The role of the sharing economy in promoting local tourism development: employment opportunities and the utilization of idle resources
Trần Quốc Hưng
Đại học Công nghiệp Hà Nội
Email: tqhungdlsp@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Kinh tế chia sẻ trong du lịch đang mở ra cơ hội mới cho kinh tế địa phương, nhất là tại nông thôn, miền núi và điểm đến mới nổi, qua hai kênh chủ đạo: tạo việc làm, sinh kế cho hộ gia đình, cá nhân và khai thác tài nguyên, tài sản nhàn rỗi. Vận dụng khung lý thuyết về kinh tế chia sẻ kết hợp thực tiễn mô hình lưu trú chia sẻ, trải nghiệm cộng đồng và nền tảng gọi xe tại các địa phương tiêu biểu, bài viết làm rõ cơ chế tác động của kinh tế chia sẻ tới kinh tế du lịch địa phương: hạ thấp rào cản gia nhập thị trường, chuyển hóa tài sản nhàn rỗi thành nguồn thu, phân bổ lại lợi ích du lịch về cộng đồng. Kết quả cho thấy, kinh tế chia sẻ tạo thêm cơ hội việc làm, thu nhập cho hộ gia đình và phát huy tài nguyên nhàn rỗi, nhưng bộc lộ thách thức về khung pháp lý, chất lượng dịch vụ, nguy cơ quá tải điểm đến và phân phối lợi ích không đồng đều. Bài viết đề xuất giải pháp khuyến khích kinh tế chia sẻ gắn với du lịch cộng đồng, du lịch xanh và phân phối lợi ích công bằng, phù hợp định hướng du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn với khoảng 2,3 triệu việc làm trực tiếp đến năm 2030.
Từ khóa: Du lịch cộng đồng; du lịch địa phương; kinh tế chia sẻ; tài nguyên nhàn rỗi; việc làm.
Abstract: The sharing economy in tourism is opening up new opportunities for local economies—particularly in rural and mountainous areas and emerging destinations—through two main channels: creating jobs and livelihoods for households and individuals, and utilizing idle resources and assets. By applying a theoretical framework on the sharing economy and combining it with practical examples of shared lodging models, community experiences, and ride-hailing platforms in representative localities, this article clarifies the mechanisms through which the sharing economy impacts the local tourism economy: lowering barriers to market entry, transforming idle assets into revenue streams, and redistributing tourism benefits to the community. The results show that the sharing economy creates additional job opportunities and income for households and leverages underutilized resources, but it also presents challenges regarding the legal framework, service quality, the risk of destination overcrowding, and the uneven distribution of benefits. This article proposes solutions to encourage the sharing economy in conjunction with community-based tourism, green tourism, and equitable benefit distribution, in line with the goal of making tourism a key economic sector, generating approximately 2.3 million direct jobs by 2030.
Keywords: Community-based tourism; local tourism; sharing economy; underutilized resources; employment.
1. Đặt vấn đề
Du lịch được xác định là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn, thúc đẩy tiêu dùng, mở rộng thị trường dịch vụ, tạo việc làm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại các địa phương (Bộ Chính trị, 2026). Trong bối cảnh đó, kinh tế chia sẻ với sự kết nối của các nền tảng số như Airbnb, Luxstay trong lưu trú, Grab, Be trong vận chuyển, Traveloka, Klook trong đặt dịch vụ đã trở thành một kênh phân phối mới, đưa du lịch đến gần hơn với hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư tại các điểm đến. Khác với mô hình kinh doanh truyền thống vốn đòi hỏi vốn lớn, thủ tục phức tạp, kinh tế chia sẻ cho phép bất kỳ chủ thể nào có nguồn lực nhàn rỗi – phòng trống, nhà ở, phương tiện, kỹ năng – tham gia thị trường với chi phí gia nhập rất thấp (Botsman & Rogers, 2010; Frenken & Schor, 2017).
