Phát triển các chương trình đào tạo gắn với chuyển đổi số tại Học viện Hành chính và Quản trị công

Developing academic programs aligned with digital transformation at the Academy of Public Administration and Governance

PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Vân
Học viện Hành chính và Quản trị công
E-mail: vanntt@apag.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết tìm hiểu quan điểm đột phá của Nghị quyết Đại hội XIV và Nghị quyết số 71-NQ/TW của Đảng trong phát triển giáo dục và đào tạo gắn với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; thực tiễn phát triển các chương trình đào tạo gắn với chuyển đổi số tại các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam và thế giới; định hướng phát triển các chương trình đào tạo tại Học viện Hành chính và Quản trị công, trong đó tập trung vào đề xuất Chương trình đào tạo ngành/chuyên ngành Quản trị số”; chương trình đào tạo định hướng chuyên sâu về Công nghệ Quản trị văn phòng” thuộc ngành Quản trị văn phòng.

Từ khóa: Nghị quyết Đại hội XIV; Nghị quyết số 71-NQ/TW; chương trình đào tạo đại học; chuyển đổi số.

Abstract: This article explores the groundbreaking perspectives of the Resolution of the 14th Party Congress and Party Resolution No. 71-NQ/TW on the development of education and training in conjunction with the development of science, technology, innovation, and digital transformation; the practical implementation of training programs linked to digital transformation at higher education institutions in Vietnam and around the world; and the development direction for training programs at the Academy of Public Administration and Public Management, with a focus on proposing a major/specialization in “Digital Management” and a specialized training program in “Office Management Technology” within the Office Management major.

Keywords: Resolution of the 14th National Congress; Resolution No. 71-NQ/TW; university training programs; digital transformation.

1. Đặt vấn đề

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định giáo dục, trong đó có giáo dục đại học, là một trụ cột phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, đặc biệt trên phương diện nâng tầm trí tuệ dân tộc, phát triển toàn diện văn hoá và con người Việt Nam, kiến tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Trước đó, Nghị quyết  số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW) và Chiến lược Chuyển đổi số quốc gia đã xác định rõ yêu cầu đổi mới mạnh mẽ chương trình đào tạo gắn với chuyển đổi số.

Học viện Hành chính và Quản trị công (viết tắt là Học viện) trong thời gian qua đặc biệt chú trọng đổi mới các chương trình đào tạo trình độ đại học và sau đại học. Để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV và Nghị quyết số 71-NQ/TW của Đảng, việc phát triển các chương trình đào tạo gắn với chuyển đổi số cần tiếp tục được xem là định hướng và nhiệm vụ trọng tâm tại Học viện Hành chính và Quản trị công trong giai đoạn tới.

2. Đột phá phát triển giáo dục và đào tạo gắn với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số 

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng được ban hành trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, khó lường; khoa học – công nghệ, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và kinh tế tri thức đang tái định hình mạnh mẽ phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội, từ đó đặt ra yêu cầu tái định hình nền giáo dục trên phạm vi toàn cầu, mỗi quốc gia đều phải xác định lại tầm nhìn và chiến lược mới cho hệ thống giáo dục trong tương lai. Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục dành sự quan tâm đặc biệt cho giáo dục và đào tạo không chỉ mang tính kế thừa mà còn thể hiện một bước nâng tầm tư duy: giáo dục không chỉ là lĩnh vực xã hội cần đầu tư mà còn là động lực phát triển nội sinh của quốc gia.

Ngày 22/8/2025, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo với quan điểm: “Giáo dục đại học là nòng cốt phát triển nhân lực trình độ cao, nhân tài, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo”, nhấn mạnh đột phá phát triển giáo dục – đào tạo, đặt giáo dục trong mối quan hệ hữu cơ với khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 71-NQ/TW có ý nghĩa hết sức quan trọng, thể hiện sự đổi mới tư duy, mang tầm chiến lược, đột phá về phát triển giáo dục và đào tạo với quan điểm “giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc”, chuyển dịch rõ ràng từ tư duy phát triển giáo dục theo chiều rộng sang chiều sâu.

Giáo dục không còn được nhìn nhận như một hệ thống khép kín mà là một mắt xích quan trọng trong “tam giác phát triển”: giáo dục – khoa học và công nghệ – đổi mới sáng tạo. Điều này hàm ý rằng các cơ sở giáo dục đại học không chỉ thực hiện chức năng đào tạo mà còn phải trở thành trung tâm sản xuất tri thức mới, tham gia giải quyết các vấn đề thực tiễn của xã hội, địa phương và đất nước. Nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo không còn là hoạt động bổ trợ mà dần trở thành một phần cấu thành bản chất của đại học hiện đại.

