Controlling state power through the practice of direct democracy: the role of policy communication in the current context
NCS. ThS. Nguyễn Minh Hà
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Email: nguyenminhha.ajc@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Kiểm soát quyền lực nhà nước, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhiệm vụ cốt lõi trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bài viết luận giải rằng kiểm soát quyền lực thông qua dân chủ trực tiếp chỉ khả thi khi người dân được tiếp cận thông tin đầy đủ và truyền thông chính sách là công cụ của quản lý nhà nước để tạo ra sự minh bạch đó. Bằng phương pháp phân tích văn bản chính trị – pháp lý, phân tích chính sách và tổng hợp dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2023 – 2026, bài viết xây dựng chuỗi nhân quả bốn mắt xích: minh bạch thông tin – dân biết, dân hiểu – dân bàn, dân giám sát – hạn chế lạm quyền. Kết quả cho thấy, thể chế và hạ tầng số cho công khai thông tin đã có bước tiến rõ rệt, song điểm nghẽn nằm ở tư duy quản lý thông tin thay cho giải trình bằng thông tin, ở sự đứt đoạn của truyền thông trong giai đoạn thực thi và ở sự thiếu vắng diễn đàn phản biện chính thống. Bài viết tiếp cận truyền thông chính sách như một thiết chế của trách nhiệm giải trình, từ đó đề xuất bốn nhóm giải pháp, trong đó trách nhiệm người đứng đầu là khâu then chốt.
Từ khóa: Kiểm soát quyền lực; dân chủ trực tiếp; truyền thông chính sách; trách nhiệm giải trình; tiếp cận thông tin.
Abstract: Controlling state power and preventing corruption and misconduct are core tasks in building Viet Nam’s socialist rule-of-law state. This article argues that popular control of power through direct democracy is feasible only when citizens have full and timely access to information, and that policy communication is the instrument of state management that produces such transparency. Using political-legal document analysis, policy analysis and secondary-data synthesis for 2023 – 2026, the article develops a four-link causal chain: information transparency – citizens know and understand – citizens deliberate and monitor – abuse of power is constrained. The findings show clear progress in the institutional and digital infrastructure for information disclosure; the bottlenecks, however, lie in a mindset of managing information rather than being accountable through information, in the discontinuity of communication during policy implementation, and in the absence of formal forums for policy critique. The article’s novelty is to treat policy communication as an institution of accountability, on which basis it proposes four groups of solutions, identifying the responsibility of agency heads as the key link.
Keywords: Power control; direct democracy; policy communication; accountability; access to information.
1. Đặt vấn đề
Quyền lực không được kiểm soát tất yếu có xu hướng bị lạm dụng và lạm quyền là mảnh đất sinh ra tham nhũng, tiêu cực. Vì vậy, kiểm soát quyền lực nhà nước gắn với phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhiệm vụ cốt lõi, quyết định bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 xác lập nguyên tắc: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục yêu cầu hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực gắn với công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021); Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng cụ thể hóa định hướng này thành nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền trong giai đoạn mới.
Cơ chế kiểm soát quyền lực gồm hai tầng: kiểm soát bên trong bộ máy (giữa các nhánh quyền lực, qua thanh tra, kiểm toán, giám sát của cơ quan dân cử) và kiểm soát từ bên ngoài mà chủ thể cao nhất là Nhân dân. Điều 6 Hiến pháp khẳng định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Kiểm soát bên trong luôn có giới hạn tự thân vì chủ thể kiểm soát và đối tượng bị kiểm soát cùng nằm trong một hệ thống. Kiểm soát bằng nhân dân bù đắp giới hạn đó, nhưng chỉ vận hành với một điều kiện tiên quyết: người dân phải biết. Không ai có thể giám sát điều mình không được biết.
