Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực số tại khu vực kinh tế phía Bắc trong bối cảnh  chuyển đổi số

Enhancing the quality of the digital workforce in the Northern economic region in the context of digital transformation

TS. Lê Thị Minh Phượng
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: lephuongnapa2019@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực số trong bối cảnh chuyển đổi số là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ. Những năm qua, cấp ủy, chính quyền các địa phương thuộc khu vực kinh tế phía Bắc đã quan tâm triển khai nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và phát triển kinh tế số. Tuy nhiên, trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và quá trình sắp xếp đơn vị hành chính từ năm 2025, chất lượng nguồn nhân lực số của khu vực vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới. Trên cơ sở phân tích thực trạng giai đoạn trước và sau sắp xếp đơn vị hành chính, bài viết nhận diện những thách thức, rút ra một số bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực số, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế tại khu vực kinh tế phía Bắc trong bối cảnh chuyển đổi số.

Từ khóa: Nguồn nhân lực số, chuyển đổi số, phát triển kinh tế, khu vực kinh tế phía Bắc.

Abstract: Enhancing the quality of the digital workforce in the context of digital transformation is one of the key determinants of socio-economic development for every country and region. In recent years, Party committees and local authorities across the Northern Economic Region have paid attention to implementing various guidelines and policies aimed at developing a workforce capable of meeting the demands of digital transformation and the development of the digital economy. However, amid the increasing requirements of industrialization, modernization, international integration, and the administrative unit restructuring process beginning in 2025, the quality of the region’s digital workforce continues to reveal various limitations and has yet to meet the demands of development in the new context. Based on an analysis of the current situation before and after the administrative restructuring, this article identifies the major challenges, draws several lessons, and proposes solutions to improve the quality of the digital workforce. These efforts are expected to contribute to promoting economic development in the Northern Economic Region in the context of digital transformation.

Keywords: Digital workforce; digital transformation; economic development; Northern Economic Region.

1. Đặt vấn đề

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã tạo điều kiện để nền kinh tế chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng dựa vào lao động phổ thông sang mô hình kinh tế tri thức và công nghệ cao. Những tiến bộ như: dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT) và trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi căn bản cách thức vận hành của doanh nghiệp, mở ra nhiều phương thức sản xuất và kinh doanh mới mang tính sáng tạo. Để Việt Nam đạt được thành công trong tiến trình chuyển đổi số, lực lượng nguồn nhân lực số phải trở thành nòng cốt trên thị trường lao động, đủ khả năng đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế số.

Khu vực kinh tế phía Bắc là một trong những không gian kinh tế năng động và có tốc độ phát triển cao của cả nước, giữ vai trò quan trọng trong liên kết vùng, phát triển công nghiệp, dịch vụ, logistics và kinh tế số. Trong đó, Hà Nội là trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, đồng thời là cực tăng trưởng quan trọng, giữ vai trò kết nối, dẫn dắt và lan tỏa phát triển tới các địa phương trong khu vực. Bên cạnh đó, các địa phương, như: Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh và Ninh Bình đang từng bước hình thành các trung tâm công nghiệp, logistics, dịch vụ và công nghệ cao, tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.

Những năm gần đây, khu vực kinh tế phía Bắc tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, giữ vai trò là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Trong đó, trước khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025, vùng Đồng bằng sông Hồng – hạt nhân tăng trưởng của khu vực kinh tế phía Bắc – đạt tốc độ tăng trưởng GRDP khoảng 6,28% trong năm 2023, cao hơn đáng kể so với mức tăng GDP của cả nước (5,05%). Quy mô kinh tế của vùng theo giá hiện hành đạt trên 3,1 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 30,1% GDP cả nước và đứng thứ hai trong sáu vùng kinh tế – xã hội. Những kết quả này tiếp tục khẳng định vai trò đầu tàu của vùng trong thúc đẩy tăng trưởng, đổi mới sáng tạo, thu hút đầu tư và lan tỏa phát triển đối với khu vực phía Bắc cũng như nền kinh tế quốc gia (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2024). Khu vực này tiếp tục dẫn đầu cả nước về thu ngân sách nhà nước, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, nhiều địa phương trong khu vực luôn nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước về thu hút FDI, góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp công nghệ cao, sản xuất thông minh và chuyển đổi số.

Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ và quá trình sắp xếp, tinh gọn đơn vị hành chính cấp tỉnh từ ngày 01/7/2025, khu vực kinh tế phía Bắc đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực số nhằm đáp ứng yêu cầu quản trị hiện đại, phát triển kinh tế số, xã hội số và chính quyền số. Mặc dù nguồn nhân lực của khu vực có quy mô lớn, tập trung nhiều cơ sở giáo dục, đào tạo và trung tâm khoa học – công nghệ, song chất lượng nguồn nhân lực số vẫn chưa đồng đều giữa các địa phương; khả năng thích ứng với công nghệ mới, kỹ năng số và năng lực đổi mới sáng tạo còn nhiều hạn chế, tạo ra những thách thức đối với mục tiêu phát triển bền vững trong bối cảnh mới.

Từ thực tiễn trên, bài viết phân tích, đánh giá những thách thức cũng như đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực số nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tại khu vực kinh tế phía Bắc trong bối cảnh chuyển đổi số và sắp xếp đơn vị hành chính mới.

2. Chuyển đổi số và nguồn nhân lực số ở Việt Nam

Chuyển đổi số là quá trình chuyển đổi toàn diện phương thức quản lý, sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ trên cơ sở ứng dụng công nghệ số, tác động đến mọi cấp, mọi ngành và mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội. Theo Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, con người là trung tâm, là chủ thể và là động lực của quá trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Vì vậy, cần tập trung phát triển kỹ năng số cho người học ngay từ giáo dục phổ thông, đổi mới chương trình đào tạo ở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo hướng tăng cường năng lực số, đồng thời, đẩy mạnh đào tạo lại (reskilling) và nâng cao kỹ năng (upskilling) cho lực lượng lao động đang làm việc nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đầu tư vào phát triển kỹ năng số và học tập suốt đời là giải pháp quan trọng để nâng cao năng suất lao động và khả năng thích ứng của lực lượng lao động trong bối cảnh chuyển đổi số (Suhendra và cộng sự, 2025; World Economic Forum, 2025).

 Đặc biệt, cần chú trọng đào tạo chuyên sâu ở các lĩnh vực chiến lược như trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, phân tích dữ liệu và quản trị nền tảng số. Điều này được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, xác định: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại…”, đây cũng là một trong những trụ cột để phát triển kinh tế trong bối cảnh mới.

Nguồn nhân lực được hiểu là tổng hòa về số lượng và chất lượng lực lượng lao động, được đánh giá thông qua trí lực, thể lực, phẩm chất đạo đức và tinh thần. Đây là yếu tố cốt lõi quyết định năng lực lao động sáng tạo, đóng góp vào sự phát triển và tiến bộ của xã hội. Trong bối cảnh nền kinh tế số, nguồn nhân lực số giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Đây là lực lượng trực tiếp triển khai, tổ chức và vận hành các hoạt động của nền kinh tế số thông qua việc làm chủ hệ thống công nghệ số trong sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực kinh tế khác. Năng lực của nguồn nhân lực số thể hiện ở một số khía cạnh sau:

(1) Khả năng làm chủ công nghệ số: nguồn nhân lực số cần thành thạo trong việc vận hành, ứng dụng các thiết bị và công nghệ số trong mọi hoạt động kinh tế.

(2) Khả năng thích ứng nhanh: nguồn nhân lực số phải linh hoạt, dễ dàng thích nghi với môi trường lao động biến động và các tiến bộ khoa học – công nghệ mới.

(3) Tính kỷ luật và đạo đức nghề nghiệp: tác phong chuyên nghiệp và đạo đức là nền tảng để hình thành một lực lượng lao động bền vững, hiệu quả.

(4) Tư duy sáng tạo và đổi mới: khả năng suy nghĩ đột phá và đề xuất giải pháp sáng tạo là yêu cầu thiết yếu để đáp ứng mức độ cạnh tranh trong nền kinh tế số.

Như vậy, để đáp ứng yêu cầu của kinh tế số, việc xây dựng một lực lượng lao động có trình độ tương ứng, đặc biệt là nguồn nhân lực số, là nhiệm vụ không thể thiếu. Đây chính là lực lượng nòng cốt quyết định sự tồn tại, vận hành và phát triển của nền kinh tế số.

