Du lịch tâm linh và cơ hội phát triển sinh kế cộng đồng

Spiritual tourism and opportunities for community livelihood development

TS. Phạm Thị Cẩm Vân
Viện Dân tộc học và Tôn giáo học,
Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Mail: Phamcamvan0403@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Du lịch tâm linh ngày càng được quan tâm, không chỉ đáp ứng nhu cầu văn hóa, tín ngưỡng mà còn mở ra cơ hội phát triển sinh kế cho cộng đồng địa phương. Thông qua các hoạt động dịch vụ, kinh doanh, sản xuất sản phẩm đặc trưng và khai thác giá trị văn hóa bản địa, du lịch tâm linh góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập và đa dạng hóa sinh kế của người dân. Tuy nhiên, quá trình phát triển cũng đặt ra những vấn đề về bảo tồn giá trị văn hóa, sự tham gia và hưởng lợi của cộng đồng, chất lượng dịch vụ, bảo vệ môi trường và quản lý hoạt động du lịch. Bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy giá trị của du lịch tâm linh đối với sinh kế cộng đồng, gắn với bảo tồn văn hóa và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước theo hướng phát triển bền vững.

Từ khóa: Du lịch tâm linh; văn hóa, tín ngưỡng; bảo tồn giá trị văn hóa; sinh kế cộng đồng; quản lý nhà nước.

Abstract: Spiritual tourism is receiving increasing attention, not only as a means of meeting cultural and religious needs but also as an avenue for improving local community livelihoods. Through service provision, business activities, the production of distinctive local products, and the utilization of indigenous cultural values, spiritual tourism contributes to job creation, income generation, and livelihood diversification. However, its development also raises challenges related to cultural heritage preservation, community participation and benefit-sharing, service quality, environmental protection, and tourism management. Based on an analysis of the opportunities and challenges arising from the development of spiritual tourism, this article proposes several solutions to enhance its contribution to community livelihoods, promote cultural preservation, and improve the effectiveness of state management in achieving sustainable development.

Keywords: Spiritual tourism; culture and beliefs; cultural value preservation; community livelihoods; state management.

1. Đặt vấn đề

Trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, du lịch ngày càng có vai trò trong khai thác các giá trị văn hóa và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Cùng với sự đa dạng hóa nhu cầu du lịch, các loại hình gắn với văn hóa, tín ngưỡng và đời sống tinh thần ngày càng được quan tâm, trong đó có du lịch tâm linh. Các điểm đến gắn với di tích lịch sử, cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội và không gian văn hóa truyền thống không chỉ thu hút du khách mà còn tạo thêm động lực phát triển các hoạt động kinh tế tại địa phương.

Sự phát triển của du lịch tâm linh tạo điều kiện để người dân địa phương tham gia cung ứng dịch vụ, phát triển sản phẩm và khai thác các giá trị văn hóa bản địa, qua đó tạo việc làm, tăng thu nhập và đa dạng hóa sinh kế. Tuy nhiên, những cơ hội này không tự động chuyển thành lợi ích bền vững cho cộng đồng mà còn phụ thuộc vào cách thức tổ chức hoạt động du lịch, mức độ tham gia và khả năng hưởng lợi của người dân, cũng như việc khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực tại điểm đến. Bên cạnh đó, sự gia tăng lượng khách cũng đặt ra yêu cầu bảo tồn giá trị văn hóa, bảo vệ môi trường và không gian di tích, nâng cao chất lượng dịch vụ, bảo đảm trật tự và duy trì sự phù hợp giữa khai thác du lịch với khả năng đáp ứng của điểm đến.

Do đó, phát triển du lịch tâm linh gắn với sinh kế cộng đồng không chỉ là vấn đề khai thác tiềm năng du lịch mà còn đặt ra yêu cầu đối với quản lý nhà nước (QLNN) trong định hướng, tổ chức và điều phối các hoạt động tại điểm đến. Đây là cơ sở để du lịch tâm linh vừa đáp ứng nhu cầu của du khách, vừa tạo thêm cơ hội việc làm, tăng thu nhập và góp phần cải thiện sinh kế của người dân theo hướng phát triển bền vững.