Nhu cầu xã hội về kiểm soát quyền lực hiện rất rõ. Khảo sát PAPI năm 2024 với 18.894 người dân cho thấy, tham nhũng là vấn đề được quan ngại nhiều nhất, với 22,58% người trả lời lựa chọn – mức cao kỷ lục, tăng 17% so với năm 2023 (UNDP, 2025). Chỉ số Cảm nhận tham nhũng năm 2025 của Việt Nam đạt 41/100 điểm, xếp thứ 81/182 (Transparency International, 2026): có tiến bộ, nhưng dư địa cải thiện còn lớn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn” (Hồ Chí Minh, 2011, tr. 325). Nếu thực hành dân chủ là chiếc chìa khóa, thì thông tin là điều kiện để chìa khóa ấy mở được cửa; và truyền thông chính sách chính là công cụ của quản lý nhà nước để tạo ra điều kiện đó. Bài viết trả lời ba câu hỏi: (1) Truyền thông chính sách gắn với dân chủ trực tiếp và kiểm soát quyền lực theo cơ chế nào; (2) Trong thực tiễn, truyền thông chính sách đang thúc đẩy và kìm hãm thực hành dân chủ trực tiếp ở đâu; (3) Cần giải pháp gì để truyền thông chính sách trở thành thiết chế bảo đảm minh bạch. Các câu hỏi càng cấp thiết khi thể chế chuyển động mạnh: chính quyền địa phương hai cấp vận hành từ ngày 01/7/2025, Luật Báo chí năm 2025 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2026.
2. Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa dân chủ trực tiếp, kiểm soát quyền lực và truyền thông chính sách
2.1. Bản chất của kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua dân chủ trực tiếp
Dân chủ trực tiếp là hình thức Nhân dân tự mình thể hiện ý chí, không qua người đại diện, đối với những vấn đề gắn với quyền, lợi ích của mình. Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025) xác định thực hiện dân chủ ở cơ sở là phương thức phát huy quyền làm chủ của Nhân dân để công dân được thông tin, thể hiện ý chí, nguyện vọng, chính kiến và tham gia, quyết định, kiểm tra, giám sát các vấn đề ở cơ sở. Luật tổ chức nội dung dân chủ ở xã, phường theo các cấp độ tăng dần: những nội dung chính quyền cấp xã phải công khai (Điều 11); những nội dung Nhân dân bàn và quyết định (Điều 15); những nội dung Nhân dân tham gia ý kiến và những nội dung Nhân dân kiểm tra, giám sát với thiết chế Ban Thanh tra nhân dân.
Từ góc độ kiểm soát quyền lực, dân chủ trực tiếp có ba thuộc tính. Thứ nhất, đó là kiểm soát từ gốc. Nhân dân kiểm soát với tư cách chủ thể đã ủy quyền, có quyền đòi hỏi quyền lực được ủy thác phải được sử dụng đúng mục đích. Thứ hai, đó là kiểm soát theo chiều dọc. O’Donnell (1998) phân biệt trách nhiệm giải trình theo chiều ngang (giữa các thiết chế nhà nước) và theo chiều dọc (giữa nhà nước với công dân); hai chiều bổ sung, không thay thế nhau. Thứ ba, đó là kiểm soát thường xuyên, sát sự việc. Người dân là những người đầu tiên thấy con đường làm ẩu, khoản đóng góp bất minh hay quyết định thu hồi đất thiếu căn cứ – những sai phạm mà thanh tra, kiểm toán thường chỉ phát hiện sau một độ trễ đáng kể.
Tuy nhiên, kiểm soát chỉ thực chất khi hội đủ hai yếu tố mà Schedler (1999) gọi là “khả năng buộc giải trình” (answerability) và “khả năng chế tài” (enforcement). Cả hai đều bắt đầu từ thông tin. Vì vậy, phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” mà Văn kiện Đại hội XIII yêu cầu kiên trì thực hiện (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 27-28) có trật tự logic nội tại: “dân biết” đứng đầu vì đó là điều kiện để mọi khâu phía sau có thể diễn ra.