Nghị quyết số 71-NQ/TW đã xác định rõ mục tiêu: “Nâng tầm các cơ sở giáo dục đại học thực sự trở thành các trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp của quốc gia và của các vùng. Mạng lưới cơ sở giáo dục đại học đóng vai trò nòng cốt trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của các vùng và địa phương, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài đáp ứng yêu cầu của các ngành, lĩnh vực trọng điểm… Từng bước tiệm cận khu vực, quốc tế”. Từ đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt ra là: “Chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo” và  Hiện đại hóa, nâng tầm giáo dục đại học, tạo đột phá phát triển nhân lực trình độ cao và nhân tài, dẫn dắt nghiên cứu, đổi mới sáng tạo”. Để thực hiện nhiệm vụ trên, một giải pháp được xác định là: “Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo theo hướng hiện đại, thực chất, gắn đào tạo với nhu cầu xã hội và thị trường lao động; chú trọng phát triển năng lực số, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng thích ứng của người học trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0” (Bộ Chính trị, 2025).

Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đã xác định một trong các nhiệm vụ, giải pháp đã được xác định đối với các cơ sở đào tạo đại học và sau đại học, đó là: “Xây dựng các mã ngành đào tạo mới và cập nhật chương trình đào tạo nhân lực chuyên nghiệp ở đại học và các trường cao đẳng, dạy nghề với các nội dung liên quan đến dữ liệu và công nghệ số như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, điện toán đám mây, Internet vạn vật, chuỗi khối, dữ liệu lớn; Xây dựng trung tâm nghiên cứu, đào tạo nhân lực về trí tuệ nhân tạo và các công nghệ số liên quan để đào tạo nhân lực chuyển đổi số” (Thủ tướng Chính phủ, 2020).

Như vậy, đổi mới chương trình đào tạo nguồn là yêu cầu tất yếu, vừa đáp ứng yêu cầu của chuyển đổi số quốc gia, vừa cụ thể hóa tinh thần và mục tiêu của Nghị quyết số 71-NQ/TW.

3. Phát triển các chương trình đào tạo khối ngành quản lý – quản trị gắn với chuyển đổi số tại các cơ sở đào tạo ở Việt Nam và thế giới

Cùng với việc đổi mới các chương trình đã có, việc xây dựng và phát triển các chương trình đào tạo mới là một xu hướng có thể thấy rất rõ ở các cơ sở đào tạo đại học trong nước và trên thế giới trong những năm gần đây.

3.1. Các chương trình trong nước

Ở trong nước, ngành Quản trị dữ liệu được mở mới không chỉ ở các trường kỹ thuật, công nghệ thông tin mà còn ở nhiều trường thuộc khối ngành quản lý như Học viện Ngân hàng, Học viện Tài chính. Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã mở chuyên ngành “Quản trị dữ liệu & Khởi nghiệp số” thuộc ngành “Quản trị thông tin” từ năm 2025. Ngành Kinh tế số được mở ra như một hướng đi tiên phong tại nhiều trường khối kinh tế. Đại học Kinh tế Quốc dân mở ngành Công nghệ Logistics và Quản trị chuỗi cung ứng và mới đây mở thêm chuyên ngành Phân tích dữ liệu kinh tế thuộc ngành Khoa học dữ liệu (trong lĩnh vực Tài chính và Thương mại điện tử). Gắn với đó là việc thành lập Khoa mới có tên là Khoa học dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo…

3.2. Các chương trình ở nước ngoài

Ở nước ngoài, việc mở mới các chương trình đào tạo khối ngành quản lý, quản trị gắn với chuyển đổi số được triển khai mạnh mẽ, sâu rộng.

Từ năm 2022, trong chương trình đào tạo ngành “Chính trị học và quản lý nhà nước” của Đại học Tổng hợp Bắc Kinh xây dựng chuyên ngành “Quản trị số” như một chuyên ngành đào tạo định hướng chuyên sâu và từ năm 2025, là trường đại học đầu tiên tại Trung Quốc mở chương trình đào tạo đại học ngành “Quản trị số” là mã ngành mới, độc lập nhằm đào tạo nguồn nhân lực có tính liên ngành, có kiến thức quản trị hiện đại về chuyển đổi số và kỹ năng sử dụng các công nghệ số trong quản lý trong cả khu vực công và khu vực tư.

Tại Liên bang Nga, chương trình đào tạo đại học ngành “Quản trị số” được mở mới tại nhiều trường đại học, như Đại học Kinh tế, Tài chính, Luật và Công nghệ tại St. Petersburg, Trường Tổng hợp Mát-xcơ-va.

