Quản trị quốc gia hiện đại trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: những điểm nhấn từ Đại hội XIV của Đảng và định hướng hoàn thiện

Modern national governance in building a socialist rule-of-law state in Vietnam: highlights from the 14th National Party Congress and directions for further improvement

TS. Trần Thị Cẩm Tú
Học viện Chính trị khu vực IV

Email: trantuvl85@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết xem xét quản trị quốc gia hiện đại như một phương thức vận hành Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở Nghị quyết số 27-NQ/TW, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV và những thay đổi của pháp luật, bài viết phân tích năm phương diện của quản trị hiện đại: nền tảng pháp quyền; năng lực quản trị; kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình; sự tham gia, tính đáp ứng và công bằng; quản trị dữ liệu, công nghệ và rủi ro. Kết quả cho thấy, cải cách đang chuyển từ thiết kế thể chế sang nâng cao năng lực thực thi, kết quả phục vụ Nhân dân và quản trị số. Điểm nghẽn chủ yếu là sự thiếu đồng bộ giữa thẩm quyền, nguồn lực, năng lực, dữ liệu và trách nhiệm. Bên cạnh đó, đề xuất bảy nhóm giải pháp nhằm thu hẹp khoảng cách giữa thiết kế thể chế và hiệu quả quản trị.

Từ khóa: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; quản trị quốc gia hiện đại; Đại hội XIV; kiểm soát quyền lực; trách nhiệm giải trình; chuyển đổi số.

Abstract: This article examines modern national governance as a mode of operation for Vietnam’s socialist rule-of-law state. Drawing on Resolution No. 27-NQ/TW, documents from the 14th Party Congress, and legislative updates, the article analyzes five dimensions of modern governance: the rule-of-law foundation; governance capacity; power oversight and accountability; participation, responsiveness, and equity; and the governance of data, technology, and risk. Findings indicate that reform efforts are shifting from institutional design toward enhancing implementation capacity, improving outcomes in serving the people, and strengthening digital governance. The primary bottleneck is the lack of alignment among authority, resources, capacity, data, and responsibility. The article proposes seven sets of solutions to bridge the gap between institutional design and governance effectiveness.

Keywords: Socialist rule-of-law state; modern national governance; 14th Party Congress; power oversight; accountability; digital transformation.

1. Đặt vấn đề

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị và bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân. Quá trình hội nhập quốc tế, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI), biến đổi khí hậu và những thách thức an ninh phi truyền thống đang làm thay đổi cách thức tổ chức, vận hành của cơ quan công quyền. Cách thức quản lý dựa trên mệnh lệnh hành chính, thủ tục cấp phép hay các quy định về tiền kiểm vẫn cần thiết nhưng không đủ để xử lý những vấn đề có tính liên ngành, liên cấp. Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay, Nhà nước phải nâng cao năng lực dự báo, điều phối và quản trị rủi ro. Các cơ quan công quyền cũng phải chịu trách nhiệm về kết quả do quyết định và hoạt động của mình tạo ra.

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 xác định mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2022). Theo đó, pháp luật phải được thực hiện nghiêm minh, quyền lực phải được kiểm soát, bộ máy của hệ thống chính trị phải tinh gọn và nền quản trị quốc gia phải hiện đại, hiệu quả. Quản trị hiện đại chính là phương thức vận hành Nhà nước pháp quyền trong thực tế. Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh tính hành động, kỷ luật thực thi, sự minh bạch, trách nhiệm giải trình và mức độ hài lòng của Nhân dân. Qua đó, tính hợp pháp của quyền lực được gắn chặt hơn với năng lực tổ chức thực hiện và kết quả xã hội đạt được (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr. 15-16, 29-31).