2.2. Dịch chuyển tư duy: từ “tuyên truyền một chiều” sang trách nhiệm giải trình và tương tác hai chiều
Trong một thời gian dài, hoạt động thông tin của cơ quan hành chính thường được hiểu như việc phổ biến chủ trương đã quyết định: cơ quan nhà nước phát, người dân nhận; thông tin được cung cấp theo nhu cầu của người quản lý hơn là theo quyền của người dân. Lý thuyết quan hệ công chúng mô tả đây là mô hình “thông tin công cộng” một chiều, khác về chất với mô hình “hai chiều cân xứng”, nơi tổ chức và công chúng cùng điều chỉnh nhận thức, hành vi thông qua đối thoại (Grunig & Hunt, 1984). Arnstein (1969) cũng cảnh báo rằng, thông tin một chiều, không kèm kênh phản hồi và cơ chế tiếp thu, chỉ là nấc thang tham gia mang tính hình thức.
Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 21/3/2023 của Thủ tướng Chính phủ đánh dấu bước chuyển nhận thức khi khẳng định: “truyền thông chính sách là một nhiệm vụ, một chức năng quan trọng của cơ quan hành chính nhà nước các cấp”. Truyền thông chính sách vì thế không còn là hoạt động phụ trợ, tùy nghi mà là một chức năng của quản lý nhà nước. Chỉ thị yêu cầu “linh hoạt triển khai hoạt động truyền thông từ khi hoạch định chủ trương, xây dựng, hoàn thiện, ban hành và thực thi chính sách; bố trí bộ phận truyền thông chính sách tham gia góp ý, phản biện trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách”. Truyền thông chính sách được thiết kế để vừa “nói” vừa “nghe”.
Có thể khái quát ba dịch chuyển tư duy. Một là, từ “ban phát” sang “nghĩa vụ”: tiếp cận thông tin là quyền hiến định của công dân (Quốc hội, 2013, Điều 25), còn cung cấp thông tin kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân là nghĩa vụ pháp lý của cơ quan nhà nước (Quốc hội, 2016, Điều 3). Hai là, từ “thông báo” sang “giải trình”: người dân cần biết không chỉ chính quyền quyết định gì, mà vì sao, căn cứ vào đâu, ai chịu trách nhiệm. Ba là, từ “thời điểm” sang “chu trình”: truyền thông không dừng khi văn bản được ký ban hành, mà đồng hành với toàn bộ vòng đời chính sách, nhất là giai đoạn thực thi – nơi quyền lực được sử dụng trực tiếp đối với người dân.
Bài viết sử dụng khái niệm công cụ: truyền thông chính sách là hoạt động có tổ chức, có kế hoạch của cơ quan nhà nước nhằm công khai, giải thích, giải trình và đối thoại với nhân dân về chính sách trong toàn bộ chu trình chính sách, đồng thời thu nhận, xử lý phản hồi xã hội để điều chỉnh chính sách và hành vi công vụ. Với cách hiểu này, truyền thông chính sách vừa là công cụ quản lý, vừa là thiết chế của trách nhiệm giải trình.
2.3. Mối liên hệ logic: minh bạch – hiểu biết – tham gia – kiểm soát
Mối quan hệ giữa ba phạm trù có thể mô hình hóa thành chuỗi nhân quả bốn mắt xích.
Mắt xích thứ nhất – minh bạch thông tin. Truyền thông chính sách đưa thông tin về chủ trương, quy hoạch, ngân sách, dự án và kết quả thực thi ra khỏi phạm vi nội bộ bộ máy. Trong quan hệ ủy quyền giữa nhân dân và bộ máy công quyền, bất cân xứng thông tin là điều kiện để người được ủy quyền hành động vì lợi ích riêng mà không bị phát hiện; minh bạch trực tiếp thu hẹp khoảng bất cân xứng đó.
Mắt xích thứ hai – dân biết, dân hiểu. Công khai chưa đồng nghĩa với dân biết; dân biết chưa đồng nghĩa với dân hiểu. Một quyết định phê duyệt quy hoạch niêm yết ở trụ sở với hàng chục trang ký hiệu kỹ thuật là “công khai” về pháp lý nhưng có thể “đóng” về nhận thức. Chức năng riêng có của truyền thông chính sách là chuyển hóa thông tin pháp lý thành tri thức người dân sử dụng được.