2.2. Vai trò của nguồn nhân lực số trong bối cảnh chuyển đổi số

Một là, thúc đẩy sáng tạo và đổi mới. Nguồn nhân lực số sở hữu kỹ năng số đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy sáng tạo và đổi mới trong nền kinh tế số. Với kiến thức về các công nghệ tiên tiến, như: trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và Internet vạn vật (IoT), nguồn nhân lực số có khả năng phát triển các sản phẩm và dịch vụ mang tính đột phá, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và khắt khe của thị trường. Điều này không chỉ nâng cao giá trị gia tăng cho doanh nghiệp mà còn tạo động lực cho sự phát triển chung của nền kinh tế.

Hai là, tăng cường năng lực cạnh tranh. Trong bối cảnh kinh tế số hóa, nguồn nhân lực số trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và quốc gia. Những doanh nghiệp sở hữu lực lượng lao động có kỹ năng số hiện đại sẽ có lợi thế trong việc nhanh chóng thích ứng với công nghệ mới, đổi mới mô hình kinh doanh và khai thác hiệu quả các cơ hội từ tiến trình chuyển đổi số. Ở tầm quốc gia, việc phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng số cao góp phần nâng cao vị thế trên trường quốc tế, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

Ba là, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động. Thị trường lao động trong nền kinh tế số đang phát triển nhanh, với nhu cầu tăng mạnh trong các lĩnh vực như công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, blockchain và an ninh mạng. Điều này đòi hỏi lực lượng lao động phải sở hữu kiến thức chuyên sâu và kỹ năng số cao để theo kịp tốc độ thay đổi nhanh chóng của công nghệ. Việc đáp ứng những yêu cầu mới không chỉ giúp giảm nguy cơ thất nghiệp mà còn mở ra nhiều cơ hội nghề nghiệp hấp dẫn cho lao động có năng lực số.

Bốn là, nâng cao năng suất lao động. Phát triển kỹ năng số trong lực lượng lao động mang lại lợi ích đáng kể trong việc cải thiện năng suất. Công nghệ số không chỉ giúp tự động hóa các quy trình sản xuất thủ công mà còn hỗ trợ tối ưu hóa quy trình làm việc, rút ngắn thời gian xử lý và cải thiện chất lượng sản phẩm. Nhờ đó, hiệu quả lao động được nâng cao, góp phần gia tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong môi trường kinh tế số. Ngoài ra, công nghệ số còn hỗ trợ người lao động làm việc hiệu quả hơn thông qua việc sử dụng các phần mềm quản lý, công cụ phân tích dữ liệu và nền tảng trực tuyến. Những công cụ này giúp tối ưu hóa quy trình làm việc, giảm thiểu sai sót và rút ngắn thời gian xử lý nhiệm vụ, qua đó nâng cao năng suất cá nhân và hiệu quả tổng thể của doanh nghiệp.

3. Những thách thức chủ yếu về nguồn nhân lực số khu vực kinh tế phía Bắc

Thứ nhất, chất lượng nguồn nhân lực và nguồn nhân lực số chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển của khu vực. Mặc dù khu vực kinh tế phía Bắc tập trung nhiều cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, trung tâm công nghiệp và dịch vụ lớn, song chất lượng nguồn nhân lực vẫn chưa tương xứng với tốc độ phát triển của các ngành công nghệ cao và quá trình chuyển đổi số. Số liệu Tổng điều tra kinh tế năm 2026 cho thấy, quy mô doanh nghiệp và lực lượng lao động tập trung rất lớn tại một số cực tăng trưởng, tạo áp lực ngày càng cao đối với việc bảo đảm nguồn cung nhân lực có trình độ chuyên môn và kỹ năng phù hợp.

Bảng 1. Quy mô doanh nghiệp và lao động tại một số địa phương trọng điểm khu vực phía Bắc, thời điểm ngày 31/12/2025

Địa phươngSố doanh nghiệp đang hoạt độngSố lao động trong doanh nghiệp
Hà Nội164.7832.774.759
Hải Phòng31.0301.061.959
Bắc Ninh25.236981.568
Ninh Bình18.940664.806
Phú Thọ18.817553.713
Hưng Yên17.650519.763
Quảng Ninh9.601280.062
Thái Nguyên6.831227.882
Nguồn: Cục Thống kê (2026), Tổng điều tra kinh tế năm 2026 – Kết quả sơ bộ, Biểu 05.

