Quan điểm của Đảng về cải cách thể chế hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2025

The Communist Party of Vietnam’s perspectives on reforming the institutional framework of state administration, 2011–2025

ThS. Nguyễn Minh Quân
NCS Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Hà Nội
Email: minhquan060796@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Cải cách thể chế hành chính nhà nước tạo lập khuôn khổ pháp lý cho tổ chức và hoạt động của nền hành chính, đồng thời bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân và tạo môi trường thuận lợi cho phát triển. Trên cơ sở phân tích quan điểm, chủ trương của Đảng và kết quả thực hiện trong hai giai đoạn 2011–2020 và 2021–2025, bài viết làm rõ sự chuyển biến từ yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật sang tư duy kiến tạo thể chế phát triển, phân cấp gắn với kiểm soát quyền lực và quản trị dựa trên dữ liệu. Kết quả cho thấy hệ thống pháp luật, tổ chức bộ máy, thủ tục hành chính và cơ chế tham gia của người dân đã có bước tiến rõ rệt; tuy nhiên, chất lượng tổ chức thi hành, tính thống nhất của pháp luật và khả năng liên thông dữ liệu vẫn cần tiếp tục được cải thiện. Bài viết đề xuất 4 nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xây dựng và thi hành pháp luật, hoàn thiện thể chế số và tăng cường trách nhiệm giải trình trong giai đoạn mới.

Từ khóa: Cải cách hành chính; thể chế hành chính; Đảng Cộng sản Việt Nam; quản trị quốc gia; Nhà nước kiến tạo phát triển.

Abstract: Reforming state administrative institutions establishes the legal framework for organizing and operating public administration, safeguards citizens’ participation, and supports development. Drawing on an analysis of the Communist Party of Vietnam’s perspectives and implementation outcomes during 2011–2020 and 2021–2025, this article traces the shift from improving the legal system toward development-oriented institutional reform, decentralization coupled with power control, and data-driven governance. The findings indicate substantial progress in the legal framework, administrative organization, procedure simplification, and public participation. Nevertheless, law enforcement quality, legal coherence, and data interoperability require further improvement. The article proposes four groups of measures to strengthen lawmaking and implementation, develop digital institutions, and enhance accountability in the next stage.

Keywords: Administrative reform; administrative institutions; Communist Party of Vietnam; national governance; developmental state.

1. Đặt vấn đề

Thể chế là hệ thống các quy tắc chính thức và phi chính thức định hướng hành vi, phân bổ thẩm quyền và điều chỉnh các mối quan hệ giữa các chủ thể. Trong phạm vi quản lý nhà nước, cải cách thể chế hành chính là quá trình rà soát, sửa đổi và hoàn thiện các quy định về tổ chức, thẩm quyền, thủ tục và phương thức hoạt động của nền hành chính nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả và chất lượng phục vụ. Nguyễn Thanh Bình (2021, tr. 53) nhấn mạnh rằng cải cách thể chế đòi hỏi thay thế những quy tắc không còn phù hợp bằng các quy tắc đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Cách tiếp cận này cho thấy cải cách thể chế không dừng lại ở việc ban hành văn bản mà còn bao gồm cả chất lượng tổ chức thi hành và kết quả mà người dân, doanh nghiệp nhận được.

Giai đoạn 2011-2025 gắn với hai chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước, quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi số quốc gia. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu quan điểm của Đảng về cải cách thể chế hành chính có ý nghĩa ở hai phương diện. Về lý luận, nghiên cứu làm rõ sự phát triển trong tư duy lãnh đạo, từ việc hoàn thiện pháp luật và tổ chức bộ máy đến kiến tạo thể chế phát triển, phân cấp, phân quyền và kiểm soát quyền lực. Về mặt thực tiễn, việc đối chiếu chủ trương với kết quả thực hiện giúp nhận diện những chuyển biến, giới hạn và yêu cầu đặt ra cho giai đoạn tiếp theo.

