Phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn phường Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

Private sector development in Dong Trieu ward, Quang Ninh province

TS. Lê Thu Hương
Email: huonglt1@apag.edu.vn
TS. Phạm Văn Đại
Email: daipv@apag.edu.vn
TS. Trần Hương Xuân
Email: xuanth@apag.edu.vn
Học viện Hành chính và Quản trị công

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích thực trạng phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn phường Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, đồng thời, tiếp cận nghiên cứu tổng hợp và phân tích chính sách. Nguồn tư liệu được khai thác từ hệ thống báo cáo kinh tế – xã hội, báo cáo chuyên đề về doanh nghiệp, hợp tác xã, lao động – việc làm, bảo hiểm xã hội, đất đai, cùng dự thảo đề án phát triển kinh tế tư nhân của địa phương giai đoạn 2025-2026. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế địa phương, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển không gian sản xuất – dịch vụ, thúc đẩy chuyển đổi số và tăng cường liên kết thị trường, qua đó, phát triển kinh tế tư nhân theo hướng hiện đại, chính quy và bền vững.

Từ khóa: Kinh tế tư nhân; phường Đông Triều; phát triển địa phương; thương mại – dịch vụ; lao động – việc làm; chuyển đổi số.

Abstract: This article examines the development of the private economy in Dong Trieu Ward, Quang Ninh Province, through a policy-analysis and synthesis-based approach. The study draws on a set of local socio-economic reports, thematic reports on enterprises, cooperatives, labor and employment, social insurance, land statistics, and the local private-sector development project during 2025-2026. Based on these findings, the article proposes policy solutions related to local institutional improvement, labor quality enhancement, development of production and service spaces, digital transformation, and market connectivity to foster a more modern, formalized, and sustainable private economy.

Keywords: Private economy, Dong Trieu Ward, local development, trade and services, labor and employment, digital transformation.

1. Đặt vấn đề

Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, kinh tế tư nhân không chỉ được nhìn nhận như một khu vực sở hữu mà còn là một cấu phần thể chế – xã hội giữ vai trò tổ chức sản xuất, huy động nguồn lực và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Theo cách tiếp cận kinh tế học thể chế và tăng trưởng nội sinh, sự phát triển của khu vực tư nhân phụ thuộc đồng thời vào chất lượng thể chế, quyền sở hữu, năng lực của doanh nhân, công nghệ và mức độ cạnh tranh của môi trường kinh doanh. Ở góc độ nguồn nhân lực, lý thuyết vốn con người khẳng định rằng chất lượng lao động là một trong những nhân tố quyết định năng suất và năng lực thích ứng của doanh nghiệp. Đối với các nền kinh tế đang phát triển, việc liên kết doanh nghiệp và khả năng tiếp cận tài sản được pháp lý hóa tiếp tục là những điều kiện quan trọng để khu vực tư nhân mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động.

Trong bối cảnh Việt Nam, phát triển kinh tế tư nhân đã được xác định là một định hướng chiến lược trong các nghị quyết của Đảng, nhấn mạnh yêu cầu phát triển khu vực này cả về số lượng, chất lượng và hiệu quả, nhằm trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tài liệu “Cơ sở khoa học về phát triển kinh tế tư nhân” cũng cho thấy, ở cấp địa phương, sự phát triển của kinh tế tư nhân là kết quả tổng hợp của sáu nhóm yếu tố: thể chế và chính sách; nguồn lực sản xuất; hạ tầng và môi trường kinh doanh; công nghệ và chuyển đổi số; văn hóa kinh doanh và liên kết cộng đồng doanh nghiệp; năng lực điều hành của chính quyền cơ sở. Khung phân tích này phù hợp để tiếp cận trường hợp Đông Triều – một địa bàn đang trong quá trình tổ chức lại không gian phát triển và cơ cấu kinh tế sau sáp nhập đơn vị hành chính.