Trên cơ sở đó, bài viết tập trung làm rõ cơ hội phát triển sinh kế từ du lịch tâm linh, nhận diện một số vấn đề đặt ra đối với QLNN trong phát triển du lịch gắn với sinh kế cộng đồng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN, phát huy giá trị văn hóa và tạo điều kiện để cộng đồng tham gia, hưởng lợi phù hợp từ hoạt động du lịch.

2. Du lịch tâm linh và cơ hội phát triển sinh kế cộng đồng

Phát triển du lịch được nhiều quốc gia xác định là một trong những hướng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, bảo tồn văn hóa, bảo vệ môi trường và tăng cường gắn kết xã hội. Việt Nam có nhiều tiềm năng về tự nhiên, văn hóa và xã hội để phát triển du lịch; các hoạt động du lịch ngày càng đóng góp rõ nét vào phát triển kinh tế và tạo việc làm, thu nhập cho người dân. Năm 2024, tổng thu từ khách du lịch đạt khoảng 840.000 tỷ đồng, tăng 23,9% so với năm 2023 (Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, 2025).

Trong khi đó, du lịch tâm linh chưa được quy định như một loại hình riêng trong Luật Du lịch năm 2017, nhưng trên thực tế được thể hiện qua các hoạt động du lịch gắn với tín ngưỡng, tôn giáo, đời sống tinh thần và các giá trị văn hóa tại điểm đến. Các hoạt động này thường gắn với việc tham quan, chiêm bái, hành hương tại đền, chùa, cơ sở thờ tự, di tích lịch sử – văn hóa và các không gian lễ hội. Việt Nam có nguồn tài nguyên du lịch tâm linh phong phú, gắn với hệ thống di tích lịch sử, văn hóa, các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo và lễ hội, tạo điều kiện để khai thác các giá trị văn hóa và phát triển du lịch gắn với kinh tế địa phương (Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, 2024). Các hoạt động du lịch tại những điểm này không chỉ thu hút du khách mà còn làm gia tăng nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ và sản phẩm địa phương, từ đó, mở rộng cơ hội tham gia các hoạt động kinh tế cho cộng đồng. Vì vậy, du lịch tâm linh không chỉ đáp ứng nhu cầu văn hóa, tín ngưỡng và đời sống tinh thần của du khách mà còn có thể góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập và đa dạng hóa sinh kế cho người dân tại các điểm đến. Thông qua khai thác nguồn lực địa phương, hoạt động này có thể tạo việc làm, tăng thu nhập, góp phần hạn chế xu hướng di cư ở khu vực nông thôn (Cugini, 2021). Các cơ hội sinh kế được thể hiện qua nhiều hoạt động cung cấp hàng hóa và dịch vụ phục vụ du khách, như lưu trú, ăn uống, vận chuyển, bán sản phẩm địa phương, đồ lưu niệm và vật phẩm phục vụ nhu cầu tín ngưỡng, qua đó tạo thêm nguồn thu cho cộng đồng tại điểm đến (Dương Minh Đức, 2016).

Các cơ hội này được thể hiện thông qua sự tham gia ngày càng đa dạng của người dân vào các hoạt động dịch vụ tại các điểm du lịch tâm linh. Tại Núi Sam (An Giang), Yên Tử (Quảng Ninh), Đền Mẫu (Hưng Yên) và Phủ Giầy (Ninh Bình), người dân tham gia cung cấp nhiều loại hình dịch vụ, như: ăn uống, giải khát, lưu trú, vận chuyển, trông giữ phương tiện, bán đồ lưu niệm, đặc sản địa phương và vật phẩm phục vụ nhu cầu tín ngưỡng. Sự đa dạng của các hoạt động này cho thấy, du lịch tâm linh không chỉ tạo nhu cầu đối với các dịch vụ trực tiếp phục vụ du khách mà còn mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm địa phương, tạo thêm cơ hội việc làm và thu nhập cho người dân.