Trong các nghiên cứu gần đây, cách tiếp cận nhà nước pháp quyền tập trung chủ yếu vào vấn đề chủ quyền của Nhân dân, vị trí của Hiến pháp và pháp luật, quyền con người cùng cơ chế kiểm soát quyền lực. Cách tiếp cận quản trị chú trọng vào năng lực của nhà nước, chất lượng chính sách, sự phối hợp giữa các chủ thể quyền lực và các bên liên quan, trách nhiệm giải trình cũng như kết quả công (Fukuyama, F., 2013). Các quy định về trách nhiệm giải trình buộc chủ thể thực thi quyền lực phải cung cấp thông tin, giải thích căn cứ của quyết định và chịu trách nhiệm pháp lý nếu vi phạm quy định của Nhà nước (Bovens, M.,2007). Hai cách tiếp cận có trọng tâm khác nhau nhưng không tách rời nhau. Vấn đề cần giải quyết là kết nối chúng như thế nào trong điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Bài viết sử dụng phương pháp phân tích văn kiện, phân tích pháp lý – thể chế và phân tích khái niệm. Đồng thời, trên cơ sở đó, đặt ra ba câu hỏi, như: (1) Quản trị quốc gia hiện đại cần được nhận thức như thế nào? (2) Đại hội XIV của Đảng và những thay đổi của hệ thống pháp luật đã tạo nên các điểm nhấn gì? (3) Giải pháp nào cần được ưu tiên?

2. Cơ sở lý luận

2.1. Khái niệm và mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền với quản trị quốc gia hiện đại

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam tổ chức và thực hiện quyền lực trên nền tảng chủ quyền của Nhân dân, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, có trách nhiệm tôn trọng, bảo đảm quyền con người và quyền công dân. Xét về tổ chức, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; nguyên tắc này vừa duy trì tính thống nhất, vừa xác định thẩm quyền và trách nhiệm của từng cơ quan. Trong Nhà nước pháp quyền, pháp luật không chỉ được dùng để quản lý xã hội. Pháp luật còn ràng buộc cơ quan, cá nhân nắm giữ quyền lực công, bảo vệ quyền con người và tạo căn cứ xử lý nghiêm hành vi sử dụng quyền lực sai thẩm quyền hoặc sai mục đích.

Quản trị quốc gia là quá trình xác lập mục tiêu công, huy động nguồn lực, phối hợp hành động giữa các chủ thể và các bên liên quan để giải quyết vấn đề ở tầm quốc gia. So với quản lý nhà nước, quản trị quốc gia có phạm vi rộng hơn, vì còn bao quát quan hệ phối hợp giữa các bên liên quan, cơ chế phản hồi, trách nhiệm giải trình, kết quả quản trị và giá trị công được tạo ra.

Quản trị quốc gia không đồng nghĩa với việc phân tán quyền lực nhà nước hoặc làm mờ vai trò lãnh đạo của Đảng. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, đường lối, định hướng chiến lược, thông qua công tác cán bộ, kiểm tra và giám sát. Nhà nước thể chế hóa chủ trương của Đảng, tổ chức thi hành pháp luật, quản lý xã hội và chịu trách nhiệm về các quyết định công. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, tham gia xây dựng chính sách, giám sát việc thực thi quyền lực và phản biện xã hội. Phân định đúng vai trò của từng chủ thể vừa bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, vừa hạn chế tình trạng bao biện, làm thay, vừa gắn tính chủ động của mỗi cá nhân và tổ chức với trách nhiệm của họ.

Nhà nước pháp quyền và quản trị quốc gia hiện đại có mối quan hệ hữu cơ, nhưng không đồng nhất với nhau. Nhà nước pháp quyền cung cấp cơ sở hiến định và đặt ra giới hạn để quyền lực được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng mục đích; quản trị hiện đại chuyển các nguyên tắc ấy thành năng lực hoạch định chính sách, tổ chức thực thi và phối hợp hành động. Nếu thiếu năng lực quản trị, Nhà nước pháp quyền có thể chỉ dừng ở những quy định mang tính hình thức. Ngược lại, nền quản trị chỉ theo đuổi hiệu quả mà thiếu giới hạn pháp quyền dễ rơi vào xu hướng “duy kỹ trị”, coi nhẹ quyền và trách nhiệm. Do đó, việc hiện đại hóa quản trị phải đi cùng với củng cố pháp quyền. Mức độ hoàn thiện của Nhà nước pháp quyền không thể chỉ đo bằng số lượng văn bản đã ban hành mà còn bằng hiệu lực thi hành, khả năng tiếp cận công lý và sự hài lòng của Nhân dân.