2. Quan điểm và chủ trương của Đảng về cải cách thể chế hành chính giai đoạn 2011–2025

Từ khi khởi xướng công cuộc đổi mới, Đảng đã đặt cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước trong mối quan hệ trực tiếp với việc bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân. Đại hội VI yêu cầu “tăng cường bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương và cơ sở thành một hệ thống thống nhất, có sự phân định rành mạch nhiệm vụ, quyền hạn” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019a, tr. 115). Quan điểm này xác lập hai yêu cầu nền tảng: tổ chức quyền lực hành chính phải thống nhất, đồng thời nhiệm vụ và trách nhiệm của mỗi cấp phải được phân định rõ ràng.

Đại hội XI tiếp tục gắn cải cách hành chính với việc nâng cao năng lực quản lý vĩ mô, trong đó nhấn mạnh “chất lượng xây dựng thể chế, quy hoạch, năng lực dự báo và khả năng phản ứng chính sách trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019b, tr. 492). Như vậy, thể chế được nhìn nhận không chỉ là công cụ quản lý mà còn là điều kiện để Nhà nước dự báo, lựa chọn và điều chỉnh chính sách kịp thời.

Đại hội XII phát triển tư duy này theo hướng xây dựng Chính phủ kiến tạo, phục vụ. Nhiệm vụ cải cách thể chế được đặt trong yêu cầu bãi bỏ thủ tục gây phiền hà, nâng cao trách nhiệm giải trình và “tạo dựng thể chế, luật pháp, cơ chế, chính sách và môi trường, điều kiện thuận lợi, an toàn để kinh tế thị trường vận hành đầy đủ, thông suốt, hiệu quả và hội nhập quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019b, tr. 800). Điểm mới là chất lượng thể chế được đánh giá từ khả năng bảo đảm quyền, tạo môi trường cạnh tranh và giảm chi phí tuân thủ cho các chủ thể xã hội.

Đại hội XIII xác định hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển là một trong ba đột phá chiến lược. Trọng tâm là nâng cao chất lượng xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng; huy động, quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực bằng pháp luật (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 203). Cải cách thể chế hành chính vì thế gắn chặt hơn với đổi mới quản trị quốc gia và trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan.

Trên cơ sở đó, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới yêu cầu xây dựng nền hành chính phục vụ Nhân dân, chuyên nghiệp, pháp quyền, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả. Nghị quyết đồng thời xác định rõ yêu cầu phân cấp, phân quyền hợp lý, đi đôi với bảo đảm nguồn lực, nâng cao năng lực thực hiện, tăng cường kiểm tra, giám sát và giữ vững sự quản lý thống nhất của Chính phủ (Ban Chấp hành Trung ương, 2022).

Đến năm 2025, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đặt cải cách pháp luật trong tư duy kiến tạo phát triển, coi chất lượng xây dựng và thi hành pháp luật là điều kiện trực tiếp để tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và bảo vệ quyền con người, quyền công dân (Bộ Chính trị, 2025). Chủ trương này bổ sung chiều sâu cho cải cách thể chế hành chính: kết quả cải cách phải được đo lường bằng mức độ thống nhất, tính khả thi của quy định, hiệu quả thi hành và chi phí tuân thủ trên thực tế.

Nhìn tổng thể, quan điểm của Đảng trong giai đoạn 2011–2025 phát triển theo hướng ngày càng rõ ràng về mục tiêu, chủ thể chịu trách nhiệm và tiêu chí đánh giá. Nếu giai đoạn đầu tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức bộ máy, thì giai đoạn sau nhấn mạnh hơn vào kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại, phân quyền có kiểm soát, chuyển đổi số và mức độ hài lòng của người dân.

3. Thực hiện cải cách thể chế hành chính ở Việt Nam giai đoạn 2011–2025

3.1. Giai đoạn 2011–2020

Trong giai đoạn này, Chính phủ tổ chức thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước theo Nghị quyết số 30-NQ/CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ. Cải cách thể chế tập trung vào việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật; đổi mới quy trình xây dựng văn bản; tổ chức theo dõi việc thi hành; và rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Báo cáo tổng kết của Chính phủ cho thấy trong giai đoạn 2011–2015, Chính phủ đã trình 106 dự án luật và 8 dự án pháp lệnh; Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua 64 luật, 19 luật sửa đổi, bổ sung và 5 dự án pháp lệnh. Trong giai đoạn 2016–2020, Chính phủ ban hành 739 nghị định; Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua 98 luật và 18 pháp lệnh, nghị quyết (Chính phủ, 2021a).