Bảng 1 cho thấy, Hà Nội, Hải Phòng và Bắc Ninh là những địa phương tập trung quy mô doanh nghiệp và lao động đặc biệt lớn. Sự khác biệt đáng kể về quy mô giữa các địa phương phản ánh nhu cầu nhân lực không đồng đều và cho thấy chính sách đào tạo, đào tạo lại, nâng cao kỹ năng và phát triển nhân lực số cần được thiết kế phù hợp với đặc điểm phát triển của từng địa phương. Thực tiễn tại các khu công nghiệp, khu kinh tế Hải Phòng cũng cho thấy số lượng lao động tăng nhanh trong khi nhu cầu đối với lao động kỹ thuật cao, cán bộ quản lý và chuyên gia có trình độ chuyên sâu tiếp tục gia tăng.

Thứ hai, cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao chưa thực sự phù hợp với yêu cầu phát triển các ngành công nghệ cao và kinh tế số. Sự phát triển nhanh của công nghiệp điện tử, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và công nghệ số đang làm thay đổi mạnh mẽ nhu cầu nhân lực tại các địa phương phía Bắc. Tuy nhiên, nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao vẫn có sự phân hóa đáng kể giữa các địa phương. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho khả năng đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghệ cao không đồng đều, nhất là tại những địa phương đang thu hút đầu tư mạnh vào công nghiệp hiện đại.

Bảng 2. Một số chỉ tiêu về trình độ chuyên môn của lao động trong khu vực hành chính tại một số địa phương phía Bắc, thời điểm ngày 31/12/2025

Địa phươngTổng số lao độngĐại họcThạc sĩTiến sĩ
Hà Nội242.85875.99539.5065.492
Hải Phòng55.90218.9666.231192
Bắc Ninh44.28613.4884.859100
Quảng Ninh23.8648.5352.82234
Hưng Yên25.01115.1732.73845
Ninh Bình34.86518.5414.29358
Phú Thọ54.12422.6816.146136
Thái Nguyên34.08011.8712.82939
Nguồn: Cục Thống kê (2026), Tổng điều tra kinh tế năm 2026 – Kết quả sơ bộ, Biểu 22.

Bảng 2 cho thấy, sự phân hóa khá rõ về quy mô nguồn nhân lực có trình độ đại học và sau đại học. Hà Nội có lợi thế nổi trội về quy mô nhân lực trình độ cao, trong khi số lao động có trình độ tiến sĩ tại nhiều địa phương còn hạn chế. Thực tiễn này cho thấy thách thức không chỉ nằm ở số lượng lao động mà còn ở cơ cấu và chiều sâu chuyên môn của nguồn nhân lực. Việc Bắc Ninh ban hành Nghị quyết số 113/2025/NQ-HĐND về hỗ trợ đào tạo nghề, đào tạo nhân lực phục vụ công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và công nghệ số giai đoạn 2025 – 2030 cũng phản ánh yêu cầu cấp thiết về bổ sung, đào tạo lại và tái cơ cấu nguồn nhân lực để đáp ứng các ngành công nghệ mới.

Thứ ba, cơ chế, chính sách liên quan đến đào tạo, sử dụng, thu hút và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn chưa thật sự đồng bộ và chưa tạo được động lực đủ mạnh. Sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước trong dự báo nhu cầu, tổ chức đào tạo và sử dụng nhân lực tại một số địa phương vẫn cần tiếp tục hoàn thiện. Bên cạnh đó, cơ chế thu hút và trọng dụng chuyên gia, nhà khoa học và lao động trình độ cao còn có sự khác biệt về mức độ hấp dẫn giữa các địa phương. Sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính và tinh gọn bộ máy, yêu cầu về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và nhân lực số ngày càng cao, trong khi khả năng thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao vẫn chịu tác động bởi môi trường làm việc, cơ chế đãi ngộ, điều kiện nghiên cứu và cơ hội phát triển nghề nghiệp.

Đối với Hà Nội, khuôn khổ pháp lý mới theo Luật Thủ đô năm 2026 tạo cơ sở để Thủ đô chủ động hơn trong xây dựng và thực hiện các cơ chế phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao. Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra yêu cầu các địa phương khác trong khu vực phải tiếp tục đổi mới chính sách, tăng cường liên kết vùng và tạo dựng môi trường đủ sức cạnh tranh trong thu hút, sử dụng và phát triển nhân lực.