2.2. Khung phân tích quản trị quốc gia hiện đại trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Khung phân tích quản trị quốc gia hiện đại gồm năm phương diện cơ bản, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trước hết, là nền tảng pháp quyền, thể hiện ở tính hợp hiến, hợp pháp, sự rõ ràng về thẩm quyền của chủ thể quyền lực, khả năng dự đoán của pháp luật và mức độ bảo vệ các quyền. Một quyết định đem lại hiệu quả trước mắt nhưng thiếu căn cứ pháp lý, hoặc xâm phạm quyền con người, quyền công dân thì không thể được xem là quản trị hiện đại.

Thứ hai, đó là năng lực quản trị, thể hiện ở khả năng dự báo, hoạch định chính sách, tổ chức nguồn lực, thực thi và xử lý khủng hoảng. Năng lực của nhà nước không chỉ phụ thuộc vào quy mô bộ máy mà còn vào sự tương thích giữa nhiệm vụ với thẩm quyền, nhân lực, tài chính và công cụ thực hiện. Khi các yếu tố này không đồng bộ, bộ máy dù lớn vẫn khó vận hành hiệu quả.

Thứ ba, cơ chế kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình, với mục tiêu trước hết là phòng ngừa lạm quyền, lợi ích nhóm và việc sử dụng quyền lực sai mục đích. Trách nhiệm giải trình đòi hỏi chủ thể có thẩm quyền phải công khai thông tin, giải thích căn cứ lựa chọn phương án và chịu hậu quả pháp lý nếu quyết định trái pháp luật hoặc gây thiệt hại cho Nhà nước và xã hội. Hai cơ chế này phải hiện diện trong toàn bộ quá trình ra quyết định.

Thứ tư, sự tham gia, tính đáp ứng và công bằng. Nhân dân không chỉ tiếp nhận dịch vụ công mà còn tham gia góp ý chính sách và giám sát cơ quan công quyền. Nền quản trị có tính đáp ứng phải giải quyết những nhu cầu chính đáng của người dân, đồng thời bảo đảm công bằng trong tiếp cận nguồn lực và dịch vụ, không làm sâu thêm bất bình đẳng giữa các nhóm xã hội.

Phương diện cuối cùng liên quan đến quản trị dữ liệu, công nghệ và rủi ro. Khai thác dữ liệu có thể nâng cao năng lực dự báo, hỗ trợ ra quyết định và cải thiện chất lượng dịch vụ; tuy nhiên, dữ liệu và công nghệ cũng có thể tạo ra những quyết định khó kiểm chứng hoặc làm mờ trách nhiệm. Do đó, quản trị số phải được thực hiện đúng thẩm quyền, giới hạn trong mục đích đã xác định và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Năm phương diện trên hợp thành một chỉnh thể. Sự thiếu hụt ở bất kỳ phương diện nào cũng có thể làm suy giảm chất lượng chung của quá trình quản trị.

3. Sự phát triển nhận thức, chuyển biến thể chế – pháp luật và những vấn đề đặt ra

3.1. Sự phát triển nhận thức từ Nghị quyết số 27-NQ/TW đến Đại hội XIV của Đảng

Các nguyên tắc chính trị – pháp lý nêu trên xác lập giới hạn cho mọi đổi mới quản trị. Kế thừa nền tảng đó, nhận thức mới của Đảng nhấn mạnh hơn phương thức và kết quả thực thi quyền lực. Nhà nước không chỉ duy trì trật tự xã hội, mà còn phải kiến tạo phát triển và phục vụ Nhân dân. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng yêu cầu chuyển mạnh từ mô hình quản lý hành chính sang mô hình kiến tạo phát triển, phục vụ Nhân dân, thúc đẩy quản trị quốc gia và quản trị địa phương (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr. 214). Do đó, hiệu quả thực thi trở thành yêu cầu trực tiếp đối với hoạt động của Nhà nước.