Từ năm 2017, Học viện Công vụ và Kinh tế Quốc dân trực thuộc Tổng thống Liên bang Nga đã mở chương trình đào tạo đại học và thạc sĩ chuyên ngành “Nhà nước số” («Цифровое государство») thuộc khối  ngành “Quản lý nhà nước và địa phương” («Государственное и муниципальное управление»)». Học viện cũng đã triển khai chương trình liên kết đào tạo theo chuyên ngành này bằng tiếng Anh và tiếng Pháp. Khoa Khoa học chính trị, Đại học Quốc gia St. Petersburg mở thêm ngành Quản lý công số («Цифровое публичное управление»). Chuyên ngành “Chuyển đổi số trong quản lý nhà nước” hay tương tự như vậy cũng đã được mở tại nhiều trường đại học và các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng công chức

Chương trình đại học và thạc sĩ về “Chuyển đổi số trong Quản trị công và chính sách công” (Digital Public Management and Policy) tại Đại học Helsinki, Phần Lan.

Chương trình Thạc sĩ về “Chính phủ điện tử và quản trị công” cho các nước ASEAN (Koica-Yonsei Master’s Degree Program in e-Government and Public Management for ASEAN), Hàn Quốc.

4. Định hướng phát triển các chương trình đào tạo gắn với chuyển đổi số tại Học viện Hành chính và Quản trị công

4.1. Định hướng chung

Học viện Hành chính và Quản trị công (viết tắt là Học viện) xác định sứ mệnh tiên phong trong đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học về hành chính nhà nước, quản trị công, chính sách công, quản trị nhân lực, văn thư, lưu trữ và quản trị văn phòng; tư vấn chính sách hiệu quả theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, đặt trong tổng thể công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, được thực hiện nghiêm minh; bảo đảm và bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân” với nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của hệ thống chính trị, nhất là cán bộ cấp chiến lược và cấp cơ sở thật sự tiêu biểu, có tư duy, năng lực quản trị tiên tiến, phù hợp với mô hình tổ chức mới và yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước.

Trong thời gian qua, việc cập nhật, bổ sung các nội dung, học phần mới gắn vớikhoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được thể hiện rõ nét trong các chương trình đào tạo đại học, sau đại học của Học viện. Cụ thể như xây dựng mới học phần “Ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo” trong khối kiến thức đại cương; các học phần đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp trong khối kiến thức chuyên ngành của tất cả các chương trình đào tạo; lồng ghép nội dung về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong các học phần thuộc khối kiến thức ngành và chuyên ngành. Việc đổi mới này góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời khẳng định vai trò của giáo dục đại học trong việc cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch và hiệu quả.

Cùng với việc rà soát cập nhật, bổ sung kiến thức về chuyển đổi số, Chính phủ số và kỹ năng số vào các chương trình, giáo trình, bài giảng đào tạo đại học, sau đại học, trong thời gian tới, Học viện cần xác định có những bước đột phá hơn nữa ứng dụng công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực hành chính phục vụ cho chuyển đổi số, thể hiện ở việc mở mới các chuyên ngành, hay chương trình định hướng chuyên sâu trên cơ sở ngành đã có như chuyên ngành “Quản trị dữ liệu” thuộc ngành Hệ thống thông tin; “Quản lý kinh tế số” thuộc ngành Quản lý kinh tế; “Công nghiệp văn hóa” thuộc ngành Văn hóa học; Quản trị công số” hay Quản trị quốc gia trên nền tảng số” thuộc ngành Quản lý nhà nước; “Công nghệ Quản trị văn phòng” thuộc ngành Quản trị văn phòng…; đồng thời hướng tới mở mã ngành mới là “Quản trị số” thuộc khối ngành Quản trị – Quản lý.

4.2. Định hướng đối với chương trình đào tạo ngành/chuyên ngành “Quản trị số”

Ngành “Quản trị số” có tính liên ngành, trong đó nổi lên là các ngành quản lý hệ thống thông tin và công nghệ thông tin. Mục tiêu chung là trang bị kiến thức lý luận nền tảng chung về quản trị và quản trị trên nền tảng số; kiến thức và kỹ năng quản trị chuyển đổi số trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội; có năng lực phân tích, quản lý và lãnh đạo để thực hiện thành công các chiến lược phát triển bền vững và đổi mới của xã hội trong kỷ nguyên kỹ thuật số trong khu vực công và tổ chức, doanh nghiệp.