Bảng 1. Số văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành giai đoạn 2011–2020

Chỉ tiêu2011–20152016–2020
Tổng số văn bản quy phạm pháp luật283.546102.280
Nguồn: Chính phủ (2021a, tr. 10).

Số lượng văn bản của địa phương giảm mạnh trong giai đoạn 2016–2020 so với giai đoạn 2011–2015. Kết quả này phản ánh xu hướng chuyển trọng tâm từ ban hành mới sang rà soát, tổ chức thi hành và xử lý các văn bản không còn phù hợp. Tuy nhiên, số lượng văn bản tự thân không phải là thước đo đầy đủ; chất lượng, tính thống nhất và hiệu quả áp dụng mới là căn cứ chủ yếu để đánh giá cải cách thể chế.

Về tổ chức bộ máy, Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 tạo cơ sở pháp lý để xác định chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ giữa các cấp hành chính. Chính phủ ban hành Nghị định số 08/2012/NĐ-CP ngày 16/02/2012 và Nghị định số 138/2016/NĐ-CP ngày 01/10/2016 về Quy chế làm việc của Chính phủ. Trong lĩnh vực công vụ, việc sửa đổi pháp luật năm 2019 đối với cán bộ, công chức và viên chức góp phần điều chỉnh các quy định về tuyển dụng, sử dụng, đánh giá và kỷ luật theo các yêu cầu mới.

Cải cách thể chế kinh tế thị trường được thúc đẩy thông qua việc ban hành và sửa đổi nhiều đạo luật, trong đó có Luật Đầu tư năm 2014, Luật Cạnh tranh năm 2018 và Luật Doanh nghiệp năm 2020. Các thay đổi này hướng tới việc tháo gỡ rào cản gia nhập thị trường, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và thực hiện các cam kết quốc tế. Cùng với đó, việc công khai thông tin và tiếp nhận phản ánh trên môi trường mạng từng bước mở rộng khả năng giám sát và tương tác của người dân với cơ quan hành chính.

3.2. Giai đoạn 2021–2025

Ngày 15/7/2021, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 76/NQ-CP về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021–2030. Chương trình xác định 6 nội dung cải cách, trong đó cải cách thể chế là một trọng tâm; mục tiêu là xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, có năng lực kiến tạo phát triển, liêm chính và phục vụ Nhân dân (Chính phủ, 2021b). Khung chương trình này tạo sự liên kết giữa việc hoàn thiện pháp luật, cải cách thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy, chế độ công vụ, tài chính công và xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số.

Công tác xây dựng pháp luật năm 2025 diễn ra với cường độ cao nhằm đáp ứng yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Theo Báo cáo số 12662/BC-BNV, Chính phủ đã trình Quốc hội thông qua 89 luật; các bộ, ngành tham mưu trình Chính phủ ban hành 353 nghị định và ban hành theo thẩm quyền 898 thông tư; hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành 5.654 văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Nội vụ, 2025, tr. 5). Những con số này cho thấy khối lượng công việc rất lớn, đồng thời đặt ra yêu cầu kiểm soát chặt chẽ tính thống nhất, khả thi và chất lượng tổ chức thi hành.

Nhiều đạo luật quan trọng về tổ chức và nhân sự hành chính được ban hành trong năm 2025, gồm Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, Luật Cán bộ, công chức năm 2025 và Luật Viên chức năm 2025. Các đạo luật này tạo cơ sở pháp lý để phân định thẩm quyền, tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và quản lý đội ngũ theo vị trí việc làm. Việc đánh giá hiệu quả cần tiếp tục theo dõi sau giai đoạn chuyển tiếp, đặc biệt ở cấp xã, nơi tiếp nhận thêm nhiều nhiệm vụ nhưng năng lực và điều kiện thực hiện còn khác nhau.