Phường Đông Triều được hình thành trên cơ sở sáp nhập 5 đơn vị hành chính, có diện tích tự nhiên 4.042,68 ha và quy mô dân số 43.712 người. Năm 2025, tổng giá trị sản xuất của địa phương đạt 6.978,11 tỷ đồng; trong đó khu vực dịch vụ – thương mại chiếm 56,14%, công nghiệp – xây dựng chiếm 34% và nông, lâm, thủy sản chiếm 9,86% (Ủy ban nhân dân phường Đông Triều, 2025). Những dữ kiện này cho thấy Đông Triều có nền tảng đáng kể để phát triển khu vực tư nhân theo hướng đa ngành, đặc biệt trong thương mại, dịch vụ, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp giá trị gia tăng và các hoạt động kinh doanh gắn với đô thị hóa. Tuy nhiên, để đánh giá đúng năng lực phát triển của khu vực này, cần vượt qua cách nhìn thuần túy về số lượng doanh nghiệp mà phải xem xét đồng thời chất lượng tăng trưởng, mức độ chính quy hóa, khả năng liên kết chuỗi và nền tảng thể chế hỗ trợ phát triển.

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp, kết hợp phân tích chính sách với thống kê mô tả và so sánh đối chiếu để đánh giá thực trạng phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn phường Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Dữ liệu nghiên cứu chủ yếu là dữ liệu thứ cấp, được thu thập từ các báo cáo kinh tế – xã hội, báo cáo chuyên đề về doanh nghiệp, hợp tác xã, lao động – việc làm, bảo hiểm xã hội, đất đai và dự thảo đề án phát triển kinh tế tư nhân của địa phương giai đoạn 2025–2026. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích các điều kiện, kết quả, hạn chế và những vấn đề đặt ra đối với sự phát triển kinh tế tư nhân ở địa phương.

  • Kết quả và thảo luận

2.1. Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn phường Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

(1) Những điều kiện nền tảng cho phát triển kinh tế tư nhân

Về phương diện dân cư – xã hội, Đông Triều có quy mô dân số và số hộ dân đủ lớn để hình thành một thị trường nội địa tương đối sôi động. Tính đến ngày 31/12/2024, toàn phường có 40.488 người và 12.126 hộ dân; trong đó có 10.000 hộ ở khu vực thành thị và 2.126 hộ ở khu vực nông thôn. Xét theo cơ cấu ngành nghề, địa phương có 5.995 hộ nông nghiệp, 2.598 hộ thương mại – dịch vụ, 939 hộ công nghiệp, 351 hộ vận tải và 2.243 hộ thuộc các ngành nghề khác (Ủy ban nhân dân phường Đông Triều, 2025).

Hình 1: Đặc điểm dân cư và cơ cấu hộ dân

Từ Hình 1, có thể thấy cơ cấu ngành nghề của phường Đông Triều phản ánh một không gian kinh tế đan xen giữa sinh kế nông nghiệp, hoạt động công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh dịch vụ, tạo điều kiện cho khu vực tư nhân phát triển ở nhiều tầng nấc, từ hộ kinh doanh đến doanh nghiệp và hợp tác xã.

Về lao động, toàn phường có 21.185 người trong lực lượng lao động, trong khi số người trong độ tuổi lao động là 20.406 người. Đây là một lợi thế đáng kể cho sự phát triển của nền kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, dữ liệu cũng cho thấy chất lượng lao động chưa đồng đều: tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 88,76%, song tỷ lệ có bằng cấp, chứng chỉ mới đạt 56,93%. Theo lý thuyết vốn con người, năng suất và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc không chỉ vào quy mô lao động mà còn vào mức độ tích lũy tri thức, kỹ năng và khả năng thích nghi của lực lượng lao động (Ủy ban nhân dân phường Đông Triều, 2025).