Khung Chương trình gồm các môn học theo quy định chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, như: triết học, ngoại ngữ, các môn học cơ sở ngành và chuyên ngành, các học phần chuyên sâu bắt buộc và tự chọn dự kiến, như: lý luận về quản trị và quản trị số; Nhà nước và pháp luật trong kỷ nguyên số; lý thuyết và cơ chế quản trị nhà nước hiện đại; dân chủ và quyền con người trong kỷ nguyên số; chính phủ điện tử và chính phủ số; so sánh mô hình chính phủ mở ở các quốc gia trên thế giới; kinh tế số; hệ thống thông tin quản lý; quản trị cơ sở dữ liệu; hoạch định và thực thi chính sách công trong xã hội số; ra quyết định quản lý trên cơ sở ứng dụng các công nghệ hiện đại; dịch vụ công và dịch vụ công trực tuyến; quản trị công sở trên nền tảng số; quản trị nguồn nhân lực trên nền tảng số; kiểm soát trên môi trường số;lãnh đạo và quản lý trong bối cảnh hiện đại; thương mại điện tử; quản trị chuyển đổi số; quản lý đô thị thông minh; quản trị đổi mới; an toàn và bảo mật thông tin; nền tảng số về văn thư và lưu trữ; mạng xã hội và quản trị truyền thông; giao tiếp xã hội trên môi trường mạng; khai thác và quản lý thông tin trên môi trường mạng…

4.3. Định hướng đối với chương trình đào tạo định hướng chuyên sâu về “Công nghệ quản trị văn phòng” thuộc ngành Quản trị văn phòng

Chuyên ngành “Công nghệ quản trị văn phòng” được xây dựng trên cơ sở khối kiên thức chung, kiến thức cơ sở ngành của ngành Quản trị văn phòng và bổ sung thêm các học phần kiến thức chuyên ngành theo định hướng nghiên cứu của công nghệ hành chính trong quản trị văn phòng, cụ thể là:

Thứ nhất, cung cấp kiến thức, kỹ năng về việc xây dựng, tối ưu hóa và tái cấu trúc quy trình, thủ tục giải quyết công việc trong hoạt động quản lý nội bộ của cơ quan, tổ chức.

Thứ hai, cung cấp kiến thức, kỹ năng về ứng dụng công nghệ quản lý tiên tiến, hiện đại; ứng dụng công nghệ số trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quản trị văn phòng cơ quan, tổ chức.

Thứ ba, đổi mới phương pháp quản lý, phương thức vận hành, đổi mới tổ chức bộ máy, bảo đảm các nguồn lực trong quản trị văn phòng cơ quan, tổ chức.

Khung Chương trình gồm các môn học theo chương trình chung của ngành Quản trị văn phòng và được dành 10 -12 học phần (22 – 25 tín chỉ) định hướng chuyên sâu về công nghệ quản trị văn phòng, như: tổng quan về công nghệ quản trị văn phòng; kỹ năng thu thập, xử lý thông tin và phân tích dữ liệu số; kỹ năng tham mưu tổng hợp trong môi trường số; sử dụng AI trong soạn thảo, thẩm định văn bản; tổ chức công tác văn thư, lưu trữ số nên nền tảng số; quản trị văn phòng số; bảo đảm an toàn thông tin và an ninh mạng trong quản trị văn phòng; kỹ năng sử dụng công cụ lập kế hoạch, dự báo ra quyết định dựa trên dữ liệu; tái cấu trúc quy trình, thủ tục hành chính nội bộ cơ quan, tổ chức; kiểm soát trên nền tảng số trong quản trị văn phòng; giao tiếp và truyền thông số trong quản trị văn phòng… 

5. Kết luận

Phát triển các chương trình đào tạo gắn với chuyển đổi số cần được tiếp tục xem là định hướng, nhiệm vụ đột phá tại Học viện Hành chính và Quản trị công trong giai đoạn tới, với trọng tâm là các ngành thuộc nhóm ngành quản lý – quản trị. Việc đổi mới các chương trình đào tạo theo hướng này tại các cơ sở đào tạo đại học trong và ngoài nước cũng đang được thực hiện mạnh mẽ, sâu rộng. Tại Học viện, các chương trình cũng cần được xây dựng phù hợp với xu thế trên, dựa trên việc phát triển các chương trình hiện có, thể hiện tính đặc thù và thế mạnh riêng của Học viện. Với vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Học viện hiện nay, việc xác định sứ mệnh tiên phong trong phát triển các chương trình đào tạo gắn với chuyển đổi số nhằm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ nền hành chính hiện đại trong kỷ nguyên số là rất cần thiết.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV. (Tập I, II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2025). Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Học viện Hành chính và Quản trị công (2025). Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Học viện Hành chính và Quản trị công.
KOICA-Yonsei Master’s Degree Program in e-Government and Public Management.
Russian Presidential Academy of National Economy and Public Administration. (n.d.). Цифровое государство [Digital State]: 38.03.04 Государственное и муниципальное управление [State and municipal administration].
European Commission. (2021). Digital public administration factsheet 2021: Finland. European Commission. https://www.ranepa.ru/bakalavriat/napravleniya-i-programmy/004104/
Peking University (2025). 2025 undergraduate program without written examination. International Students Division, Office of International Relations.Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 ban hành Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 282/QĐ-TTg ngày 12/02/2026 ban hành Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước trọng tâm giai đoạn 2026 – 2030.