Nhận thức về thể chế cũng có bước phát triển quan trọng. Thể chế và pháp luật không chỉ duy trì trật tự xã hội mà còn phải bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, khơi thông các nguồn lực phát triển. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị xác định xây dựng và thi hành pháp luật là khâu “đột phá của đột phá”, qua đó đặt chất lượng thực thi ngang với chất lượng xây dựng pháp luật (Bộ Chính trị, 2025).

Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu phải tinh gọn tổ chức bộ máy trong mối liên hệ với phân định chức năng và năng lực thực thi. Tinh gọn không chỉ là vấn đề giảm đầu mối hoặc biên chế mà còn phải loại bỏ tầng nấc không cần thiết, rút ngắn quy trình, xác định trách nhiệm cuối cùng và phân bổ nguồn lực phù hợp với nhiệm vụ. Nếu thẩm quyền được tái cấu trúc và phân bổ lại cho cấp dưới, nhưng nguồn nhân lực, ngân sách vẫn tập trung ở cấp trên thì cải cách, đổi mới sẽ không đạt mục tiêu.

Một điểm nhấn khác là gắn phân quyền với kiểm soát quyền lực. Phân quyền mở rộng không gian chủ động cho các cơ quan, địa phương và người đứng đầu; việc kiểm soát quyền lực lại bảo đảm sự chủ động đó phục vụ cho lợi ích công, tránh nguy cơ tùy tiện hoặc trục lợi. Nguyên tắc “quyền lực đến đâu, trách nhiệm đến đó; quyền lực càng cao, trách nhiệm càng lớn” đòi hỏi phải xác định rõ chủ thể quyết định, phối hợp và chịu trách nhiệm cuối cùng (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr. 98-99).

Quan điểm lấy Nhân dân làm trung tâm được phát triển từ nguyên tắc chính trị thành yêu cầu đối với quy trình và thước đo quản trị. Nhân dân không chỉ là người ủy quyền hoặc đối tượng phục vụ mà còn tham gia xây dựng chính sách, giám sát quyền lực và đánh giá kết quả. Các số liệu được công bố công khai cho thấy, quá trình chuẩn bị Văn kiện Đại hội Đảng XIV đã thu hút gần 5 triệu lượt cán bộ, đảng viên và Nhân dân, với hơn 14 triệu lượt tham gia đóng góp ý kiến trong một tháng (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr. 15-16, 39-4). Quy mô đó cho thấy khả năng huy động trí tuệ xã hội là rất lớn. Tuy nhiên, sự tham gia chỉ thực chất khi các ý kiến góp ý được phản hồi và tác động đến quyết định công.

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực quan trọng hàng đầu của phát triển và quản trị (Bộ Chính trị, 2024). Dữ liệu là nguồn lực cho dự báo, dịch vụ và giám sát. Tuy nhiên, quyền lực thực hiện bằng công nghệ vẫn là quyền lực công. Các thuật toán vẫn không thể thay thế trách nhiệm chính trị, pháp lý và đạo đức.

3.2. Những chuyển biến chủ yếu của khuôn khổ thể chế, pháp luật

Về nền tảng hiến định, Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) tiếp tục là cơ sở pháp lý tối cao của tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước (Quốc hội, 2013, 2025). Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp, tạo cơ sở hiến định cho chính quyền địa phương hai cấp (Quốc hội, 2025b). Nghị quyết cũng làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội trong việc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Vai trò này bao gồm hoạt động giám sát, phản biện và phản ánh kiến nghị. Sự thay đổi đó gắn tổ chức quyền lực với sự tham gia xã hội.