Bảng 1. Chất lượng nguồn lao động phường Đông Triều năm 2025

Chỉ tiêuSố lượngTỷ lệ (%)
Lực lượng lao động21.185100,0
Lao động qua đào tạo18.80488,76
Lao động có bằng cấp, chứng chỉ12.06156,93
Nguồn: Báo cáo lao động – việc làm phường Đông Triều năm 2025.

Hình 2: Sơ đồ phân tích chất lượng nguồn lao động phường năm 2025

Bảng 1 và Hình 2 cho thấy, khoảng cách giữa “lao động qua đào tạo” và “lao động có chứng chỉ” ở Đông Triều, cho thấy nguồn nhân lực địa phương vẫn thiên về kinh nghiệm thực hành hơn là năng lực nghề nghiệp được chuẩn hóa.

Về không gian phát triển, báo cáo thống kê đất đai năm 2025 cho thấy phường có 2.748,39 ha đất nông nghiệp, chiếm 67,98% diện tích tự nhiên; 1.238,80 ha đất phi nông nghiệp, chiếm 30,64%; trong đó đất dùng cho mục đích công cộng đạt 505,68 ha, riêng đất giao thông đạt 344,85 ha. Đồng thời, diện tích đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp hiện có 68,01 ha; đất thương mại – dịch vụ có xu hướng tăng; đất ở đô thị tăng thêm 6,78 ha trong năm 2025 (Ủy ban nhân dân phường Đông Triều, 2025). Dưới góc nhìn phân bổ nguồn lực, các dữ kiện này cho thấy Đông Triều đang dần mở rộng không gian kinh doanh, tạo tiền đề cho tư nhân đầu tư vào thương mại, logistics, dịch vụ dân sinh, sản xuất nhỏ và chế biến nông sản. Mặt khác, quỹ đất nông nghiệp vẫn còn lớn, cho phép phát triển các mô hình kinh tế hàng hóa, đặc sản và liên kết chuỗi ở nông thôn.

Hình 3. Tổng hợp tài nguyên đất đai phường Đông Triều

Về cơ cấu kinh tế tổng thể, năm 2025, tổng giá trị sản xuất của phường đạt 6.978,11 tỷ đồng; trong đó khu vực dịch vụ – thương mại đạt 3.917,55 tỷ đồng, công nghiệp – xây dựng đạt 2.372,75 tỷ đồng, còn nông, lâm, thủy sản đạt 687,81 tỷ đồng (Ủy ban nhân dân phường Đông Triều, 2026b). Cơ cấu này cho thấy dịch vụ – thương mại đã trở thành khu vực dẫn dắt tăng trưởng, trong khi công nghiệp – xây dựng và nông nghiệp tiếp tục đóng vai trò nền tảng. Đây là bối cảnh thuận lợi để khu vực tư nhân phát triển theo hướng đa ngành, linh hoạt, với khả năng tập trung nhanh vào những lĩnh vực có chi phí gia nhập thị trường vừa phải và tốc độ quay vòng vốn tương đối cao như thương mại, vận tải, ăn uống, lưu trú, giáo dục và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất.

(2) Thành tựu phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.