Về mặt lý luận, các nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra hai mặt của mô hình này. Guttentag (2015) coi Airbnb là đổi mới mang tính phá vỡ làm hình thành khu vực lưu trú du lịch phi chính thức, trong khi Zervas và cộng sự (2017) chứng minh tác động của nó tới doanh thu khách sạn truyền thống, phản ánh sự chuyển dịch giá trị từ doanh nghiệp lớn về hộ gia đình, cá nhân. Các nghiên cứu trong nước phần lớn tập trung vào khái niệm, cơ sở pháp lý và thực trạng mô hình lưu trú chia sẻ tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng (Tạp chí Công Thương, 2023), hoặc bàn về giải pháp chung thúc đẩy kinh tế chia sẻ (Tạp chí Ngân hàng, 2022). Tuy nhiên, còn ít công trình nghiên cứu một cách hệ thống mối quan hệ giữa kinh tế chia sẻ với phát triển kinh tế du lịch ở cấp địa phương, đặc biệt trên hai kênh: cơ hội việc làm, sinh kế của hộ gia đình và khai thác tài nguyên nhàn rỗi. Đây là khoảng trống nghiên cứu mà bài viết hướng tới.
Về mặt chính sách, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới (Bộ Chính trị, 2026) vừa đặt ra các mục tiêu rất cụ thể: du lịch đóng góp trực tiếp 10-12% GDP, đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa, tạo khoảng 2,3 triệu việc làm trực tiếp và 3,5 triệu việc làm gián tiếp đến năm 2030; đồng thời yêu cầu phát triển mạnh du lịch cộng đồng gắn với sinh thái nông nghiệp, nông thôn, làng nghề, mỗi địa phương có một sản phẩm du lịch đặc thù, cũng như xây dựng cơ chế, chính sách đột phá về các mô hình du lịch mới, trong đó có kinh tế chia sẻ và kinh doanh trên nền tảng số. Nghị quyết cũng nhấn mạnh quan điểm doanh nghiệp là lực lượng tiên phong, Nhân dân là chủ thể tham gia và thụ hưởng trong phát triển du lịch (Bộ Chính trị, 2026). Điều này cho thấy, kinh tế chia sẻ không chỉ là hiện tượng thị trường mà còn là công cụ chính sách quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu phát triển du lịch bao trùm tại địa phương.
2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01 – 8/2026, sử dụng cách tiếp cận kinh tế học thể chế kết hợp kinh tế du lịch, với ba nhóm phương pháp chủ yếu. Cụ thể: phương pháp phân tích – tổng hợp tài liệu được dùng để rà soát các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về kinh tế chia sẻ, lợi ích – thách thức của mô hình, mối quan hệ với việc làm và sinh kế cộng đồng; Phương pháp nghiên cứu trường hợp được vận dụng để khảo cứu thực tiễn tại một số địa phương tiêu biểu cho các bối cảnh khác nhau: đô thị du lịch (Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh), đô thị di sản (Hà Nội, Hội An) và điểm đến cộng đồng, nông thôn (Quảng Ninh, Lâm Đồng), thông qua các công bố chính thức, báo cáo của cơ quan quản lý và báo chí chuyên ngành giai đoạn 2018-2026; Phương pháp so sánh được sử dụng để đối chiếu cách tiếp cận khuyến khích kinh tế chia sẻ giữa các địa phương và giữa một số quốc gia có thị trường du lịch chia sẻ phát triển.
Dữ liệu thứ cấp được xử lý theo hướng định tính, đối chiếu chéo giữa các nguồn để bảo đảm độ tin cậy. Khung phân tích gồm ba kênh tác động của kinh tế chia sẻ đối với kinh tế du lịch địa phương: (1) Hạ thấp rào cản gia nhập thị trường; (2) Chuyển hóa tài nguyên, tài sản nhàn rỗi thành nguồn thu; (3) Phân bổ lại lợi ích du lịch về hộ gia đình và cộng đồng. Giới hạn của nghiên cứu là chưa thực hiện khảo sát định lượng trực tiếp các hộ gia đình tham gia thị trường chia sẻ tại địa phương.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Cơ chế tác động của kinh tế chia sẻ đến kinh tế du lịch địa phương
Kinh tế chia sẻ tác động đến kinh tế du lịch địa phương thông qua ba kênh cơ bản:
Kênh thứ nhất là hạ thấp rào cản gia nhập thị trường. Trong mô hình truyền thống, việc tham gia cung ứng dịch vụ du lịch đòi hỏi vốn đầu tư lớn, mặt bằng kinh doanh và đội ngũ vận hành chuyên nghiệp, khiến hộ gia đình và người dân địa phương khó tiếp cận. Kinh tế chia sẻ xóa bỏ phần lớn các rào cản này: chỉ cần một không gian trống, một phương tiện hoặc một kỹ năng, hộ gia đình có thể trở thành nhà cung cấp thông qua nền tảng số (Botsman & Rogers, 2010).