Về hành pháp và chính quyền địa phương, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025 (Quốc hội, 2025a) và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 (Quốc hội, 2025d) đã thiết lập một khuôn khổ thể chế mới. Hai luật này nhấn mạnh sự phân định thẩm quyền, phân quyền, phân cấp, ủy quyền phải gắn với công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực. Khuôn khổ này tạo điều kiện để chuyển từ quản lý theo tầng nấc sang quản trị theo chức năng và kết quả. Tuy nhiên, tình trạng phân quyền thiếu sự điều phối và giám sát có thể tạo nên sự phân mảnh. Việc kiểm soát quá chi tiết có thể làm thu hẹp tính chủ động và làm mờ trách nhiệm của chính quyền địa phương.

Trong xây dựng và thi hành pháp luật, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và luật sửa đổi cùng năm cũng thiết lập một khuôn khổ mới cho xây dựng, tổ chức thi hành, kiểm tra và rà soát pháp luật (Quốc hội, 2025c). Hiệu quả của khuôn khổ này phụ thuộc vào chất lượng đánh giá tác động, tính đại diện của tham vấn, khả năng xử lý xung đột pháp luật và giải trình về tiếp thu ý kiến. Xét cho cùng, một đạo luật chỉ đạt được mục tiêu khi nó được thi hành một cách thống nhất và tạo ra các tác động như dự kiến.

Mô hình chính quyền địa phương hai cấp có thể cũng làm giảm tầng nấc trung gian, rút ngắn quy trình ra quyết định và đưa thẩm quyền đến gần cơ sở. Từ đó, dịch vụ công có thể cũng được vận hành liên thông, một cửa và đa kênh. Tuy nhiên, việc sắp xếp mô hình chính quyền địa phương hai cấp cũng khiến cho cấp xã phải xử lý khối lượng công việc lớn hơn, trong khi năng lực cán bộ, dữ liệu, hạ tầng số và mức độ phối hợp còn chưa đồng đều. Cơ chế phân cấp, phân quyền chỉ thực chất khi đồng thời bảo đảm thẩm quyền, nguồn lực, dữ liệu và trách nhiệm giải trình. Thiếu một điều kiện sẽ làm suy giảm tính hiệu quả chung.

Về tư pháp, quản trị hiện đại đòi hỏi phải có một nền tư pháp có khả năng bảo vệ quyền công dân và quyền con người, giải quyết tranh chấp trong xã hội một cách công bằng. Nghị quyết số 27-NQ/TW yêu cầu xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc và phục vụ Nhân dân; đồng thời bảo đảm thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Do đó, trọng tâm của cải cách tư pháp là nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa, nâng cao hiệu quả thi hành phán quyết và khả năng tiếp cận công lý.

Về quản trị số, khuôn khổ pháp luật đã được mở rộng bằng các đạo luật về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng, AI và chuyển đổi số. Các đạo luật tạo nên các nền tảng cho việc thu thập, chia sẻ, khai thác dữ liệu và sử dụng công nghệ trong khu vực công. Vấn đề quan trọng là phải bảo đảm tính thống nhất, xác định trách nhiệm trong vòng đời dữ liệu và kiểm soát AI theo rủi ro. Pháp luật cũng phải bảo vệ quyền được thông báo, giải thích, khiếu nại và yêu cầu con người xem xét lại các quyết định được lập trình tự động.

3.3. Những vấn đề chủ yếu đặt ra trong bối cảnh hiện nay

Những năm gần đây, khuôn khổ chính trị và pháp lý của Việt Nam đã chuyển mạnh theo hướng pháp quyền, kiến tạo phát triển, tinh gọn bộ máy, phân cấp và chuyển đổi số. Tuy nhiên, những tiến bộ trong thiết kế thể chế không tự động chuyển hóa thành hiệu quả quản trị. Điểm nghẽn chủ yếu là sự thiếu đồng bộ giữa các quy định và điều kiện thực hiện, biểu hiện ở năm vấn đề.