Tại Khu di tích Núi Sam (An Giang), nơi có Miếu Bà Chúa Xứ, nhu cầu của du khách đối với các dịch vụ ăn uống và sản phẩm địa phương khá rõ nét. Kết quả khảo sát 200 khách du lịch đến Miếu Bà Chúa Xứ cho thấy 90% sử dụng dịch vụ ẩm thực tại các nhà hàng quanh khu du lịch (Phạm Xuân Hậu, 2020). Các sản phẩm ẩm thực và đặc sản, như: lẩu mắm, bún cá Châu Đốc, bánh xèo rau rừng, đường thốt nốt, thổ cẩm Chăm và các sản phẩm từ cây thốt nốt được du khách sử dụng hoặc mua làm quà khá nhiều. Theo đó, với lượng khách đến Miếu Bà Chúa Xứ có thể đạt khoảng 4 triệu lượt/năm, tạo nhu cầu đáng kể đối với dịch vụ ăn uống, sản phẩm phục vụ dâng hương và các dịch vụ liên quan, tạo thêm nguồn thu cho người dân địa phương (Bửu Đấu, 2022).

Tại Đà Nẵng, năm 2024, di tích Ngũ Hành Sơn đón gần 1,9 triệu lượt khách; riêng dịp lễ từ ngày 30/4 – 04/5/2025, đón 40.840 lượt khách (Ngọc Hà, 2025). Lượng khách lớn tạo điều kiện mở rộng các hoạt động dịch vụ và tiêu thụ sản phẩm, góp phần khai thác giá trị văn hóa, tạo việc làm, tăng thu nhập và mở rộng cơ hội sinh kế cho người dân địa phương.

Tại Hà Nội, khu di tích và danh thắng Hương Sơn (chùa Hương) gắn với hoạt động lễ hội và hệ thống dịch vụ phục vụ du khách, trong đó có vận chuyển bằng thuyền, lưu trú, ăn uống, bán hàng lưu niệm và cung cấp các sản phẩm phục vụ nhu cầu tín ngưỡng. Một số hộ dân tại Hương Sơn kết hợp kinh doanh lưu trú với dịch vụ chèo đò, qua đó, tạo nguồn thu đáng kể và có mức thu nhập cao hơn so với hoạt động sản xuất nông nghiệp. Thực tế này cho thấy, du lịch tâm linh có thể tạo thêm việc làm, thu nhập và mở ra cơ hội chuyển dịch sinh kế từ sản xuất nông nghiệp sang các hoạt động dịch vụ phù hợp với điều kiện và lợi thế của địa phương.

Từ những kết quả trên có thể thấy, du lịch tâm linh đang tạo ra cơ hội để người dân tham gia vào các hoạt động kinh tế tại điểm đến, từ cung cấp dịch vụ trực tiếp đến sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm gắn với văn hóa và lợi thế địa phương. Tuy nhiên, mức độ tham gia và khả năng hưởng lợi của người dân không chỉ phụ thuộc vào lượng khách mà còn chịu tác động của hạ tầng, chất lượng dịch vụ, cách thức tổ chức hoạt động du lịch và hiệu quả quản lý tại điểm đến. Vì vậy, để những cơ hội từ du lịch tâm linh được chuyển hóa thành sinh kế ổn định và bền vững, cần có sự định hướng, điều phối và hỗ trợ phù hợp của chính quyền địa phương và các chủ thể liên quan.

3. Một số giải pháp

Một là, tăng cường quản lý lượng khách, sức chứa và hạ tầng tại các điểm du lịch tâm linh.

Du lịch tâm linh thường tập trung vào dịp đầu xuân, lễ hội và các ngày có ý nghĩa tín ngưỡng, làm gia tăng lượng khách trong thời gian ngắn và tạo áp lực lên khả năng phục vụ của điểm đến. Tại Núi Sam, vào mùa lễ hội từng xuất hiện tình trạng quá tải, bán hàng rong gây mất trật tự, ảnh hưởng đến không gian tôn nghiêm và chất lượng trải nghiệm của du khách (Trần Cao Phàm & cộng sự, 2024). Tại Đà Nẵng, Tết Nguyên đán 2024, danh thắng Ngũ Hành Sơn đón gần 402.000 lượt khách, tăng 31% so với cùng kỳ năm 2023 (Cổng thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng, 2024). Những thực tế này cho thấy, yêu cầu nâng cao năng lực quản lý lượng khách, sức chứa và hạ tầng tại các điểm du lịch tâm linh.