Số liệu đến 4 tháng đầu năm 2026 cho thấy khu vực kinh tế tư nhân ở Đông Triều đã hình thành một hệ sinh thái kinh doanh tương đối đa dạng, gồm 175 doanh nghiệp đang hoạt động, 1.237 hộ kinh doanh cá thể và 16 hợp tác xã (Ủy ban nhân dân phường Đông Triều, 2026a). Nếu đặt trong tương quan với đặc điểm của một đơn vị hành chính cấp phường mới sau sáp nhập, đây là quy mô chủ thể kinh doanh tương đối đáng kể. Điều này phản ánh rằng khu vực tư nhân đã trở thành hình thức tổ chức kinh tế phổ biến nhất trên địa bàn, đồng thời gắn trực tiếp với quá trình mở rộng thị trường nội địa và dịch vụ hóa nền kinh tế địa phương (Hình 4). Riêng trong 4 tháng đầu năm 2026, địa phương đã thành lập mới 11 doanh nghiệp và đơn vị phụ thuộc, với tổng vốn đăng ký khoảng 33,8 tỷ đồng; đồng thời cấp mới 84 hộ kinh doanh, với tổng vốn đăng ký khoảng 29 tỷ đồng. Các chủ thể kinh doanh mới này đã tạo việc làm cho hơn 100 lao động địa phương (Ủy ban nhân dân phường Đông Triều, 2026a). Dưới góc độ kinh tế phát triển, khu vực tư nhân ở Đông Triều đang thể hiện rõ vai trò “bộ đệm” trong việc hấp thụ lao động và huy động vốn xã hội trong điều kiện nền kinh tế địa phương chuyển dịch nhanh. Sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp và hộ kinh doanh cho thấy tinh thần kinh doanh của người dân địa phương đang được kích hoạt mạnh mẽ hơn trong bối cảnh thị trường mở rộng và môi trường kinh doanh dần trở nên thuận lợi.

Xét theo cơ cấu ngành hoạt động, thương mại – dịch vụ là không gian phát triển nổi bật nhất của kinh tế tư nhân. Năm 2025, tổng giá trị sản phẩm của các lĩnh vực dịch vụ, thương mại, du lịch, ăn uống, lưu trú và giải trí đạt 3.917,55 tỷ đồng; trong đó dịch vụ đạt 3.426,25 tỷ đồng, thương mại đạt 400,8 tỷ đồng, còn du lịch và các hoạt động liên quan đạt 90,5 tỷ đồng. Trong 4 tháng đầu năm 2026, tổng giá trị của nhóm ngành này đạt 1.552,99 tỷ đồng; riêng dịch vụ đạt 1.286,53 tỷ đồng (Ủy ban nhân dân phường Đông Triều, 2026b). Điều đó chứng minh rằng động lực tăng trưởng của khu vực tư nhân ở Đông Triều hiện chủ yếu đến từ quá trình dịch vụ hóa nền kinh tế địa phương, hơn là từ công nghiệp quy mô lớn hoặc du lịch chuyên sâu. Đây là đặc điểm quan trọng để định hình các chính sách hỗ trợ phù hợp trong giai đoạn tới.

Khu vực hợp tác xã tuy không chi phối về quy mô giá trị sản xuất, nhưng vẫn có vai trò đáng kể trong việc kết nối cộng đồng sản xuất và ổn định sinh kế địa phương. Toàn phường có 16 hợp tác xã; trong đó 14 hợp tác xã còn hoạt động, 11 hợp tác xã được đánh giá hoạt động tương đối ổn định, chiếm 73%, trong khi 4 hợp tác xã hoạt động hình thức hoặc gặp khó khăn, chiếm 26,7%. Tổng số thành viên hợp tác xã đạt 8.348 người; doanh thu khu vực hợp tác xã nông nghiệp đạt 69.487 triệu đồng, khu vực phi nông nghiệp đạt 7.396 triệu đồng (Ủy ban nhân dân phường Đông Triều, 2026c). Những số liệu này cho thấy hợp tác xã vẫn là một kênh tổ chức sản xuất và dịch vụ có ý nghĩa, nhất là trong nông nghiệp và dịch vụ cộng đồng, đồng thời là cầu nối tiềm năng giữa các hộ sản xuất nhỏ với thị trường rộng hơn.