(1) Chất lượng thể chế chưa được chuyển hóa đầy đủ thành hiệu lực thi hành pháp luật. Một số quy định còn có sự giao thoa, thiếu đồng bộ hoặc chậm được hướng dẫn; việc đánh giá tác động, tham vấn và theo dõi thi hành trong một số trường hợp vẫn mang tính thủ tục. Hệ quả là cơ quan thực thi khó lựa chọn căn cứ, người dân và doanh nghiệp chịu chi phí tuân thủ cao, trong khi mục tiêu chính sách không đạt được như dự kiến. Vì vậy, pháp luật phải rõ ràng, khả thi, có độ ổn định cần thiết và được áp dụng một cách thống nhất.

(2) Việc phân định thẩm quyền, phối hợp liên ngành và kiểm soát quyền lực chưa gắn với trách nhiệm cuối cùng. Nhiều cơ quan cùng tham gia một công việc nhưng không có chủ thể chịu trách nhiệm đến cùng. Sự không rõ ràng này tạo ra hai rủi ro trái chiều: kiểm soát lỏng lẻo có thể dẫn đến lạm quyền, trục lợi; trách nhiệm không rõ dễ làm nảy sinh tâm lý sợ sai, né tránh và đẩy việc. Bài toán thể chế là giữ vững kỷ luật nghiêm minh, đồng thời bảo đảm không gian chủ động hợp pháp cho người thực thi.

(3) Đối với phân cấp, phân quyền và vận hành chính quyền địa phương hai cấp, các điều kiện bảo đảm chưa đồng đều. Cấp xã được giao thêm nhiệm vụ, nhưng chất lượng nhân lực, khả năng tiếp cận ngân sách, dữ liệu và hạ tầng số còn khác nhau. Nếu chỉ chuyển thẩm quyền mà không chuyển nguồn lực và năng lực, điểm nghẽn sẽ được chuyển dịch xuống dưới cơ sở.

(4) Nguyên tắc lấy Nhân dân làm trung tâm chưa được thể chế hóa đầy đủ thành cơ chế tham gia, bảo vệ quyền và đánh giá kết quả. Tham vấn, giám sát và phản biện xã hội ở một số nơi còn hình thức, trong khi nghĩa vụ phản hồi, giải trình chưa đủ chặt chẽ. Hiệu quả quản trị không thể chỉ đo bằng tỷ lệ hồ sơ đúng hạn hoặc tuân thủ quy trình. Thước đo phải được đo bằng khả năng giải quyết vấn đề, mức độ giảm thời gian và chi phí, sự công bằng trong tiếp cận, mức độ bảo vệ quyền và sự hài lòng của Nhân dân (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr. 29-31).

(5) Chuyển đổi số mở rộng năng lực quản trị, nhưng cũng làm xuất hiện những rủi ro pháp quyền mới. Dữ liệu không chính xác hoặc không liên thông có thể dẫn đến quyết định sai; khoảng cách kỹ năng số có thể hạn chế khả năng tiếp cận của người cao tuổi, người khuyết tật và người dân ở địa bàn khó khăn. Nếu thuật toán tham gia vào quá trình ra quyết định mà thiếu cơ chế giải thích, trách nhiệm cá nhân sẽ bị làm mờ. Do đó, quản trị số phải bảo đảm quyết định có căn cứ, có thể truy vết, xác định được chủ thể chịu trách nhiệm và cho phép người dân yêu cầu sửa sai.

Những vấn đề nêu trên cùng bắt nguồn từ sự thiếu liên kết giữa xây dựng chính sách, tổ chức thực hiện, giám sát và đánh giá. Do đó, việc thu hẹp khoảng cách giữa thiết kế thể chế với năng lực thực thi phải trở thành trọng tâm của giai đoạn tiếp theo. Đây là điều kiện để Nhà nước vừa giữ vững kỷ luật, kỷ cương, kiểm soát quyền lực, vừa bảo vệ quyền và nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân.