Vì vậy, các cơ quan QLNN và chính quyền địa phương cần chủ động dự báo, điều tiết lượng khách, quản lý sức chứa và gắn quy hoạch du lịch với quy hoạch hạ tầng tại điểm đến. Đồng thời, xây dựng phương án phân luồng, tổ chức giao thông, bãi đỗ xe và các dịch vụ thiết yếu vào thời gian cao điểm; tăng cường vệ sinh môi trường, thu gom và xử lý rác thải. Đối với những điểm có nguy cơ quá tải, cần phân bố hợp lý thời gian, không gian đón khách và kết nối với các điểm, tuyến liên quan nhằm giảm áp lực tập trung. Từ đó, nâng cao chất lượng điểm đến, tạo điều kiện để người dân tham gia cung cấp dịch vụ và duy trì nguồn thu ổn định hơn.

Hai là, tạo điều kiện để cộng đồng tham gia và hưởng lợi từ chuỗi giá trị du lịch.

Thực tế tại Chùa Hương, Núi Sam, Yên Tử và Phủ Giầy cho thấy người dân đã tham gia khá đa dạng vào các hoạt động vận chuyển, lưu trú, ăn uống, bán đặc sản, đồ lưu niệm và vật phẩm phục vụ nhu cầu tín ngưỡng. Tuy nhiên, sự tham gia của cộng đồng ở nhiều nơi còn mang tính nhỏ lẻ, khả năng liên kết với các chủ thể khác trong chuỗi giá trị du lịch còn hạn chế. Vì vậy, cần tạo lập môi trường và điều kiện để cộng đồng tham gia ổn định, nâng cao chất lượng dịch vụ và tăng khả năng hưởng lợi từ hoạt động du lịch.

Chính quyền địa phương cần hướng dẫn, hỗ trợ các hộ kinh doanh thực hiện đúng quy định, nâng cao kỹ năng phục vụ, bảo đảm an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường và ứng xử với du khách; đồng thời, tăng cường phổ biến thông tin về tiêu chuẩn, điều kiện kinh doanh và hỗ trợ quảng bá sản phẩm địa phương. Bên cạnh đó, cần khuyến khích và hỗ trợ liên kết giữa cộng đồng với doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú và các chủ thể quản lý điểm đến, tạo điều kiện để người dân từng bước chuyển từ cung cấp dịch vụ đơn lẻ sang tham gia phát triển sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn. Qua đó, nâng cao vai trò của cộng đồng trong chuỗi giá trị du lịch và mở rộng cơ hội tạo việc làm, tăng thu nhập từ du lịch tâm linh.

Ba là, tăng cường phát triển sản phẩm du lịch gắn với đặc trưng văn hóa và sinh kế địa phương.

Hoạt động tại nhiều điểm du lịch tâm linh vẫn chủ yếu tập trung vào hành hương, chiêm bái và tham quan các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo. Các sản phẩm và trải nghiệm còn tương đối giống nhau, chưa khai thác đầy đủ các giá trị về lịch sử, văn hóa, lễ hội, nghề truyền thống và đời sống cộng đồng của từng địa phương. Điều này hạn chế khả năng đa dạng hóa sản phẩm, kéo dài thời gian lưu trú, tăng mức chi tiêu của du khách và mở rộng cơ hội sinh kế cho người dân.