Hình 4: Phân loại doanh nghiệp và trạng thái hoạt động

Một thành tựu khác cần được ghi nhận là sự cải thiện về môi trường hành chính và quản trị địa phương. Năm 2025, tỷ lệ số hóa hồ sơ đầu vào đạt 99,97%, mức độ hài lòng của người dân đạt trên 99%; đồng thời, địa phương đã hoàn thành số hóa 100% hồ sơ đất đai (Ủy ban nhân dân phường Đông Triều, 2026a). Theo lý luận về môi trường kinh doanh, tính minh bạch, khả năng dự báo và chi phí thủ tục hành chính là các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định gia nhập và mở rộng đầu tư của doanh nghiệp. Vì vậy, những cải thiện trong quản trị công ở Đông Triều có thể được xem là nền tảng thể chế quan trọng để khuyến khích khu vực tư nhân phát triển bền vững hơn.

2.2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế

Bên cạnh những kết quả tích cực, khu vực kinh tế tư nhân ở Đông Triều vẫn bộc lộ những hạn chế khá rõ về chất lượng phát triển.

Thứ nhất, phần lớn doanh nghiệp và hộ kinh doanh trên địa bàn vẫn hoạt động ở quy mô nhỏ, vốn hạn chế, năng lực cạnh tranh chưa cao; sức mua thị trường có thời điểm thiếu ổn định; chi phí đầu vào, nhất là năng lượng và nguyên vật liệu, chịu tác động đáng kể từ các biến động bên ngoài. Từ góc độ lý thuyết tài chính doanh nghiệp nhỏ, khó khăn trong việc tiếp cận vốn và chi phí sử dụng vốn cao là rào cản lớn đối với tăng trưởng quy mô và đổi mới công nghệ. Do đó, sự gia tăng số lượng chủ thể kinh doanh ở Đông Triều chưa đồng nghĩa với việc hình thành một lớp doanh nghiệp tư nhân có năng lực dẫn dắt thị trường và đổi mới cơ cấu ngành nghề của địa phương.

Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực chưa thực sự đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa của khu vực tư nhân. Mặc dù lực lượng lao động tương đối dồi dào, khoảng cách giữa tỷ lệ lao động qua đào tạo và tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ vẫn còn khá lớn. Theo khung lý luận về vốn con người, điều này cho thấy kỹ năng nghề nghiệp của lao động địa phương chưa được chuẩn hóa đầy đủ, trong khi việc chuẩn hóa kỹ năng là điều kiện cần để khu vực tư nhân nâng cao năng suất, tiếp thu công nghệ mới và tham gia các phân khúc có giá trị gia tăng cao hơn. Ở cấp độ thực tiễn, đây là nguyên nhân khiến nhiều cơ sở kinh doanh ở Đông Triều vẫn phát triển chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, lao động gia đình hoặc kỹ năng truyền thống hơn là quản trị hiện đại và nhân lực chuyên nghiệp.

Thứ ba, mức độ chính quy hóa của khu vực tư nhân còn hạn chế, thể hiện rõ ở lĩnh vực an sinh xã hội. Báo cáo bảo hiểm xã hội quý I/2026 cho thấy kế hoạch cả năm đặt mục tiêu tăng mới 665 người tham gia bảo hiểm xã hội, song kết quả thực hiện trong quý I lại giảm ròng 25 người; riêng bảo hiểm xã hội bắt buộc giảm 26 người (Ủy ban nhân dân phường Đông Triều, 2026b). Báo cáo cũng ghi nhận tình trạng một số đơn vị chậm đóng, trốn đóng hoặc khai báo mức đóng bảo hiểm xã hội thấp. Đây không chỉ là vấn đề tuân thủ pháp luật lao động mà còn phản ánh tính dễ tổn thương của khu vực tư nhân địa phương: nhiều cơ sở kinh doanh vận hành trong điều kiện lợi nhuận mỏng, nguồn lực hạn chế nên có xu hướng trì hoãn chi phí an sinh. Về dài hạn, tình trạng này sẽ làm suy giảm chất lượng việc làm và cản trở mục tiêu phát triển bền vững của khu vực tư nhân.