4. Định hướng và giải pháp hoàn thiện

Trước hết, cần hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình. Cơ chế này phải kết nối giữa kiểm soát trong Đảng, kiểm soát quyền lực nhà nước, giám sát của cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, Nhân dân và kiểm soát bằng dữ liệu. Mỗi nhiệm vụ liên ngành phải xác định cơ quan chủ trì, bên phối hợp và chủ thể chịu trách nhiệm cuối cùng. Phân cấp, ủy quyền phải quy định rõ phạm vi, thời hạn, nguồn lực, tiêu chuẩn kết quả và cơ chế kiểm tra. Trách nhiệm giải trình bao gồm trách nhiệm cung cấp thông tin, giải thích căn cứ và chịu hậu quả khi quyết định trái pháp luật hoặc gây thiệt hại.

Thứ hai, đối với xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, cần lấy vấn đề và kết quả làm trung tâm. Trước khi lựa chọn công cụ pháp lý, cơ quan soạn thảo phải xác định rõ vấn đề, nguyên nhân, nhóm chịu tác động và phương án xử lý. Đánh giá tác động cần bao quát yếu tố về quyền con người, ngân sách, môi trường, dữ liệu cá nhân và nhóm yếu thế; tham vấn phải được tiến hành sớm, đúng đối tượng, kèm báo cáo giải trình công khai. Mỗi dự án luật phải có kế hoạch thi hành, cơ quan chịu trách nhiệm, nguồn lực, chỉ số đầu ra và thời điểm đánh giá. Việc rà soát định kỳ phải kịp thời xử lý các quy định có sự mâu thuẫn, không còn phù hợp.

Thứ ba, trong quản trị đa cấp, cần xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển. Chính phủ cần tập trung vào các chiến lược, chính sách, xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia, điều phối liên ngành, liên vùng và kiểm tra kết quả; chính quyền địa phương chủ động lựa chọn cách thức thực hiện trong giới hạn các quy định của pháp luật. Việc thực hiện phân cấp chỉ thực sự hiệu quả khi thẩm quyền, nguồn lực, dữ liệu và trách nhiệm giải trình được bảo đảm đồng thời. Đối với chính quyền địa phương hai cấp, cần chuẩn hóa vị trí việc làm, quy trình liên thông, cơ sở dữ liệu dùng chung và cơ chế hỗ trợ chuyên môn cho cấp xã.

Thứ tư, sự tham gia thực chất của Nhân dân và các chủ thể xã hội cần được thể chế hóa. Tham vấn phải diễn ra trước khi quyết định phương án cơ bản và tiếp cận đúng các nhóm chịu tác động. Cơ quan có thẩm quyền phải công khai nội dung góp ý, mức độ tiếp thu và lý do không tiếp thu. Quyền tiếp cận thông tin, cơ chế kiến nghị, phản ánh, giám sát và phản biện xã hội phải được bảo đảm bằng các quy trình rõ ràng, có thời hạn cụ thể và trách nhiệm phản hồi. Kết quả thực hiện kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội cần được công khai.

Thứ năm, đối với tư pháp, hiện đại hóa phải gắn với nâng cao khả năng tiếp cận công lý. Cần bảo đảm thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nâng cao chất lượng tranh tụng, chứng minh và lập luận trong bản án. Việc áp dụng pháp luật thống nhất, phát triển án lệ và thi hành phán quyết phải được tăng cường. Công khai bản án cần đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư. Trợ giúp pháp lý, hòa giải và các phương thức giải quyết tranh chấp cần được mở rộng để giảm chi phí tiếp cận công lý. Công nghệ phải hỗ trợ tư pháp, nhưng không làm suy giảm quyền trình bày, tranh tụng và quyền được con người xem xét quyết định.