Kênh thứ hai là chuyển hóa tài nguyên, tài sản nhàn rỗi thành dòng thu nhập, thay vì để tài sản không sinh lời.
Kênh thứ ba là phân bổ lại chuỗi giá trị du lịch: lợi ích từ hoạt động du lịch không còn tập trung chủ yếu vào các doanh nghiệp có vốn lớn mà lan tỏa tới hộ gia đình và cộng đồng dân cư, qua đó giảm hiện tượng kinh tế du lịch “rò rỉ” ra ngoài địa phương – một hạn chế kinh điển của các điểm đến phụ thuộc vào nhà đầu tư bên ngoài.
Ba kênh tác động này hoàn toàn nhất quán với định hướng của Nghị quyết số 26-NQ/TW về phát triển du lịch cộng đồng, về việc mỗi địa phương có một sản phẩm du lịch đặc thù, phát triển các làng du lịch tiêu biểu trở thành điểm đến hấp dẫn, và quan điểm lấy Nhân dân làm chủ thể tham gia và thụ hưởng (Bộ Chính trị, 2026). Nói cách khác, kinh tế chia sẻ chính là hạ tầng thể chế – công nghệ để hiện thực hóa yêu cầu “đưa du lịch về với cộng đồng” mà Nghị quyết đã đặt ra.
Về động học kinh tế, tác động của kinh tế chia sẻ còn thể hiện ở hiệu ứng số nhân việc làm và thu nhập tại địa phương. Khác với cơ sở lưu trú quy mô lớn thường có chuỗi cung ứng và lao động chuyển về đô thị hoặc từ bên ngoài, dịch vụ chia sẻ được vận hành bởi chính hộ gia đình sở tại, nên phần lớn thu nhập phát sinh được tiêu dùng tại chỗ – mua thực phẩm ở chợ địa phương, thuê lao động sửa chữa, vệ sinh, giặt là trong làng xóm – qua đó tạo ra vòng xoáy thu nhập nội địa có lợi cho kinh tế địa phương. Nghiên cứu của Zervas và cộng sự (2017) tại Austin (Hoa Kỳ) cũng cho thấy sự gia nhập của Airbnb làm giảm khoảng 8-10% doanh thu phòng của khách sạn truyền thống – minh chứng cho thấy dòng tiền du lịch đang được phân bổ lại sang khu vực hộ gia đình, cá nhân. Hiệu ứng này gợi ý, chính sách phát triển du lịch địa phương cần tính đến vai trò của khu vực chia sẻ như một đối trọng cân bằng chuỗi giá trị, thay vì chỉ ưu tiên thu hút đầu tư quy mô lớn.
3.2. Cơ hội việc làm từ kinh tế chia sẻ trong du lịch
Kinh tế chia sẻ tạo ra việc làm ở 3 nhóm chính. Nhóm thứ nhất là việc làm trực tiếp: chủ hộ kinh doanh lưu trú chia sẻ (vận hành homestay, quản lý đặt phòng, đón tiếp, phục vụ ăn uống), tài xế hợp tác với nền tảng gọi xe, hướng dẫn viên, nghệ nhân tổ chức trải nghiệm cho khách. Nhóm thứ hai là việc làm phụ trợ được kéo theo sau nhu cầu của du khách: vệ sinh, giặt là, cung ứng nông sản, thực phẩm, quà lưu niệm, vận chuyển hàng hóa, sửa chữa, bảo trì cơ sở lưu trú. Nhóm thứ ba là việc làm trong hệ sinh thái nền tảng và nội dung số: quản trị gian hàng trên nền tảng, chụp ảnh, quay phim, biên tập nội dung giới thiệu điểm đến, tiếp thị số cho hộ gia đình. Đáng chú ý, các loại hình việc làm này có đặc điểm linh hoạt về thời gian, không đòi hỏi trình độ cao, phù hợp với lao động nữ, lao động trung niên và lao động nông nhàn tại địa phương (Bảng 1).