Mắt xích thứ ba – dân bàn, dân giám sát. Khi hiểu, người dân mới có năng lực tham gia thực chất: bàn và quyết định việc của cộng đồng, góp ý dự thảo chính sách, phát hiện sai lệch giữa điều được công bố và điều được thực hiện. Fung (2006) chỉ ra chất lượng tham gia phụ thuộc vào ai tham gia, trao đổi theo cách nào và tiếng nói ấy tác động đến quyết định công đến đâu; truyền thông hai chiều là hạ tầng cho cả ba yếu tố.
Mắt xích thứ tư – hạn chế lạm quyền, nhũng nhiễu. Khi mọi quyết định đều có thể bị hỏi, bị so sánh, bị giám sát, rủi ro của hành vi lạm quyền tăng lên, lợi ích kỳ vọng của nó giảm xuống. Minh bạch vì vậy có tác dụng răn đe từ trước, không chỉ phát hiện sau. Nhận định của Brandeis rằng ánh sáng mặt trời được xem là chất tẩy uế tốt nhất (Brandeis, 1914, tr. 92) diễn đạt chính xác cơ chế phòng ngừa này. Từ đó rút ra mệnh đề trung tâm: không có minh bạch thông tin thì không thể có dân chủ trực tiếp thực chất. Khi mắt xích thứ nhất bị đứt, các khâu “bàn”, “kiểm tra”, “giám sát” chỉ còn là nghi thức: hội nghị vẫn họp, biểu quyết vẫn diễn ra, nhưng người dân quyết định trên cơ sở thông tin do chính đối tượng cần được giám sát chọn lọc. Chuỗi này còn có vòng phản hồi: kiểm soát hiệu quả nâng chất lượng chính sách và niềm tin xã hội, từ đó tăng sự sẵn sàng tham gia của người dân – chính là nội dung “dân thụ hưởng” trong phương châm của Đảng.
3. Thực trạng thực thi dân chủ trực tiếp qua lăng kính truyền thông chính sách
3.1. Những kết quả tích cực
Thứ nhất, hành lang thể chế cho truyền thông chính sách và công khai thông tin được củng cố nhanh. Sau Quyết định số 407/QĐ-TTg ngày 30/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị số 07/CT-TTg, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định việc truyền thông chính sách, dự thảo văn bản được thực hiện từ thời điểm lấy ý kiến đối tượng chịu tác động trực tiếp đến khi văn bản được thông qua hoặc ban hành. Luật Tiếp cận thông tin năm 2026, thay thế Luật năm 2016 sau 8 năm thi hành, mở rộng chủ thể cung cấp thông tin sang đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng dịch vụ cơ bản, thiết yếu, bổ sung nhóm thông tin phải công khai và đa dạng hóa hình thức công khai trên cổng thông tin, cổng dữ liệu.
Thứ hai, nền tảng số đã rút ngắn khoảng cách thông tin giữa chính quyền và người dân. Cổng thông tin điện tử, tài khoản Zalo OA, trang mạng xã hội chính thức của chính quyền các cấp đưa thông tin đến tận điện thoại người dân. Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình trên tổng số hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính trong tháng 10/2025 đạt 39,98%, tăng 1,72% so với cùng kỳ năm 2024 (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Đáng chú ý, nền tảng số đã bắt đầu công khai cả quá trình xử lý phản hồi. Ứng dụng iHanoi đã tiếp nhận hơn 94.000 phản ánh, kiến nghị; 75% phản ánh từ ngày 01/7/2025 đã được tiếp nhận, xử lý; tính năng “Bản đồ phản ánh” công khai số liệu theo từng xã, phường và danh sách địa phương có nhiều phản ánh quá hạn (VietNamNet, 2026). Công khai đơn vị chậm xử lý là một hình thức giải trình bằng dữ liệu: áp lực đến từ sự quan sát của công chúng chứ không chỉ từ văn bản đôn đốc nội bộ.