Thứ sáu, trong môi trường số, cần xây dựng pháp quyền số và quản trị dữ liệu công có trách nhiệm. “Pháp quyền số” không phải mô hình tách khỏi Nhà nước pháp quyền, mà là yêu cầu duy trì nguyên tắc pháp quyền khi quyền lực công được thực hiện bằng dữ liệu và công nghệ. Trách nhiệm trong thu thập, chuẩn hóa, chia sẻ, khai thác, lưu trữ và xóa dữ liệu phải được xác định rõ. Dữ liệu công phải có nguồn gốc, được kiểm tra chất lượng và có cơ chế sửa sai. Khi sử dụng trí tuệ nhân tạo, cơ quan nhà nước phải đánh giá tác động, phân loại rủi ro, kiểm tra thiên lệch, lưu vết và duy trì giám sát của con người. Người chịu tác động bởi quyết định tự động phải được thông báo, yêu cầu giải thích, khiếu nại và đề nghị xem xét lại.

Thứ bảy, cần nâng cao năng lực thực thi, củng cố đạo đức công vụ và đổi mới đánh giá. Cán bộ, công chức phải được tuyển dụng, bố trí, đào tạo và đánh giá theo vị trí việc làm, năng lực và kết quả. Đội ngũ công vụ cần có năng lực pháp lý, phân tích chính sách, dữ liệu, phối hợp và giao tiếp với người dân. Đánh giá phải gắn với chất lượng, tính đúng pháp luật, thời gian, chi phí tuân thủ, tác động xã hội và sự hài lòng. Cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo phải dựa trên hành động vì lợi ích chung, tuân thủ kiểm soát và sẵn sàng giải trình. Đồng thời, phải xử lý nghiêm việc lợi dụng đổi mới để vụ lợi hoặc né tránh trách nhiệm.

Về tổ chức thực hiện, trước mắt cần rà soát quy định chồng chéo, hoàn thiện vận hành chính quyền địa phương hai cấp, củng cố năng lực cấp xã và chuẩn hóa dữ liệu. Các luật mới về dữ liệu, AI và chuyển đổi số phải được thi hành đồng bộ. Trong trung hạn, cần xây dựng chỉ số quản trị theo kết quả, liên thông dữ liệu giám sát, chuyên nghiệp hóa công vụ và củng cố phản hồi của Nhân dân. Mỗi chương trình cải cách phải có mục tiêu đo lường được, cơ quan chịu trách nhiệm, nguồn lực, mốc thời gian, công khai tiến độ và đánh giá độc lập. Với cách tổ chức đó, thiết kế thể chế mới chuyển thành năng lực thực thi ổn định, có thể kiểm chứng.

5. Kết luận

Quản trị quốc gia hiện đại là phương thức vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh pháp quyền gắn với năng lực quản trị, phân quyền đi cùng với tăng cường kiểm soát và giải trình, tinh gọn bộ máy đi cùng với các điều kiện thực thi. Nhân dân là chủ thể, công nghệ phải phục vụ con người trong giới hạn pháp quyền.

Nhiệm vụ trọng tâm là thu hẹp khoảng cách giữa thiết kế thể chế và hiệu quả thực thi. Điều đó đòi hỏi phải có sự kết nối chặt chẽ giữa chất lượng pháp luật, kiểm soát quyền lực, quản trị đa cấp, sự tham gia của Nhân dân, tư pháp, quản trị dữ liệu và năng lực công vụ. Mỗi thẩm quyền phải có chủ thể chịu trách nhiệm, mỗi nhiệm vụ phải có nguồn lực, mỗi cải cách phải được đánh giá qua kết quả phục vụ. Khi các điều kiện đó được bảo đảm, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể giữ vững kỷ cương, công lý, quyền con người và nâng cao năng lực kiến tạo phát triển bền vững.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Bovens, M. (2007). Analysing and Assessing Accountability: A Conceptual Framework. European Law Journal, 13(4), pp. 447-468.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Fukuyama, F. (2013). What Is Governance? Governance, 26(3), pp. 347-368.
Quốc hội (2013, 2025). Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Quốc hội (2025c). Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Quốc hội (2025a). Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025.
Quốc hội (2025b). Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc hội (2025d). Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2025.