Thứ tư, chất lượng nguồn nhân lực số và đội ngũ trực tiếp thực hiện chuyển đổi số còn những hạn chế nhất định. Thực tiễn cho thấy việc được đào tạo hoặc bồi dưỡng về công nghệ thông tin chưa đồng nghĩa với việc đã hình thành đầy đủ đội ngũ nhân lực số chuyên nghiệp, có khả năng trực tiếp tổ chức, vận hành và quản trị quá trình chuyển đổi số. Tại một số địa phương, nhân lực chuyên trách công nghệ thông tin và chuyển đổi số còn thiếu, trong khi nhiều vị trí vẫn phải bố trí theo hình thức kiêm nhiệm. Điều này ảnh hưởng đến khả năng triển khai đồng bộ các nền tảng số, khai thác dữ liệu và đổi mới phương thức quản trị.

Bảng 3. Lao động có trình độ từ đại học trở lên trong khu vực hành chính và đơn vị sự nghiệp tại một số địa phương phía Bắc, thời điểm ngày 31/12/2025

Địa phươngKhu vực hành chínhĐơn vị sự nghiệpTổng cộng
Hà Nội120.993242.757363.750
Hải Phòng25.38974.57299.961
Bắc Ninh18.44762.42980.876
Quảng Ninh11.39128.01639.407
Hưng Yên17.95647.73365.689
Ninh Bình22.89260.95983.851
Phú Thọ28.96378.450107.413
Thái Nguyên14.73940.78255.521
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Cục Thống kê (2026), Tổng điều tra kinh tế năm 2026 – Kết quả sơ bộ, Biểu 22 và Biểu 27.

Bảng 3 cho thấy, nguồn nhân lực có trình độ từ đại học trở lên tập trung đáng kể trong khu vực hành chính và sự nghiệp, đồng thời có sự phân hóa giữa các địa phương. Điều này gợi mở yêu cầu tăng cường liên kết giữa khu vực quản lý nhà nước, giáo dục – đào tạo, nghiên cứu khoa học và khu vực doanh nghiệp; đồng thời thúc đẩy đào tạo lại, nâng cao kỹ năng và sử dụng linh hoạt nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu của chính quyền số, đổi mới sáng tạo và kinh tế số.

Thứ năm, nguồn nhân lực số còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn và đội ngũ chuyên gia có trình độ chuyên sâu. Đặc thù của lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghệ số đòi hỏi người lao động không chỉ có nền tảng kiến thức chuyên môn mà còn phải tích lũy kỹ năng thực hành, kinh nghiệm triển khai và khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn. Tuy nhiên, tại nhiều địa phương, lực lượng lao động trẻ có số lượng lớn trong khi đội ngũ chuyên gia, lao động kỹ thuật trình độ cao và cán bộ quản lý công nghệ vẫn còn hạn chế. Thực tiễn tại các khu công nghiệp, khu kinh tế Hải Phòng cho thấy, nhu cầu đối với lao động kỹ thuật cao và chuyên gia phục vụ các ngành công nghiệp hiện đại tiếp tục gia tăng. Vì vậy, khoảng cách giữa đào tạo và yêu cầu thực tiễn của doanh nghiệp vẫn là một thách thức đáng chú ý, nhất là đối với các lĩnh vực đòi hỏi công nghệ và kinh nghiệm chuyên sâu.

Thứ sáu, kỹ năng mềm, ngoại ngữ và khả năng thích ứng với môi trường làm việc hiện đại của một bộ phận nguồn nhân lực vẫn còn hạn chế. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế số, nguồn nhân lực không chỉ cần kiến thức chuyên môn và kỹ năng công nghệ mà còn cần năng lực ngoại ngữ, giao tiếp, làm việc nhóm, quản lý dự án và khả năng thích ứng với môi trường làm việc đa văn hóa. Sự phát triển nhanh của các doanh nghiệp FDI, các ngành công nghiệp công nghệ cao và quá trình chuyển đổi số tại khu vực phía Bắc đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với các kỹ năng này. Vì vậy, hệ thống đào tạo cần chuyển mạnh từ việc chú trọng chủ yếu vào kiến thức và bằng cấp sang phát triển đồng thời năng lực chuyên môn, kỹ năng thực hành, kỹ năng số, ngoại ngữ và các kỹ năng cần thiết trong môi trường làm việc hiện đại.