Thứ ba, công khai quy hoạch, dự án, ngân sách ở nhiều địa phương có chuyển biến. Nhiều địa phương đăng tải quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, danh mục dự án đầu tư công, dự toán và quyết toán ngân sách trên môi trường điện tử, tổ chức đối thoại về bồi thường, giải phóng mặt bằng. PAPI 2024 ghi nhận cải thiện ở các nội dung công khai, minh bạch trong ra quyết định ở địa phương, kiểm soát tham nhũng trong khu vực công và quản trị điện tử (UNDP, 2025) – bằng chứng cho thấy minh bạch và kiểm soát tham nhũng chuyển biến cùng chiều.
3.2. Những điểm nghẽn và hạn chế
Một là, tư duy bưng bít thông tin, ngại tiếp xúc báo chí và nhân dân vẫn tồn tại ở một bộ phận cơ quan, cán bộ. Chỉ thị số 07/CT-TTg thẳng thắn nhận diện: “Việc thiếu kế hoạch, thiếu chủ động, thiếu chuyên nghiệp trong cung cấp thông tin và truyền thông đã để xảy ra những sự cố, khủng hoảng truyền thông trên một số lĩnh vực” (Thủ tướng Chính phủ, 2023). Biểu hiện điển hình là tâm lý “im lặng là an toàn”: cơ quan chức năng chậm lên tiếng, người phát ngôn né tránh, thông tin chỉ được đưa ra khi dư luận đã bức xúc. Sự im lặng hành chính không làm vấn đề biến mất, mà trao quyền định nghĩa vấn đề cho những chủ thể không chịu trách nhiệm pháp lý. Đằng sau một số trường hợp bưng bít không chỉ là sự lúng túng về kỹ năng, mà là lợi ích cục bộ muốn né tránh giám sát.
Hai là, truyền thông chính sách ở không ít nơi còn khô khan, hình thức, mang tính đối phó. Công khai “đúng thủ tục” nhưng không “đến được người dân”: văn bản đăng nguyên dạng, thiếu diễn giải; hiệu quả đo bằng số tin bài hơn là mức độ người dân hiểu và phản hồi. Năng lực số giữa các tầng hành chính chênh lệch rõ: tháng 10/2025, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình của khối bộ, ngành đạt 54,46%, còn khối tỉnh, thành phố chỉ đạt 16,94% (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025) – tầng chính quyền gần dân nhất lại số hóa thấp hơn. PAPI 2024 cho thấy, phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số và người tạm trú đánh giá thấp hơn về tham gia và minh bạch (UNDP, 2025). Đây là sự đứt gãy ở mắt xích thứ hai: thông tin được “công khai” nhưng chưa được “hiểu”.
Ba là, truyền thông chính sách còn đứt đoạn trong chu trình chính sách. Nghĩa vụ truyền thông đã được quy định khá rõ trong giai đoạn xây dựng văn bản (Chính phủ, 2025). Nhưng giai đoạn thực thi – nơi quyền lực hành chính được sử dụng trực tiếp trong cấp phép, thu hồi đất, bồi thường, lựa chọn nhà thầu, phân bổ vốn đầu tư công – chưa có nghĩa vụ truyền thông tương xứng, ngoài các quy định công khai rời rạc theo luật chuyên ngành. Nghịch lý là rủi ro lạm quyền, nhũng nhiễu cao nhất lại tập trung ở giai đoạn truyền thông yếu nhất.
Bốn là, thiếu các kênh phản biện xã hội chính thống, khoa học. Các nền tảng tiếp nhận phản ánh chủ yếu xử lý sự vụ (hạ tầng, môi trường, trật tự đô thị), còn diễn đàn để người dân, chuyên gia, doanh nghiệp tranh luận có căn cứ về lựa chọn chính sách còn thưa thớt và thiếu cơ chế bảo đảm ý kiến được tiếp thu, giải trình. Khi thiếu kênh chính thống, nhu cầu thông tin không mất đi mà dịch chuyển sang mạng xã hội thiếu kiểm chứng. Hệ quả kép xuất hiện: dư luận bị dẫn dắt bởi thông tin sai lệch, “phiên tòa mạng” thay cho quy trình pháp lý; các thế lực thù địch lợi dụng khoảng trống thông tin để xuyên tạc, kích động, làm xói mòn niềm tin.