Cơ chế bảo đảm quyền tham gia và giám sát của người dân tiếp tục được hoàn thiện thông qua Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022; Nghị định số 42/2022/NĐ-CP ngày 24/6/2022 của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến của cơ quan nhà nước trên môi trường mạng; và Nghị định số 59/2023/NĐ-CP ngày 14/8/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở. Đến cuối năm 2025, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo năm 2025 sẽ bổ sung cơ sở pháp lý cho việc tiếp công dân trực tuyến và điều chỉnh thẩm quyền cho phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh đã đạt được một số kết quả cụ thể. Tính đến ngày 01/12/2025, các bộ, cơ quan đã sửa đổi, bổ sung hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản để đơn giản hóa 868 thủ tục hành chính, bãi bỏ 260 thủ tục và cắt giảm 232 điều kiện kinh doanh. Kết quả thực hiện tương ứng với mức giảm 9,54% thời gian giải quyết, 20,41% chi phí tuân thủ và 3,46% chi phí kinh doanh (Văn phòng Chính phủ, 2025). Những chỉ số này phản ánh tác động trực tiếp của cải cách đối với người dân và doanh nghiệp, nhưng cũng cho thấy dư địa cải cách còn lớn so với mục tiêu cắt giảm tối thiểu 30% trong chương trình của Chính phủ năm 2025 và 2026.

Kết quả SIPAS năm 2025 cho thấy mức độ hài lòng chung của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước đạt 83,09%. Mức độ hài lòng đối với cơ hội tham gia xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách đạt 82,83%; mức độ hài lòng đối với việc tiếp cận dịch vụ hành chính công đạt 83,65% (Bộ Nội vụ, 2026). Các kết quả này phản ánh sự cải thiện về chất lượng phục vụ, đồng thời cho thấy cơ chế tham gia chính sách và phản hồi hai chiều vẫn cần được củng cố.

Nhìn chung, giai đoạn 2021–2025 đã hình thành một khung pháp lý mới về tổ chức bộ máy, công vụ, dân chủ ở cơ sở, dịch vụ công trực tuyến và phân cấp, phân quyền. Tuy nhiên, tốc độ ban hành văn bản cao làm gia tăng nguy cơ chồng chéo, thiếu ổn định hoặc phát sinh khoảng trống trong giai đoạn chuyển tiếp. Cải cách thể chế, vì vậy, cần chuyển mạnh từ việc chú trọng số lượng văn bản sang quản trị chất lượng pháp luật trong toàn bộ vòng đời của chính sách.

4. Giải pháp nâng cao hiệu quả cải cách thể chế hành chính nhà nước

Một là, nâng cao năng lực lãnh đạo và trách nhiệm tổ chức thực hiện của cấp ủy, người đứng đầu đối với cải cách thể chế hành chính. Việc quán triệt chủ trương cần gắn với mục tiêu, tiến độ, nguồn lực và các chỉ số kết quả cụ thể; tránh đồng nhất kết quả cải cách với số lượng văn bản hoặc nhiệm vụ đã hoàn thành về mặt thủ tục. Cơ quan chủ trì phải thường xuyên đánh giá tác động sau khi ban hành và công khai việc xử lý các quy định gây vướng mắc.

Hai là, đổi mới quy trình xây dựng pháp luật theo định hướng của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị. Dự thảo chính sách cần dựa trên bằng chứng, dữ liệu và đánh giá chi phí tuân thủ; việc lấy ý kiến phải hướng đến các nhóm chịu tác động trực tiếp. Cùng với việc kiểm soát tính hợp hiến, hợp pháp, cần kiểm tra tính thống nhất giữa pháp luật về tổ chức bộ máy, pháp luật chuyên ngành và các quy định về phân cấp. Đối với văn bản phục vụ mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cần có cơ chế theo dõi sớm để phát hiện các nhiệm vụ được giao nhưng chưa kèm theo nguồn lực, nhân sự hoặc hạ tầng dữ liệu.

Ba là, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành pháp luật và trách nhiệm giải trình. Mỗi chính sách cần xác định rõ cơ quan đầu mối, quy trình phối hợp, nguồn lực thực hiện và tiêu chí đánh giá. Hoạt động kiểm tra cần ưu tiên những lĩnh vực có nhiều phản ánh, kiến nghị hoặc có chi phí tuân thủ cao; kết quả kiểm tra và phương án khắc phục phải được công khai trong phạm vi pháp luật cho phép. Phản ánh của người dân và doanh nghiệp cần được phân tích như một nguồn dữ liệu quản trị, thay vì chỉ xử lý từng vụ việc một cách riêng lẻ.