Nhìn chung, những thách thức trong phát triển nguồn nhân lực số khu vực kinh tế phía Bắc không chỉ xuất phát từ sự thiếu hụt về số lượng mà còn thể hiện ở chất lượng, cơ cấu, sự phân bố, kinh nghiệm thực tiễn và khả năng thích ứng của nguồn nhân lực. Trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, phát triển kinh tế số, công nghiệp công nghệ cao và đổi mới sáng tạo, việc giải quyết đồng thời các vấn đề về đào tạo, đào tạo lại, thu hút, sử dụng và trọng dụng nhân lực chất lượng cao có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững của khu vực.

4. Một số giải pháp

Một là, tập trung phát triển khu vực kinh tế phía Bắc trở thành trung tâm khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số hàng đầu cả nước. Các địa phương trong khu vực cần đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ lõi, công nghệ số, AI, Big Data, điện toán đám mây và công nghệ bán dẫn nhằm tạo nền tảng cho phát triển kinh tế số và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đồng thời, cần triển khai đồng bộ, hiệu quả các chương trình khoa học – công nghệ quốc gia và chương trình đổi mới sáng tạo gắn với yêu cầu phát triển không gian kinh tế mới sau sắp xếp đơn vị hành chính; ưu tiên đầu tư cho các lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh để từng bước đạt trình độ khu vực và quốc tế.

Hai là, xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực số và nguồn nhân lực khoa học – công nghệ chất lượng cao cho khu vực kinh tế phía Bắc. Các địa phương cần chú trọng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và các ngành công nghệ cao; đồng thời tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo gắn với nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động. Khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư cho đào tạo, thành lập và mở rộng các quỹ phát triển khoa học – công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo; thúc đẩy phát triển thị trường khoa học – công nghệ theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế.

Ba là, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học – công nghệ. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cạnh tranh công nghệ ngày càng mạnh mẽ, khu vực kinh tế phía Bắc cần tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế, tập đoàn công nghệ và các trung tâm nghiên cứu lớn nhằm tiếp nhận công nghệ mới, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phù hợp với thực tiễn Việt Nam và thông lệ quốc tế; đa dạng hóa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội cho phát triển khoa học – công nghệ, ưu tiên hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển các ngành, lĩnh vực có lợi thế của từng địa phương trong khu vực.

Bốn là, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp công nghệ số và đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện. Các địa phương trong khu vực cần tạo điều kiện thuận lợi để phát triển doanh nghiệp công nghệ số, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái kinh tế số; từng bước nâng cao tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của khu vực. Đồng thời, cần đẩy nhanh phát triển hạ tầng số, hạ tầng viễn thông thế hệ mới, phổ cập mạng 5G và từng bước tiếp cận công nghệ 6G; đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động quản lý nhà nước, phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu mở, cung cấp dịch vụ công trực tuyến và ứng dụng công nghệ số trong quản trị địa phương sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp trong bối cảnh mới.

Năm là, xây dựng và phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm công nghệ và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của khu vực kinh tế phía Bắc. Trên cơ sở lợi thế của từng địa phương sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, cần thúc đẩy hình thành mạng lưới trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ tại các cực tăng trưởng, như: Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Ninh Bình và các địa phương có lợi thế công nghiệp – công nghệ cao. Trong đó, Hà Nội cần phát huy vai trò trung tâm đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ với hạt nhân là Khu công nghệ cao Hòa Lạc, các viện nghiên cứu và trường đại học lớn; Hải Phòng phát triển thành trung tâm nghiên cứu, ứng dụng khoa học – công nghệ biển và logistics hiện đại; các địa phương khác tập trung phát triển công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, công nghệ sinh học và công nghiệp hỗ trợ công nghệ cao.

Sáu là, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp khoa học – công nghệ và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp. Khu vực kinh tế phía Bắc cần phấn đấu gia tăng nhanh số lượng doanh nghiệp khoa học – công nghệ, doanh nghiệp số và doanh nghiệp đổi mới sáng tạo; đồng thời nâng cao tỷ lệ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Việc phát triển mạnh các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến – chế tạo thông minh và kinh tế số sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của khu vực trong thời gian tới.