Từ góc độ chính sách, nếu mục tiêu của Nghị quyết số 26-NQ/TW về 2,3 triệu việc làm trực tiếp và 3,5 triệu việc làm gián tiếp đến năm 2030 được hiện thực hóa, kinh tế chia sẻ cần được xem là một kênh tạo việc làm quan trọng bên cạnh khu vực doanh nghiệp chính thức, đặc biệt tại các địa phương có lợi thế du lịch nhưng dân cư còn khó khăn về vốn và kỹ năng. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy khu vực lưu trú phi chính thức có thể trở thành sinh kế chính của nhiều hộ gia đình, tuy nhiên mức độ bền vững phụ thuộc vào chất lượng dịch vụ và sự hỗ trợ của chính quyền địa phương (Guttentag, 2015).
Đặc điểm đáng chú ý của việc làm trong kinh tế chia sẻ du lịch là tính bao trùm và linh hoạt. Việc làm không đòi hỏi văn bằng, thời gian tham gia linh hoạt, có thể kết hợp với canh tác nông nghiệp, chăn nuôi hoặc việc nhà, nên phù hợp với lao động nữ, lao động lớn tuổi, người dân tộc thiểu số tại các điểm đến miền núi – những nhóm thường gặp rào cản lớn khi tiếp cận việc làm chính thức trong khu du lịch. Về mặt sinh kế, loại hình tự tạo việc làm này giúp hộ gia đình đa dạng hóa nguồn thu, giảm phụ thuộc vào mùa vụ nông nghiệp và phần nào hạn chế tình trạng lao động trẻ di cư khỏi địa phương. Tuy nhiên, cũng chính tính chất linh hoạt, phi chính thức khiến thu nhập không ổn định, thiếu các chế độ bảo hiểm, an toàn lao động; do đó, định hướng chính sách cần song song phát triển kỹ năng và bảo vệ người lao động nền tảng, tránh để việc làm chia sẻ trở thành khu vực “việc làm giá rẻ” thiếu bền vững.
Bảng 1. Kênh việc làm do kinh tế chia sẻ tạo ra trong du lịch địa phương
| Nhóm việc làm | Loại hình tiêu biểu | Đối tượng chủ yếu |
| Việc làm trực tiếp | Chủ homestay, cơ sở lưu trú chia sẻ; tài xế nền tảng gọi xe; hướng dẫn trải nghiệm, nghệ nhân | Hộ gia đình, cá nhân sở hữu tài sản nhàn rỗi |
| Việc làm phụ trợ | Vệ sinh, giặt là; cung ứng nông sản, thực phẩm, quà lưu niệm; vận chuyển, sửa chữa | Lao động nông nhàn, lao động nữ, lao động địa phương |
| Việc làm trong hệ sinh thái số | Quản trị gian hàng trên nền tảng; sản xuất nội dung, tiếp thị số; phân tích dữ liệu | Thanh niên, lao động có kỹ năng công nghệ thông tin |
3.3. Khai thác tài nguyên nhàn rỗi – động lực đặc thù của kinh tế chia sẻ
Chất lượng của sản phẩm du lịch địa phương thường gắn với những tài nguyên không thể nhân rộng: không gian ở truyền thống, bản sắc kiến trúc, văn hóa ẩm thực, làng nghề, cảnh quan nông nghiệp. Nhiều tài nguyên trong số đó thuộc sở hữu của hộ gia đình, cá nhân và đang nằm ở trạng thái nhàn rỗi hoặc sử dụng không hết công suất. Kinh tế chia sẻ cho phép chuyển hóa các tài nguyên này thành sản phẩm du lịch, giúp hộ gia đình thu được lợi ích từ chính tài sản và kỹ năng vốn có của mình mà không cần phải bán đi hay đầu tư thêm nhiều vốn (Frenken & Schor, 2017).