Bốn là, hoàn thiện thể chế số gắn với cải cách thủ tục hành chính. Cần thống nhất quy tắc quản trị, kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan; bảo đảm nguyên tắc chỉ cung cấp thông tin một lần đối với dữ liệu Nhà nước đã có; đồng thời thiết kế dịch vụ công theo nhu cầu và khả năng tiếp cận của người sử dụng. Việc số hóa phải đi kèm với bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn hệ thống, lưu trữ hồ sơ điện tử và cơ chế xác định trách nhiệm khi dữ liệu sai hoặc quy trình tự động gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Các giải pháp trên cần được triển khai thống nhất với Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng ngày 23/01/2026 và Quyết định số 282/QĐ-TTg ngày 12/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước trọng tâm giai đoạn 2026–2030. Trọng tâm không chỉ là tiếp tục hoàn thiện quy định mà còn phải bảo đảm hệ thống hành chính vận hành liên tục, có khả năng phối hợp dựa trên cơ sở dữ liệu và chịu trách nhiệm về kết quả phục vụ.

5. Kết luận

Giai đoạn 2011-2025 đánh dấu sự phát triển rõ rệt trong quan điểm của Đảng về cải cách thể chế hành chính. Tư duy cải cách chuyển từ việc nhấn mạnh hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức bộ máy sang kiến tạo thể chế phát triển, quản trị hiện đại, phân cấp gắn với kiểm soát quyền lực và lấy người dân làm trung tâm. Trên cơ sở đó, Chính phủ và các cơ quan hành chính đã xây dựng khung pháp lý tương đối toàn diện về tổ chức bộ máy, công vụ, thủ tục hành chính, dân chủ ở cơ sở và chuyển đổi số.

Kết quả đạt được thể hiện ở khối lượng pháp luật được hoàn thiện, mức độ cắt giảm thủ tục và chi phí tuân thủ, cùng với mức độ hài lòng tương đối cao của người dân. Tuy nhiên, yêu cầu của giai đoạn mới đòi hỏi cải cách phải chú trọng hơn đến tính ổn định, tính thống nhất, tính khả thi và hiệu quả trong quá trình thực thi. Chất lượng thể chế cần được đánh giá dựa trên khả năng bảo vệ quyền, giải phóng nguồn lực, giảm chi phí tuân thủ và nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bộ Nội vụ (2025). Báo cáo số 12662/BC-BNV ngày 26/12/2025 về tình hình thực hiện công tác cải cách hành chính năm 2025.
Bộ Nội vụ (11/5/2026). Báo cáo Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2025. https://moha.gov.vn/tin-tuc/tai-lieu-cong-bo-chi-so-sipas-chi-so-par-index-2025—id19459
Chính phủ. (2021a). Báo cáo số 128/BC-CP ngày 19/4/2021 tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011–2020 và định hướng giai đoạn 2021–2030.
Chính phủ. (2021b). Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021–2030.
Chính phủ. (2022). Nghị định số 42/2022/NĐ-CP ngày 24/6/2022 quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến của cơ quan nhà nước trên môi trường mạng.
Chính phủ. (2023). Nghị định số 59/2023/NĐ-CP ngày 14/8/2023 quy định chi tiết một số điều của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2019). Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới: Phần I (Đại hội VI, VII, VIII, IX). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2019b). Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới: Phần II (Đại hội X, XI, XII). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (23/01/2026). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/tin-hoat-dong/nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang.html
Nguyễn Thanh Bình. (2021). Cải cách thể chế – điều kiện tiên quyết để xây dựng Chính phủ kiến tạo ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Giáo dục Lý luận, (321), 50–55.
Quốc hội (2022). Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022.
Quốc hội (2025a). Luật Cán bộ, công chức năm 2025.
Quốc hội (2025b). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo năm 2025.
Quốc hội (2025c). Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025.
Quốc hội (2025d). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Quốc hội (2025e). Luật Viên chức năm 2025.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 282/QĐ-TTg ngày 12/02/2026 ban hành Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước trọng tâm giai đoạn 2026–2030.
Văn phòng Chính phủ (2025). Báo cáo tình hình và kết quả cải cách thủ tục hành chính tháng 11/2025.