Thứ tư, mức độ liên kết giữa các chủ thể kinh tế còn yếu. Báo cáo hợp tác xã cho thấy một bộ phận hợp tác xã vẫn hoạt động theo hình thức, hiệu quả thấp, chưa hình thành được các liên kết bền vững trong tiêu thụ sản phẩm. Trên bình diện rộng hơn, khu vực tư nhân của Đông Triều hiện mạnh ở tầng kinh doanh riêng lẻ, dịch vụ dân sinh và các giao dịch ngắn hạn, trong khi liên kết dọc giữa doanh nghiệp – hộ kinh doanh – hợp tác xã và liên kết ngang giữa các chủ thể cùng ngành còn khá mỏng. Theo lý thuyết cụm liên kết, sự thiếu vắng các mối liên kết ổn định sẽ làm giảm khả năng lan tỏa công nghệ, chia sẻ thông tin và nâng cao sức cạnh tranh của toàn bộ khu vực.

Thứ năm, chuyển đổi số dù đã được xác định là định hướng phát triển nhưng vẫn là thách thức không nhỏ đối với đa số chủ thể kinh doanh quy mô nhỏ. Về mặt lý luận, công nghệ và chuyển đổi số có thể tạo ra hiệu ứng quy mô, giảm chi phí giao dịch và mở rộng thị trường. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh và hợp tác xã ở Đông Triều, rào cản về chi phí đầu tư, hạ tầng số, kỹ năng công nghệ và năng lực quản trị dữ liệu vẫn còn lớn. Vì vậy, nếu thiếu cơ chế hỗ trợ phù hợp, chuyển đổi số rất dễ chỉ dừng ở mức số hóa thủ tục hành chính, thay vì trở thành động lực đổi mới thực chất cho khu vực tư nhân địa phương.

3. Một số giải pháp

Một là, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế tư nhân ở cấp cơ sở theo hướng chính quyền phục vụ, minh bạch và giảm chi phí giao dịch cho doanh nghiệp. Trọng tâm không chỉ là duy trì kết quả cải cách hành chính đã đạt được, mà còn phải chuyển mạnh từ tư duy “quản lý” sang “đồng hành phát triển”. Điều này bao gồm công khai hơn nữa về quy hoạch, đất đai, thủ tục đầu tư; đơn giản hóa các quy trình liên quan đến đăng ký kinh doanh và tiếp cận dịch vụ công; đồng thời tăng cường đối thoại định kỳ với doanh nghiệp, hộ kinh doanh và hợp tác xã. Theo logic của kinh tế học thể chế, môi trường thể chế ổn định, dự báo được và công bằng sẽ tạo tác động lan tỏa sâu rộng hơn nhiều so với các hỗ trợ tài chính ngắn hạn.

Hai là, cần phát triển không gian sản xuất – kinh doanh gắn với lợi thế về đất đai, hạ tầng và cơ cấu kinh tế hiện có. Với quy mô đất nông nghiệp lớn, quỹ đất phi nông nghiệp đang mở rộng và hệ thống giao thông tương đối thuận lợi, Đông Triều có thể ưu tiên hình thành các vùng sản xuất hàng hóa, điểm dịch vụ – thương mại, kho bãi, logistics quy mô phù hợp và các khu vực hỗ trợ công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp sạch. Mục tiêu không chỉ là mở rộng mặt bằng cho hoạt động kinh doanh mà còn tái tổ chức không gian kinh tế theo hướng tăng cường khả năng kết nối giữa nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và du lịch địa phương. Đây là điều kiện quan trọng để khu vực tư nhân từng bước thoát khỏi tình trạng phát triển phân tán, manh mún.