Có thể kể đến bốn nhóm tài nguyên nhàn rỗi tiêu biểu được khai thác trong thực tiễn du lịch địa phương. Nhóm một là bất động sản: nhà ở truyền thống, nhà sàn, nhà vườn, phòng trống trong gia đình được đưa vào kinh doanh lưu trú ngắn ngày qua các nền tảng đặt phòng; đây là nhóm phổ biến nhất tại các điểm du lịch cộng đồng, làng nghề và khu vực ngoại thành. Nhóm hai là phương tiện: ô tô, xe máy của cá nhân tham gia dịch vụ vận chuyển khách qua nền tảng gọi xe, giúp giải quyết bài toán di chuyển tại các điểm đến có hạ tầng giao thông công cộng hạn chế. Nhóm ba là lao động và kỹ năng truyền thống: nghệ nhân làng nghề, người nội trợ nấu ẩm thực bản địa, đội văn nghệ dân gian tham gia phục vụ và trải nghiệm du lịch, biến tri thức địa phương thành dịch vụ có thu. Nhóm bốn là không gian văn hóa – cộng đồng: sân vườn, bến bãi, chợ quê, nhà văn hóa thôn bản được khai thác theo hình thức chia sẻ cho tổ chức sự kiện, trải nghiệm, gắn với định hướng phát triển kinh tế đêm và các sản phẩm OCOP của Nghị quyết số 26-NQ/TW.
Cần lưu ý ranh giới giữa bản chất “chia sẻ” và kinh doanh chuyên nghiệp hóa: khi một cá nhân kinh doanh nhiều căn hộ, nhiều phương tiện với mục đích hoàn toàn thương mại, mô hình đó không còn thuần túy là chia sẻ tài nguyên nhàn rỗi nữa (Frenken & Schor, 2017). Việc phân định này có ý nghĩa quan trọng đối với chính sách: địa phương nên có đối xử ưu đãi về thủ tục, thuế đối với hoạt động chia sẻ phi chuyên nghiệp quy mô nhỏ để khuyến khích hộ gia đình tham gia, đồng thời áp dụng các điều kiện kinh doanh chặt chẽ hơn đối với chủ thể chuyên nghiệp hóa, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp truyền thống.
Minh họa cụ thể từ thực tiễn cho thấy sức mạnh của mô hình này. Một căn nhà sàn của đồng bào dân tộc thiểu số tại bản du lịch cộng đồng, ngoài việc cho thuê phòng, có thể cùng lúc tạo ra chuỗi thu nhập: bữa ăn tối của gia đình trở thành sản phẩm ẩm thực địa phương; việc dệt vải, làm nông, đi thuyền của chủ nhà trở thành dịch vụ trải nghiệm có thu; nông sản, gia vị, sản vật vườn nhà trở thành quà tặng du khách. Nhờ đó, lượng khách tăng thêm không chỉ dừng ở việc lấp đầy phòng trống mà còn kéo theo tiêu dùng các sản phẩm OCOP, hàng thủ công mỹ nghệ và dịch vụ địa phương khác, gia tăng giá trị giữ lại tại điểm đến – đúng định hướng phát triển du lịch cộng đồng gắn với sinh thái nông nghiệp, nông thôn, làng nghề của Nghị quyết số 26-NQ/TW. Chính sự cộng hưởng giữa lưu trú, ẩm thực, trải nghiệm và sản vật địa phương này tạo nên lợi thế khó sao chép của du lịch cộng đồng dựa trên chia sẻ.
Cần nhấn mạnh, tài nguyên nhàn rỗi không chỉ là tài sản hữu hình. Tri thức bản địa, lễ hội, làn điệu dân ca, kỹ thuật làm nghề, ngôn ngữ và phong tục ẩm thực là những tài nguyên vô hình có giá trị du lịch lớn nhưng thường bị bỏ ngỏ bởi các mô hình khai thác chuyên nghiệp hóa từ bên ngoài. Kinh tế chia sẻ trao quyền cho chính người nắm giữ tri thức trực tiếp giới thiệu, kể chuyện và tổ chức trải nghiệm, nhờ đó giá trị văn hóa được bảo tồn ngay trong quá trình khai thác, thay vì bị thương mại hóa một chiều. Từ góc độ quản trị, địa phương cần xây dựng nguyên tắc khai thác tôn trọng bản quyền văn hóa cộng đồng, tránh để trung gian bên ngoài chiếm hữu lợi ích từ di sản mà người dân tạo dựng – vấn đề gắn trực tiếp với yêu cầu bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa trong phát triển du lịch của Nghị quyết số 26-NQ/TW.