Năm là, nguồn lực chưa tương xứng với vị trí “chức năng quan trọng” đã được xác định. Chỉ thị số 07/CT-TTg ghi nhận nhiều bộ, ngành, địa phương “chưa có đội ngũ cán bộ làm truyền thông chính sách chuyên trách, chuyên nghiệp” (Thủ tướng Chính phủ, 2023). Sau sắp xếp bộ máy, khối lượng thông tin chính quyền cấp xã phải công khai tăng lên, trong khi Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 xác định Ủy ban nhân dân cấp xã chủ yếu cung cấp thông tin do mình tạo ra (Quốc hội, 2026) – hợp lý về phân định trách nhiệm, nhưng đòi hỏi liên thông dữ liệu giữa các cấp để người dân không phải tự “dò đường” giữa các cơ quan.
4. Một số giải pháp
Thứ nhất, thể chế hóa truyền thông chính sách thành quy trình bắt buộc trong mọi khâu của quản lý nhà nước.
Cần chuyển truyền thông chính sách từ yêu cầu chỉ đạo, điều hành thành nghĩa vụ pháp lý có tính quy trình trong toàn bộ chu trình chính sách. Mở rộng nghĩa vụ truyền thông sang giai đoạn tổ chức thực thi và đánh giá chính sách, buộc cơ quan thực thi định kỳ công bố tiến độ, kết quả, vướng mắc và điều chỉnh. Quy định “hồ sơ truyền thông chính sách” là thành phần bắt buộc của hồ sơ chính sách, dự án, gồm đối tượng chịu tác động, thông điệp, kênh, lịch trình, cơ chế tiếp nhận và giải trình phản hồi. Tận dụng các dự án đang được xây dựng – Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi) đã được bổ sung vào Chương trình lập pháp năm 2026 và nghị định về phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí thay thế Nghị định số 09/2017/NĐ-CP để thống nhất chuẩn mực về truyền thông, công khai và giải trình.
Song song, phải bảo đảm nguồn lực chuyên trách, độc lập tương đối, bố trí vị trí việc làm truyền thông chính sách như Chỉ thị số 07/CT-TTg yêu cầu; tách kinh phí truyền thông chính sách thành khoản mục riêng trong dự toán hằng năm; áp dụng cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ cho cơ quan báo chí. Độc lập tương đối nghĩa là bộ phận này không chỉ “quảng bá” cho cơ quan chủ quản mà tổng hợp trung thực phản hồi xã hội, kể cả phản hồi trái chiều, và báo cáo trực tiếp người đứng đầu. Hiệu quả cần đo bằng chỉ số kết quả – tỷ lệ người dân biết và hiểu chính sách, số ý kiến được tiếp thu, thời gian giải trình – thay cho chỉ số đầu vào như số tin bài.
Thứ hai, gắn trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu với công khai, minh bạch thông tin.
Minh bạch chỉ trở thành hành vi phổ biến khi sự thiếu minh bạch phải trả giá. Người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước phải chịu trách nhiệm cá nhân về việc công khai, cung cấp thông tin và phát ngôn của cơ quan mình; kết quả thực hiện là tiêu chí bắt buộc trong đánh giá, xếp loại cán bộ hằng năm và trong xem xét trách nhiệm khi để xảy ra khủng hoảng truyền thông do né tránh thông tin.
Với các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực – đất đai, đấu thầu, đầu tư công – cần chuyển từ “công khai theo yêu cầu” sang “công khai theo mặc định”: quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất công bố dưới dạng bản đồ số tra cứu được; phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư công khai kèm căn cứ tính toán; thông tin lựa chọn nhà thầu, tiến độ giải ngân, điều chỉnh tổng mức đầu tư cập nhật trên cổng dữ liệu. Mọi trường hợp không công khai phải nêu rõ lý do và có thể bị xem xét lại: không phải người dân chứng minh vì sao cần biết, mà cơ quan nhà nước phải chứng minh vì sao không thể công bố. Đồng thời, xử lý nghiêm và công khai kết quả xử lý các hành vi cố ý cung cấp thông tin sai lệch, không đầy đủ, trì hoãn cung cấp thông tin hoặc cản trở công dân thực hiện dân chủ ở cơ sở – những hành vi pháp luật đã nghiêm cấm.