Ba là, cần coi việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là giải pháp cốt lõi. Sự gia tăng số lượng việc làm chỉ có ý nghĩa bền vững khi đi kèm với việc nâng cao chất lượng việc làm và chuẩn hóa kỹ năng lao động. Vì vậy, Đông Triều cần gắn đào tạo nghề với nhu cầu thực tế của các lĩnh vực đang có lợi thế như thương mại, dịch vụ, logistics, chế biến, tiểu thủ công nghiệp và du lịch; đồng thời thúc đẩy đào tạo kỹ năng số, kỹ năng kinh doanh và kỹ năng quản trị cho doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh và hợp tác xã. Theo định hướng phát triển đến năm 2030, địa phương đặt mục tiêu khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 55-60% GRDP của phường, nâng tổng số doanh nghiệp hoạt động lên 270-300 đơn vị và tăng mạnh tỷ lệ doanh nghiệp áp dụng các nền tảng quản trị số. Để đạt được mục tiêu này, chính sách lao động cần chuyển từ tư duy “đủ việc làm” sang tư duy “việc làm chất lượng” (Ủy ban nhân dân phường Đông Triều, 2026a).

Bốn là, cần thúc đẩy quá trình chính quy hóa khu vực tư nhân, đặc biệt là các hộ kinh doanh và khu vực sử dụng lao động chưa ổn định. Trên thực tế, số lượng hộ kinh doanh ở Đông Triều tăng khá nhanh, nhưng nếu khu vực này không được hỗ trợ chuyển đổi về kế toán, thuế, quản trị và bảo hiểm xã hội thì sẽ khó hình thành lớp doanh nghiệp mới có năng lực tích lũy và mở rộng đầu tư. Do đó, địa phương cần thiết kế các chương trình hỗ trợ chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp, khuyến khích tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ an sinh xã hội. Một khu vực tư nhân phát triển bền vững không thể chỉ dựa trên tốc độ tăng số lượng chủ thể, mà phải dựa trên nền tảng việc làm chính thức, minh bạch và có trách nhiệm xã hội.

Năm là, cần đẩy mạnh chuyển đổi số theo hướng thực chất, phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh. Đối với Đông Triều, chuyển đổi số không nên chỉ hiểu là số hóa hồ sơ hành chính, mà cần mở rộng sang số hóa hoạt động kinh doanh, xúc tiến thương mại, quản lý khách hàng, thanh toán điện tử, truy xuất nguồn gốc và quảng bá sản phẩm địa phương trên nền tảng số. Tuy nhiên, để làm được điều đó, chính quyền địa phương cần giữ vai trò kiến tạo thông qua việc hỗ trợ đào tạo, tư vấn, kết nối với các nền tảng công nghệ và giảm chi phí tiếp cận đối với các chủ thể kinh doanh nhỏ. Chuyển đổi số chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng khi giúp khu vực tư nhân nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và giảm sự lệ thuộc vào các kênh kinh doanh truyền thống.

Sáu là, cần tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, hộ kinh doanh, hợp tác xã và các tổ chức trung gian hỗ trợ kinh doanh. Đối với địa phương có cấu trúc kinh tế đa dạng như Đông Triều, liên kết không chỉ giúp mở rộng quy mô thị trường mà còn giúp chia sẻ thông tin, chuẩn hóa đầu vào, ổn định đầu ra và lan tỏa tri thức kinh doanh. Vì vậy, cần thúc đẩy các mô hình liên kết ngành hàng, liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp – dịch vụ – du lịch, liên kết giữa cơ sở sản xuất với hệ thống bán lẻ và thương mại điện tử, đồng thời nâng cao vai trò cầu nối của hợp tác xã và các bộ phận hỗ trợ xúc tiến thương mại ở cơ sở. Đây là giải pháp quan trọng để khắc phục tình trạng phát triển rời rạc, từ đó chuyển khu vực tư nhân từ “đông về số lượng” sang “mạnh về năng lực cạnh tranh”.

Phát triển kinh tế tư nhân ở Đông Triều trong giai đoạn tới cần được định vị như một quá trình nâng cấp đồng bộ về thể chế, nguồn lực, hạ tầng, công nghệ, liên kết thị trường và chất lượng lao động. Chỉ khi các giải pháp này được triển khai theo một logic nhất quán, khu vực kinh tế tư nhân mới có thể chuyển từ trạng thái phát triển phân tán, quy mô nhỏ sang trở thành lực lượng tăng trưởng có khả năng dẫn dắt chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm bền vững và gia tăng năng lực cạnh tranh của địa phương.