3.4. Thực tiễn tại một số địa phương và bài học rút ra
Thực tiễn cho thấy mô hình lưu trú chia sẻ đã phát triển mạnh tại các thành phố lớn và khu du lịch như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng (Tạp chí Công Thương, 2023), đồng thời lan tỏa tới các điểm du lịch cộng đồng, nông thôn và miền núi – nơi các hộ gia đình sở hữu nhà ở truyền thống và tài nguyên nhân văn nhưng thiếu kênh tiếp cận khách du lịch. Nền tảng số giúp các hộ này chạm tới thị trường quốc tế với chi phí gần như bằng không; ngược lại, khách du lịch có thêm trải nghiệm chân thực, đậm bản sắc địa phương so với kênh lưu trú tiêu chuẩn hóa – đúng với kỳ vọng của phát triển du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng trong Nghị quyết số 26-NQ/TW.
Ở nhóm đô thị, quản lý lưu trú ngắn ngày tại chung cư là điểm nghẽn điển hình: nhiều nơi từng cấm hoặc hạn chế mô hình kinh doanh căn hộ cho thuê qua Airbnb, Luxstay (CafeF, 2020), trong khi TP. Hồ Chí Minh gần đây yêu cầu chủ căn hộ du lịch phải đăng ký hoạt động lưu trú du lịch theo Quyết định số 19 (VTV, 2026). Ở nhóm điểm đến cộng đồng, bài toán khác lại nổi lên: hộ gia đình thiếu kỹ năng vận hành, thiếu chuẩn dịch vụ và dễ bị nền tảng chi phối điều khoản, hoa hồng. Từ thực tiễn trên, có thể rút ra 2 bài học. Một là, địa phương cần chủ động xây dựng chính sách khuyến khích có chọn lọc: hỗ trợ đăng ký, tập huấn, chuẩn hóa cho hộ gia đình tham gia thị trường chia sẻ; đồng thời quản lý có kiểm soát các loại hình nhạy cảm (lưu trú tại chung cư, khu vực quá tải) để tránh xung đột lợi ích với dân cư. Hai là, cần cơ chế hợp tác giữa chính quyền địa phương và nền tảng trong quảng bá sản phẩm, chia sẻ dữ liệu và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thay vì để thị trường tự phát vận hành.
Phân tích sâu hơn cho thấy, cách thức khai thác kinh tế chia sẻ cần phân biệt theo đặc điểm của từng điểm đến. Tại các đô thị di sản và khu phố cổ – nơi quỹ nhà ở hạn chế và giá trị bảo tồn nhạy cảm – sự phát triển ồ ạt của lưu trú ngắn ngày có thể đẩy giá thuê, dịch chuyển dân cư và thương mại hóa không gian sống, như bài học từ các thành phố du lịch châu Âu khi phải khống chế số ngày cho thuê tối đa tại khu trung tâm. Ngược lại, tại các điểm đến mới nổi, vùng sâu, vùng xa, thách thức chủ yếu lại là thiếu hạ tầng số, thiếu kỹ năng và thiếu sản phẩm phụ trợ để giữ chân khách; kinh tế chia sẻ ở đây cần được hỗ trợ nhiều hơn là kiểm soát. Vì vậy, quản trị địa phương nên linh hoạt theo từng vùng: kiểm soát chặt khu vực nhạy cảm đi kèm chính sách hỗ trợ, khuyến khích khu vực còn dư địa, thay vì áp dụng một quy định thống nhất mang tính hành chính cho mọi điểm đến.