Thứ ba, phát huy vai trò của báo chí cách mạng và các thiết chế đào tạo, nghiên cứu về báo chí – truyền thông.
Báo chí cách mạng là lực lượng xung kích của truyền thông chính sách, đồng thời là kênh giám sát, phản biện xã hội quan trọng. Cần phát huy báo chí theo ba hướng: một là, làm cầu nối hai chiều, chuyển tải chính xác tiếng nói của người dân và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền trả lời theo Luật Báo chí; hai là, tổ chức diễn đàn phản biện chính sách đa chiều, có tính khoa học – tọa đàm, đối thoại chính sách, chuyên mục “hỏi – đáp – giải trình” với người có thẩm quyền, trong đó ý kiến được chuyển đến cơ quan soạn thảo và được phản hồi công khai; ba là, định hướng dư luận bằng thông tin chính xác, kịp thời, đủ sức lấn át thông tin sai lệch – định hướng bằng sự thật và lập luận, không phải bằng sự im lặng.
Các thiết chế đào tạo, nghiên cứu về báo chí – truyền thông và lý luận chính trị có vai trò không thể thay thế: đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về truyền thông chính sách, kỹ năng phát ngôn, quản trị khủng hoảng cho cán bộ lãnh đạo, người phát ngôn và công chức, nhất là ở cấp xã sau sắp xếp; nghiên cứu, đề xuất bộ chỉ số đánh giá hiệu quả truyền thông chính sách dựa trên mức độ hiểu biết và tham gia của người dân; tổ chức khảo sát dư luận xã hội độc lập làm căn cứ hoạch định chính sách; là diễn đàn học thuật để giới nghiên cứu, báo chí và cơ quan quản lý cùng phản biện các chính sách lớn. Liên kết cơ quan quản lý – báo chí – cơ sở đào tạo sẽ tạo ra hệ sinh thái truyền thông chính sách chuyên nghiệp.
Thứ tư, chuyển đổi số toàn diện công tác truyền thông chính sách và xây dựng văn hóa “lắng nghe và giải trình”.
Về công nghệ, cần xây dựng nền tảng số thống nhất để người dân, từ một tài khoản định danh, tra cứu thông tin công khai, theo dõi tiến độ chính sách, dự án, gửi phản ánh, góp ý và nhận phản hồi có thời hạn. Mô hình “Bản đồ phản ánh” của iHanoi cho thấy hướng đi đúng: số hóa không chỉ để phát tin nhanh hơn, mà để quá trình xử lý của chính quyền trở nên quan sát được. Theo yêu cầu của Chỉ thị số 07/CT-TTg, cần ứng dụng công nghệ hiện đại để “phát hiện, dự báo các xu hướng thông tin tích cực và tiêu cực”, phản ứng sớm trước khi vấn đề thành khủng hoảng. Chuyển đổi số phải bảo đảm tính bao trùm: duy trì song song loa truyền thanh cơ sở, hội nghị thôn, tổ dân phố, tổ công nghệ số cộng đồng để người cao tuổi, đồng bào dân tộc thiểu số và người yếu thế về kỹ năng số không bị loại khỏi dân chủ trực tiếp.
Về văn hóa công vụ, công nghệ chỉ là điều kiện cần; điều kiện đủ là chuyển từ văn hóa “ra thông báo” sang văn hóa “lắng nghe và giải trình”: mọi phản ánh, góp ý hợp lệ đều được trả lời trong thời hạn xác định; mọi ý kiến không được tiếp thu đều được giải thích lý do; người đứng đầu định kỳ đối thoại trực tiếp với nhân dân và công bố kết quả. Khi mỗi cán bộ, công chức coi giải trình trước nhân dân là bổn phận tự nhiên của người được ủy quyền, truyền thông chính sách sẽ vượt khỏi phạm vi kỹ thuật để trở thành phẩm chất của nền công vụ.
