệm giải trình; phát huy vai trò giám sát của xã hội, gia đình và người học đối với chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, việc mở rộng dân chủ chỉ phát huy giá trị khi được đặt trong khuôn khổ pháp luật, quy chế chuyên môn, chuẩn mực đạo đức của nhà giáo và kỷ luật học đường. Vì vậy, tăng cường kỷ cương trong giáo dục không phải là hạn chế dân chủ mà là điều kiện bảo đảm để dân chủ được thực hiện một cách thực chất, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, văn minh.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao càng trở nên cấp thiết. Điều đó đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới mạnh mẽ về tư duy quản trị, chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và cơ chế quản lý, đồng thời xây dựng nền nếp, kỷ cương, kỷ luật trong toàn hệ thống giáo dục. Chỉ khi kết hợp hài hòa giữa phát huy dân chủ và tăng cường kỷ cương theo tư tưởng của V.I.Lênin mới có thể khơi dậy động lực đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực có bản lĩnh chính trị, đạo đức, tri thức, kỹ năng và năng lực thích ứng với yêu cầu phát triển đất nước. Nghị quyết số 71-NQ/TW đã nhấn mạnh: “nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng và thực thi pháp luật; thúc đẩy đổi mới sáng tạo và kiến tạo phát triển giáo dục và đào tạo” (Bộ Chính trị, 2025).
Hai là, tư tưởng của V.I. Lênin về mối quan hệ giữa dân chủ và tăng cường kỷ cương xã hội tạo nền tảng để xây dựng môi trường giáo dục dân chủ, chuẩn mực và kỷ cương, gắn với việc nâng cao trách nhiệm, ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật và đạo đức nghề nghiệp.
Vận dụng tư tưởng của V.I.Lênin trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi các cơ sở giáo dục tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản trị theo hướng dân chủ, hiện đại và minh bạch; phát huy vai trò của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể và hội đồng trường trong việc thực hiện dân chủ ở cơ sở; tăng cường đối thoại, lắng nghe và tiếp thu ý kiến của đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý, người học và các bên liên quan. Cùng với đó, cần xây dựng văn hóa kỷ cương trong toàn hệ thống giáo dục thông qua việc thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật, quy chế đào tạo, chuẩn nghề nghiệp, chuẩn đạo đức nhà giáo và các quy định về trách nhiệm nêu gương. Kỷ cương trong giáo dục không chỉ được thể hiện ở việc xử lý nghiêm các hành vi vi phạm mà còn quan trọng hơn là hình thành ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm và văn hóa tuân thủ ở mỗi chủ thể giáo dục. Nghị quyết số 71-NQ/TW chỉ rõ: “xây dựng nền giáo dục mở, liên thông, bảo đảm cơ hội học tập công bằng, bình đẳng cho mọi người, đáp ứng nhu cầu của xã hội, thúc đẩy học tập suốt đời” (Bộ Chính trị, 2025).
Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, việc xây dựng môi trường giáo dục dân chủ, chuẩn mực và kỷ cương càng có ý nghĩa quyết định. Môi trường đó sẽ tạo điều kiện để khơi dậy khát vọng cống hiến, tinh thần học tập suốt đời, năng lực đổi mới sáng tạo và trách nhiệm xã hội của đội ngũ nhà giáo và người học; đồng thời phòng ngừa các biểu hiện quan liêu, hình thức, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, tiêu cực trong giáo dục và bệnh thành tích. Đây chính là tiền đề quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Vì vậy, vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin về sự thống nhất giữa dân chủ và kỷ cương không chỉ có ý nghĩa đối với đổi mới quản trị giáo dục mà còn tạo động lực mạnh mẽ để thực hiện thành công mục tiêu đột phá phát triển giáo dục và đào tạo mà Đảng đã xác định trong giai đoạn mới.
Ba là, tư tưởng của V.I. Lênin về mối quan hệ giữa dân chủ và tăng cường kỷ cương xã hội góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu đột phá trong phát triển giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay.
Nghị quyết số 71-NQ/TW đã xác định: “Cải cách, hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp, tạo đột phá trong phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng nghề cao… đáp ứng nhu cầu của thị trường” (Bộ Chính trị, 2025). Vận dụng tư tưởng của V.I. Lênin đòi hỏi quá trình giáo dục phải kết hợp chặt chẽ giữa phát triển năng lực sáng tạo với rèn luyện ý thức kỷ luật; giữa tự do học thuật với trách nhiệm xã hội; giữa quyền của người học với nghĩa vụ chấp hành pháp luật, nội quy và chuẩn mực đạo đức. Đây là cơ sở để hình thành đội ngũ nhà giáo có trình độ chuyên môn cao, tâm huyết với nghề, không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chuyển giao tri thức; đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục có tư duy đổi mới, năng lực quản trị hiện đại, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đối với người học, việc phát huy dân chủ sẽ khơi dậy tinh thần tự học, tự nghiên cứu, tư duy phản biện và năng lực sáng tạo; còn kỷ cương sẽ giúp hình thành tác phong học tập nghiêm túc, ý thức thượng tôn pháp luật, trách nhiệm với cộng đồng và văn hóa ứng xử chuẩn mực. Sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố này sẽ tạo nên những con người phát triển toàn diện cả về phẩm chất lẫn năng lực, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế sâu rộng và xây dựng nền giáo dục hiện đại, việc vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I. Lênin càng có ý nghĩa thiết thực. Đây là cơ sở để xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hình thành đội ngũ cán bộ, trí thức, nhà khoa học và người lao động có năng lực đổi mới sáng tạo, có khả năng thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của khoa học, công nghệ và thị trường lao động. Đồng thời, việc kết hợp chặt chẽ giữa phát huy dân chủ và tăng cường kỷ cương trong giáo dục sẽ góp phần xây dựng văn hóa học đường lành mạnh, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng về tạo đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, qua đó tạo nền tảng vững chắc để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên phát triển mới.
4. Kết luận
Tư tưởng của V.I. Lênin về mối quan hệ giữa dân chủ và tăng cường kỷ cương xã hội có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, phản ánh quy luật vận động và phát triển của xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, việc vận dụng sáng tạo tư tưởng đó để thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần xây dựng nền giáo dục dân chủ, kỷ cương, hiện đại và hội nhập. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát huy tiềm năng sáng tạo của con người, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước và xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
V.I.Lênin (2005). Toàn tập (Tập 30). Nxb Chính trị quốc gia.
V.I.Lênin (2005). Toàn tập (Tập 33). Nxb Chính trị quốc gia.
V.I.Lênin (2005). Toàn tập (Tập 44). Nxb Chính trị quốc gia.