3.5. Rào cản và thách thức đối với kinh tế du lịch địa phương
Bên cạnh những cơ hội, kinh tế chia sẻ trong du lịch địa phương phải đối mặt với năm nhóm rào cản. Thứ nhất, rào cản thể chế: khung pháp lý chưa có quy định riêng cho lưu trú ngắn ngày, chưa phân định rõ nghĩa vụ đăng ký, thuế, an toàn của hộ gia đình tham gia thị trường, dẫn đến tình trạng “vùng xám” và thái độ ngần ngại của chính quyền địa phương (Chính phủ, 2017; Thủ tướng Chính phủ, 2019). Thứ hai, rào cản năng lực: phần lớn hộ gia đình thiếu kỹ năng số, kiến thức vận hành dịch vụ, kỹ năng giao tiếp với khách quốc tế, dễ dẫn đến chất lượng dịch vụ không đồng đều, ảnh hưởng tới thương hiệu điểm đến. Thứ ba, rủi ro quá tải: tại các điểm đến nổi tiếng, hoạt động chia sẻ tài nguyên có thể làm gia tăng áp lực lên hạ tầng, nhà ở, làm đẩy giá bất động sản và chuyển đổi mục đích sử dụng nhà ở của dân cư – bài học đã được ghi nhận ở nhiều thành phố du lịch trên thế giới. Thứ tư, bất bình đẳng trong phân phối lợi ích: nhóm hộ có tài sản lớn, vị trí đẹp thường hưởng lợi nhiều hơn, trong khi lao động phổ thông tham gia nền tảng thiếu bảo hiểm xã hội, thu nhập không ổn định. Thứ năm, rào cản môi trường: gia tăng khách lưu trú phi chính thức kéo theo áp lực về chất thải, nước, năng lượng tại các khu dân cư và vùng sinh thái nhạy cảm, đặt ra yêu cầu quản lý gắn với mục tiêu du lịch xanh, bền vững.
Một nhóm rào cản khác thuộc về an toàn – an ninh và niềm tin của khách du lịch. Hộ gia đình tham gia lưu trú chia sẻ thường chưa được tập huấn về phòng cháy chữa cháy, vệ sinh an toàn thực phẩm, sơ cứu và xác thực khách lưu trú theo yêu cầu của cơ sở lưu trú du lịch chính thức (Chính phủ, 2017); du khách khi gặp sự cố cũng khó xác định trách nhiệm thuộc về chủ nhà hay nền tảng. Bên cạnh đó, việc thu thập dữ liệu cá nhân của khách trên nền tảng đặt phòng đặt ra yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân ngay ở quy mô hộ gia đình – vấn đề mới mà nhiều địa phương chưa có hướng dẫn cụ thể. Những rào cản này nếu không được tháo gỡ sẽ làm suy giảm niềm tin của du khách và cản trở việc mở rộng bền vững mô hình tại địa phương.
3.6. Đề xuất giải pháp khuyến khích kinh tế chia sẻ phục vụ kinh tế du lịch địa phương
Đối với chính quyền địa phương: kiểm kê, danh mục hóa tài nguyên nhàn rỗi có tiềm năng du lịch; xây dựng chương trình hỗ trợ đăng ký, tập huấn kỹ năng số, chuẩn hóa dịch vụ cho hộ gia đình; ban hành quy định khuyến khích hoạt động chia sẻ quy mô nhỏ, phi chuyên nghiệp và kiểm soát các khu vực nhạy cảm theo tinh thần cơ chế thí điểm có kiểm soát của Nghị quyết số 26-NQ/TW.
Đối với nền tảng số: minh bạch điều khoản, hoa hồng; hỗ trợ địa phương quảng bá sản phẩm đặc thù; chia sẻ dữ liệu giao dịch với cơ quan quản lý và thực hiện trách nhiệm xác thực khách, bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đối với cộng đồng dân cư: xây dựng quy chế tham gia, quỹ phát triển du lịch cộng đồng, quy tắc ứng xử nhằm phân phối lợi ích công bằng và hạn chế xung đột với đời sống dân cư.
Đối với trung ương: hoàn thiện khung pháp lý chung cho lưu trú ngắn ngày và nền tảng trung gian, chính sách tín dụng ưu đãi, bảo hiểm nghề nghiệp cho lao động nền tảng, gắn kinh tế chia sẻ với quy hoạch không gian du lịch quốc gia.