Bảy là, hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút, sử dụng và đãi ngộ nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nguồn nhân lực số. Đây được xem là giải pháp có ý nghĩa quyết định đối với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại khu vực kinh tế phía Bắc trong bối cảnh chuyển đổi số. Các địa phương cần tiếp tục đổi mới cơ chế tuyển dụng, sử dụng và đánh giá nhân lực theo hướng công khai, minh bạch, dựa trên năng lực thực chất và hiệu quả công việc; mạnh dạn sử dụng đội ngũ nhân lực trẻ chất lượng cao, chuyên gia công nghệ và nhân tài trong các lĩnh vực khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Bên cạnh đó, cần có chính sách đãi ngộ phù hợp nhằm thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao thông qua cơ chế tiền lương linh hoạt, môi trường làm việc hiện đại, cơ hội phát triển nghề nghiệp và điều kiện nghiên cứu thuận lợi. Đồng thời, cần tăng cường tôn vinh, khuyến khích và tạo động lực cho đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia công nghệ và lao động sáng tạo nhằm phát huy tối đa năng lực, đóng góp hiệu quả cho phát triển kinh tế số và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế phía Bắc trong bối cảnh mới.

5. Kết luận

Trong bối cảnh chuyển đổi số và quá trình tái cấu trúc không gian phát triển sau sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, để khu vực kinh tế phía Bắc thực sự trở thành động lực tăng trưởng và trung tâm phát triển nguồn nhân lực số chất lượng cao của cả nước, các địa phương trong khu vực cần ưu tiên triển khai đồng bộ các nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế số, xã hội số và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, cần thúc đẩy mạnh mẽ ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng của khu vực trong bối cảnh mới.

Điều quan trọng là phải tạo lập và hoàn thiện đầy đủ các điều kiện cần thiết để phát triển nhanh nguồn nhân lực số chất lượng cao với quy mô, cơ cấu và trình độ phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế số. Nguồn nhân lực không chỉ cần được trang bị nền tảng tri thức, kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng số hiện đại mà còn phải có tư duy đổi mới sáng tạo, khả năng thích ứng công nghệ, năng lực hội nhập quốc tế cùng khát vọng cống hiến và phát triển. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để khu vực kinh tế phía Bắc nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát triển bền vững và khẳng định vai trò là trung tâm kinh tế, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo hàng đầu của cả nước trong thời gian tới.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. 
Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng (2025). Ban Quản lý Khu kinh tế và Sở Nội vụ đề xuất nhiều giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho các khu công nghiệp, khu kinh tế Hải Phòng.
Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 23/11/2022 về phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2024). Báo cáo tại Hội nghị Hội đồng điều phối vùng đồng bằng sông Hồng lần thứ ba và công bố Quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Báo cáo phát triển nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi số.
Bộ Nội vụ (2025). Báo cáo thị trường lao động Việt Nam năm 2024.
Bộ Thông tin và Truyền thông (2024). Sách trắng Công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam.
Cổng Thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh (26/5/2026). Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho kỷ nguyên số. https://quangninh.gov.vn/chuyende/chuyendoiso/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=165690
Cục Thống kê (2026). Tổng điều tra kinh tế năm 2026 – Kết quả sơ bộ.
Hoàng Thị Chung (2025). Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng Đồng bằng sông Hồng. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/08/14/nang-cao-chat-luong-nguon-nhan-luc-vung-dong-bang-song-hong/
Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh (2025). Nghị quyết số 113/2025/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 ban hành Quy định chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, đào tạo nhân lực phục vụ công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ số trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, giai đoạn 2025 – 2030.
Nguyễn, T. M. (2024). Nguồn nhân lực cho chuyển đổi số ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp. Kinh tế và Dự báo. https://kinhtevadubao.vn/nguon-nhan-luc-cho-chuyen-doi-so-o-viet-nam-thuc-trang-va-giai-phap-30382.html
Phạm Thị Ánh Nguyệt (2024). Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bằng sông Hồng. Tạp chí Lý luận Chính trị. https://lyluanchinhtri.vn/xay-dung-nguon-nhan-luc-chat-luong-cao-dap-ung-yeu-cau-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-vung-dong-bang-song-hong-6484.html
Quốc hội (2026). Luật Thủ đô năm 2026.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 146/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 phê duyệt Đề án “Nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
TopDev (2023). Vietnam IT Market Report 2023.
Tổng cục Thống kê (2025). Điều tra lao động và việc làm năm 2024. Hà Nội
World Economic Forum (2025). The Future of Jobs Report 2025. Geneva: World Economic Forum.