Vì vậy, các cơ quan QLNN, cần tăng cường định hướng, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển các sản phẩm có tính đặc trưng, gắn giá trị văn hóa với nhu cầu trải nghiệm của du khách và khả năng tham gia của cộng đồng. Chính quyền địa phương cần rà soát, lựa chọn và hỗ trợ quảng bá những sản phẩm có giá trị văn hóa, khả năng tiêu thụ và phù hợp với nhu cầu thị trường; đồng thời, khuyến khích người dân, doanh nghiệp và các chủ thể liên quan cùng tham gia phát triển sản phẩm. Bên cạnh đó, cần tăng cường kết nối du lịch tâm linh với du lịch văn hóa, sinh thái, cộng đồng và các điểm đến lân cận nhằm đa dạng hóa trải nghiệm, kéo dài thời gian lưu trú và mở rộng không gian sinh kế cho người dân.

Bốn là, tăng cường quản lý, bảo tồn giá trị văn hóa và bảo vệ môi trường tại các điểm du lịch tâm linh.

Du lịch tâm linh dựa trên những giá trị văn hóa, tín ngưỡng và không gian có ý nghĩa đặc biệt đối với cộng đồng. Vì vậy, cần kiểm soát xu hướng thương mại hóa quá mức, bảo đảm hoạt động kinh doanh không làm ảnh hưởng đến tính tôn nghiêm của di tích và không gian tín ngưỡng. Đồng thời, những vấn đề về giá cả, chất lượng hàng hóa, an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, trật tự và an toàn cho du khách cần được quản lý phù hợp với đặc điểm của từng điểm đến.

Chính quyền địa phương và các chủ thể quản lý cần thực hiện niêm yết và kiểm tra giá dịch vụ, kiểm soát chất lượng hàng hóa, bảo đảm an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường; đồng thời, xử lý kịp thời các hành vi chèo kéo, bán hàng không đúng quy định hoặc gây ảnh hưởng đến không gian điểm đến. Trong mùa lễ hội, cần có phương án phù hợp về giao thông, bãi đỗ xe, vận chuyển khách, thu gom và xử lý rác thải. Việc nâng cao chất lượng quản lý không chỉ bảo vệ quyền lợi của du khách và giá trị của điểm đến mà còn góp phần tạo môi trường kinh doanh ổn định cho người dân.

Bên cạnh đó, việc tổ chức lễ hội, cung cấp vật phẩm dâng cúng và các dịch vụ liên quan cần được thực hiện phù hợp với quy định và đặc trưng văn hóa của từng địa phương. Khuyến khích cộng đồng tham gia bảo tồn di sản, nghề truyền thống, ẩm thực và các giá trị văn hóa bản địa sẽ góp phần tạo sự gắn kết giữa bảo tồn văn hóa với tạo sinh kế, thay vì xem đây là hai mục tiêu tách rời.

Năm là, tăng cường phối hợp và minh bạch trong quản lý, sử dụng nguồn lực từ du lịch tâm linh.

Du lịch tâm linh có sự tham gia của nhiều chủ thể, gồm cơ quan QLNN, chính quyền địa phương, ban quản lý điểm đến, doanh nghiệp, người dân và các tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng. Vì vậy, cần có sự phối hợp chặt chẽ trong tổ chức lễ hội, quản lý hoạt động dịch vụ, bảo đảm an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường và bảo tồn di tích. Chính quyền địa phương cần làm rõ trách nhiệm của các bên, duy trì trao đổi thông tin và kịp thời phối hợp xử lý những vấn đề phát sinh, nhất là trong thời gian cao điểm và mùa lễ hội. Qua đó, tạo môi trường hoạt động ổn định, hạn chế những tác động không mong muốn và nâng cao hiệu quả khai thác các giá trị, nguồn lực.

Đối với các nguồn thu từ hoạt động tâm linh, trong đó có tiền công đức và các khoản đóng góp tự nguyện, việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng và công khai cần được thực hiện theo đúng quy định. Các chủ thể có liên quan cần bảo đảm thông tin về việc quản lý và sử dụng nguồn lực được công khai phù hợp, tạo điều kiện để cộng đồng và các bên liên quan có thể theo dõi, giám sát. Khi được quản lý công khai, minh bạch và sử dụng đúng mục đích, các nguồn lực này có thể góp phần hỗ trợ bảo tồn di tích, duy trì các hoạt động văn hóa, xã hội và cải thiện điều kiện phục vụ du khách, qua đó tạo thêm nguồn lực cho phát triển cộng đồng.