4. Kết luận

Bài viết cho thấy, khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn phường Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đã có bước phát triển tích cực, thể hiện qua sự gia tăng số lượng doanh nghiệp, hộ kinh doanh và hợp tác xã, đồng thời ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng dịch vụ – thương mại. Tuy nhiên, khu vực này vẫn đối mặt với nhiều hạn chế như quy mô sản xuất kinh doanh còn nhỏ, năng lực quản trị và trình độ công nghệ còn thấp, chất lượng nguồn nhân lực chưa đồng đều, mức độ liên kết chuỗi giá trị còn yếu và tính bền vững trong thực hiện an sinh xã hội chưa cao. Trên cơ sở đó, nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy chuyển đổi số thực chất và tăng cường liên kết giữa các chủ thể kinh tế nhằm phát huy hiệu quả hơn vai trò của kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế – xã hội của địa phương trong thời gian tới.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017). Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 về phát triển kinh tế tư nhân đã trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Becker, G. S. (1964). Human capital: A theoretical and empirical analysis, with special reference to education. University of Chicago Press.
Beck, T., & Demirgüç-Kunt, A (2006). Small and medium-size enterprises: Access to finance as a growth constraint. Journal of Banking & Finance, 30(11), 2931-2943.
De Soto, H (2000). The mystery of capital: Why capitalism triumphs in the West and fails everywhere else. Basic Books.
North, D. C (1990). Institutions, institutional change and economic performance. Cambridge University Press.
Porter, M. E (1998). Clusters and the new economics of competition. Harvard Business Review, 76(6), 77-90.
Phòng Văn hóa – Xã hội phường Đông Triều (2026). Báo cáo kết quả thực hiện chỉ tiêu bảo hiểm xã hội trong 3 tháng đầu năm, phương hướng, nhiệm vụ phát triển chỉ tiêu bảo hiểm xã hội năm 2026.
Romer, P. M. (1990). Endogenous technological change. Journal of Political Economy, 98(5), S71-S102.
Schumpeter, J. A. (1942). Capitalism, socialism and democracy. Harper & Brothers.
Ủy ban nhân dân phường Đông Triều (2025). Báo cáo số 315/BC-UBND ngày 22/12/2025 về tình hình kinh tế – xã hội và công tác chỉ đạo, điều hành của UBND phường năm 2025, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2026.
Ủy ban nhân dân phường Đông Triều (2026a). Dự thảo đề án phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn phường Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2050.
Ủy ban nhân dân phường Đông Triều (2026b). Báo cáo số 260/BC-UBND ngày 14/4/2026 về kết quả thực hiện các lĩnh vực du lịch, thương mại, dịch vụ và đóng góp ngân sách của doanh nghiệp trên địa bàn năm 2025 và 4 tháng đầu năm 2026.
Ủy ban nhân dân phường Đông Triều (2026c). Báo cáo số 332/BC-UBND ngày 13/5/2026 về tình hình hoạt động của các hợp tác xã trên địa bàn.
Ủy ban nhân dân phường Đông Triều (2026d). Báo cáo tình hình hoạt động của các doanh nghiệp và hộ kinh doanh trên địa bàn phường Đông Triều. https://www.genspark.ai/api/files/s/LzigUhBM
Ủy ban nhân dân phường Đông Triều (2026e). Báo cáo tổng quan về lĩnh vực lao động việc làm sau sáp nhập 1/7/2025. https://www.genspark.ai/api/files/s/s3EebvOV
Ủy ban nhân dân phường Đông Triều (2026f). Báo cáo thuyết minh kết quả thống kê đất đai năm 2025.