Để bảo đảm tính bền vững, khung giải pháp cần gắn với ba trụ cột: về kinh tế, mở rộng việc làm, thu nhập cho hộ gia đình và gia tăng chi tiêu du khách tại địa phương; về xã hội, phân phối lợi ích công bằng, tôn trọng bản sắc văn hóa và lối sống cộng đồng; về môi trường, khuyến khích chia sẻ để giảm lãng phí nguồn lực, áp dụng chuẩn du lịch xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn trong du lịch, phù hợp với mục tiêu phát triển du lịch nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Bảng 2. Khung giải pháp khuyến khích kinh tế chia sẻ phục vụ kinh tế du lịch địa phương
| Nhóm chủ thể | Giải pháp chủ yếu | Mục tiêu |
| Chính quyền địa phương | Kiểm kê tài nguyên nhàn rỗi; hỗ trợ đăng ký, tập huấn kỹ năng số; khuyến khích quy mô nhỏ; kiểm soát khu vực nhạy cảm | Bao trùm; hạn chế quá tải; nâng chất lượng |
| Nền tảng số | Minh bạch điều khoản; quảng bá sản phẩm địa phương; chia sẻ dữ liệu; xác thực khách | Cân bằng lợi ích; niềm tin thị trường |
| Cộng đồng dân cư | Quy chế tham gia; quỹ phát triển du lịch cộng đồng; quy tắc ứng xử | Phân phối lợi ích công bằng |
| Trung ương | Hoàn thiện khung pháp lý; tín dụng ưu đãi; bảo hiểm lao động nền tảng; thí điểm có kiểm soát | Khung thể chế; giảm rủi ro |
4. Kết luận
Kinh tế chia sẻ đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy kinh tế du lịch địa phương thông qua việc hạ thấp rào cản gia nhập thị trường, chuyển hóa tài nguyên, tài sản nhàn rỗi thành nguồn thu và phân bổ lại lợi ích du lịch về hộ gia đình, cộng đồng. Đây là kênh tạo việc làm linh hoạt, phù hợp với lao động địa phương và góp phần hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết số 26-NQ/TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo khoảng 2,3 triệu việc làm trực tiếp và 3,5 triệu việc làm gián tiếp đến năm 2030. Tuy nhiên, kết quả khai thác này chỉ bền vững khi gắn với hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực hộ gia đình và cơ chế phân phối lợi ích công bằng, kiểm soát nguy cơ quá tải và suy giảm chất lượng môi trường điểm đến.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.
Botsman, R., & Rogers, R. (2010). What’s mine is yours: The rise of collaborative consumption. New York: HarperCollins.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị. (2026). Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.
CafeF. (2020). Cấm sử dụng căn hộ kinh doanh cho thuê theo giờ, mô hình kinh doanh căn hộ cho thuê qua Airbnb, Luxstay sẽ ra sao? https://cafef.vn/cam-su-dung-can-ho-kinh-doanh-cho-thue-theo-gio-mo-hinh-kinh-doanh-can-ho-cho-thue-qua-airbnb-luxstay-se-ra-sao-20201013105302022.chn
Chính phủ (2017). Nghị định số 168/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch.
Frenken, K., & Schor, J. (2017). Putting the sharing economy into perspective. Environmental Innovation and Societal Transitions, 23, 3-10. DOI: 10.1016/j.eist.2017.01.003
Guttentag, D. (2015). Airbnb: Disruptive innovation and the rise of an informal tourism accommodation sector. Current Issues in Tourism, 18(12), 1192-1217. DOI: 10.1080/13683500.2013.827159
Quốc hội (2017). Luật Du lịch năm 2017.
Phạm Minh Quốc (2023). Kinh tế chia sẻ – cơ sở pháp lý và một số đề xuất nhằm thúc đẩy sự phát triển của các mô hình kinh tế chia sẻ ở Việt Nam. Tạp chí Công Thương. https://tapchicongthuong.vn/kinh-te-chia-se-co-so-phap-ly-va-mot-so-de-xuat-nham-thuc-day-su-phat-trien-cac-mo-hinh-kinh-te-chia-se-o-viet-nam-108257.htm
Phạm Thị Thanh Bình và Vũ Thị Quế Anh (2022). Giải pháp phát triển kinh tế chia sẻ ở Việt Nam. Tạp chí Ngân hàng. https://tapchinganhang.gov.vn/giai-phap-phat-trien-kinh-te-chia-se-o-viet-nam-6885.html.
Thủ tướng Chính phủ (2019). Quyết định số 999/QĐ-TTg ngày 12/8/2019 phê duyệt Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ.
Thủ tướng Chính phủ (2020a). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2020b). Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22/1/2020 phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030.
Zervas, G., Proserpio, D., & Byers, J. W. (2017). The rise of the sharing economy: Estimating the impact of Airbnb on the hotel industry. Journal of Marketing Research, 54(5), 687-705. DOI: 10.1509/jmr.15.0204