4. Kết luận

Du lịch tâm linh là loại hình du lịch gắn với các giá trị văn hóa, tín ngưỡng và đời sống tinh thần, đáp ứng nhu cầu tìm kiếm sự bình an, trải nghiệm văn hóa và thực hành tín ngưỡng của du khách. Với hệ thống di tích, cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội và không gian văn hóa phong phú, Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển du lịch tâm linh.

Vì vậy, trong thời gian tới, phát triển du lịch tâm linh cần được đặt trong mối liên hệ với du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái và du lịch văn hóa để đa dạng hóa sản phẩm, kéo dài thời gian lưu trú và mở rộng cơ hội sinh kế. Đặc biệt, chú trọng quy hoạch và kiểm soát sức chứa, nâng cao chất lượng dịch vụ, bảo vệ môi trường, bảo tồn giá trị văn hóa và tăng cường sự tham gia của cộng đồng. Sự kết hợp hài hòa giữa vai trò định hướng, quản lý của Nhà nước với sự tham gia của doanh nghiệp và cộng đồng sẽ góp phần khai thác hợp lý giá trị du lịch tâm linh, bảo đảm lợi ích của người dân và thúc đẩy du lịch phát triển theo hướng bền vững.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch (01/01/2025). 2024 – Năm khởi sắc của du lịch Việt Nam. https://bvhttdl.gov.vn/2024-nam-khoi-sac-cua-du-lich-viet-nam-20250102081702859.htm
Bửu Đấu (16/5/2022). Mỗi năm thu 120-150 tỉ đồng tiền công đức, miếu Bà Chúa Xứ núi Sam dành 70% chăm lo an sinh xã hội. https://tuoitre.vn/moi-nam-thu-120-150-ti-dong-tien-cong-duc-mieu-ba-chua-xu-nui-sam-danh-70-cham-lo-an-sinh-xa-hoi-20220516113824331.htm
Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam (18/3/2024). Khai mở tiềm năng du lịch tâm linh. https://vietnamtourism.gov.vn/post/55280?utm_source=chatgpt.com
Cổng thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng (2024). “402 ngàn lượt khách du lịch đến Đà Nẵng dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024”. https://www.danang.gov.vn/en/web/dng/w/402-ngan-luot-khach-du-lich-den-da-nang-dip-tet-nguyen-dan-giap-thin-2024-i
Cugini, A. (2021). Religious Tourism and Sustainability: From Devotion to Spiritual Experience. Tourism in the Mediterranean Sea, 55-73. https://doi.org/10.1108/978-180043-900-920211006
Dương Minh Đức (2016). Du lịch tâm linh tại Việt Nam: những vấn đề lý luận và thực tiễn. Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ. Tập 19, số X5-2016.
Hà Anh (31/01/2025). Giá dịch vụ tại Lễ hội Chùa Hương năm 2025. https://thoibaotaichinhvietnam.vn/gia-dich-vu-tai-le-hoi-chua-huong-nam-2025-169567.html
Ngọc Hà (06/5/2025). Di tích quốc gia đặc biệt Ngũ Hành Sơn đón 40.840 lượt khách dịp 30.4, 1.5. https://baovanhoa.vn/du-lich/di-tich-quoc-gia-dac-biet-ngu-hanh-son-don-40840-luot-khach-dip-304-15-131040.html
Phạm Xuân Hậu & Nguyễn Thị Tuyết (2020). Hoạt động tâm linh ở miếu bà chúa xứ núi Sam, An giang và việc khai thác phục vụ du lịch. Tạp chí khoa học Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh. Tập 17, Số 1 (2020): 117-129.
Quốc hội (2017). Luật Du lịch năm 2017.
Trần Cao Phàm, T.T.Xuân Mai, T.Minh Hiếu (2024). Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ tại Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam. Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Duy Tân 01(62) (2024) 60-69.