5. Kết luận
Truyền thông chính sách là mắt xích khởi đầu của chuỗi nhân quả nối minh bạch thông tin với dân chủ trực tiếp và kiểm soát quyền lực: minh bạch làm cho dân biết; truyền thông hai chiều làm cho dân hiểu, dân bàn; hiểu biết và tham gia tạo ra năng lực giám sát; giám sát thường xuyên thu hẹp cơ hội lạm quyền, nhũng nhiễu. Đứt bất kỳ mắt xích nào, dân chủ trực tiếp sẽ rơi vào hình thức.
Thực tiễn giai đoạn 2023 – 2026 cho thấy, Việt Nam đã có bước tiến rõ rệt về thể chế và hạ tầng số cho công khai, minh bạch, với các dấu mốc là Chỉ thị số 07/CT-TTg, Luật Báo chí năm 2025 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2026. Điểm nghẽn còn lại chủ yếu không nằm ở thiếu quy định, mà ở tư duy quản lý thông tin thay cho giải trình bằng thông tin, ở sự đứt đoạn của truyền thông trong giai đoạn thực thi, ở sự thiếu vắng diễn đàn phản biện chính thống và cơ chế trách nhiệm chưa đủ ràng buộc. Bốn nhóm giải pháp đề xuất cần được triển khai đồng bộ, trong đó trách nhiệm người đứng đầu là khâu then chốt. Dân chủ trực tiếp chỉ vận hành hiệu quả và quyền lực nhà nước chỉ được kiểm soát tốt, khi mọi hoạt động của bộ máy được đặt dưới ánh sáng của sự minh bạch thông qua một mạng lưới truyền thông chính sách đồng bộ, hiện đại, lấy người dân làm trung tâm. Đó không chỉ là yêu cầu kỹ thuật của quản trị hiện đại, mà là cách thiết thực để hiện thực hóa quan điểm “dân là gốc” và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Tài liệu tham khảo:
Arnstein, S. R. (1969). A ladder of citizen participation. Journal of the American Institute of Planners, 35(4), 216-224.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Bộ Khoa học và Công nghệ (19/11/2025). Dịch vụ công trực tuyến tiếp tục mở rộng, tỷ lệ hồ sơ toàn trình tăng gần 40%. https://mst.gov.vn
Chính phủ (2025). Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 15). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Fung, A. (2006). Varieties of participation in complex governance. Public Administration Review, 66(s1), 66-75.
Grunig, J. E., & Hunt, T. (1984). Managing public relations. Holt, Rinehart and Winston.
O’Donnell, G. (1998). Horizontal accountability in new democracies. Journal of Democracy, 9(3), 112-126.
Quốc hội (2013, 2025). Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Quốc hội (2016). Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.
Quốc hội (2022). Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022.
Quốc hội (2025a). Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Quốc hội (2025b). Luật số 97/2025/QH15 ngày 27/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Quốc hội (2025c). Luật Báo chí năm 2025.
Quốc hội (2026). Luật Tiếp cận thông tin năm 2026.
Schedler, A. (1999). Conceptualizing accountability. In A. Schedler, L. Diamond, & M. F. Plattner (Eds.), The self-restraining state: Power and accountability in new democracies (pp. 13-28). Lynne Rienner.
Transparency International. (2026). Corruption Perceptions Index 2025: Viet Nam. https://www.transparency.org/en/countries/vietnam
UNDP. (2025, April 15). New PAPI report: Government reforms offer historic opportunity to enhance local governance for all [Press release]. https://www.undp.org/vietnam
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 407/QĐ-TTg ngày 30/3/2022 phê duyệt Đề án “Tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2022 – 2027”.
Thủ tướng Chính phủ (2023). Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 21/3/2023 về việc tăng cường công tác truyền thông chính sách.
VietNamNet (08/5/2026). Cung cấp số liệu trực quan về phản ánh của người dân trên ứng dụng iHanoi. https://vietnamnet.vn



