Quản lý nhà nước đối với tài sản mã hóa trong nền kinh tế số – thực trạng và giải pháp hoàn thiện

State management of crypto assets in the digital economy – current status and solutions for improvement

TS. Phạm Thị Thanh Vân
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: pham_thi_van03@yahoo.com

(Quanlynhannuoc.vn) – Trong bối cảnh chuyển đổi số được đẩy mạnh theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, tài sản mã hóa đã và đang trở thành một cấu phần thực tiễn của nền kinh tế số. Thực tế này được minh chứng qua việc Việt Nam liên tục nằm trong nhóm các quốc gia có mức độ chấp nhận tài sản mã hóa cao nhất thế giới trong giai đoạn 2021 – 2025. Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển kinh tế số và tài sản mã hóa; đồng thời, đánh giá khuôn khổ quản lý nhà nước hiện hành, bài viết chỉ ra những kết quả đạt được cùng các hạn chế về tính đồng bộ của hệ thống pháp lý, phạm vi quản lý, năng lực giám sát và bảo vệ nhà đầu tư. Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với tài sản mã hóa theo hướng thận trọng, có kiểm soát và phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế số quốc gia.

Từ khóa: Tài sản mã hóa; kinh tế số; quản lý nhà nước; tài sản số; thí điểm thị trường.

Abstract: In the context of accelerated digital transformation guided by Politburo Resolution No. 57-NQ/TW, crypto-assets have emerged as a practical component of the digital economy. This is evidenced by Vietnam’s consistent ranking among the countries with the highest levels of crypto-asset adoption worldwide during the period 2021-2025. Based on an analysis of the development of the digital economy and crypto-assets, together with an assessment of the existing state management framework, this article identifies the achievements attained as well as the limitations concerning the coherence of the legal system, the scope of regulation, supervisory capacity, and investor protection. On this basis, the article proposes solutions to improve state management of crypto-assets in a prudent, controlled manner that is consistent with the national digital economy development strategy.

Keywords: Crypto-assets; digital economy; state management; digital assets; pilot market.

1. Đặt vấn đề

Ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, xác định chuyển đổi số là một trong những động lực quan trọng hàng đầu để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới (Bộ Chính trị, 2024). Trên nền tảng định hướng chiến lược đó, kinh tế số Việt Nam giai đoạn 2021 – 2025 đã phát triển nhanh chóng. Tài sản số được tạo lập, xác thực và chuyển giao trên nền tảng công nghệ chuỗi khối (blockchain) đã nổi lên như một hiện tượng kinh tế – xã hội có quy mô đáng kể, thể hiện qua việc Việt Nam liên tục nằm trong nhóm 5 quốc gia có mức độ chấp nhận tài sản mã hóa cao nhất thế giới trong suốt 5 năm liên tiếp theo Chỉ số chấp nhận tài sản mã hóa toàn cầu (Global Crypto Adoption Index) do Chainalysis công bố (2022, 2023, 2024, 2025).

Tuy nhiên, trong một thời gian dài, khuôn khổ pháp luật của Việt Nam chưa có quy định trực tiếp, thống nhất về tài sản mã hóa mà chủ yếu tiếp cận gián tiếp thông qua các quy định về phòng, chống rửa tiền và quản lý ngoại hối. Điều này dẫn đến tình trạng “vùng xám” pháp lý kéo dài nhiều năm, vừa tiềm ẩn rủi ro cho nhà đầu tư và cho sự ổn định tài chính – tiền tệ, vừa gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước, thể hiện qua hàng loạt vụ việc lừa đảo, huy động vốn trái phép núp bóng tài sản mã hóa gây thiệt hại nghiêm trọng cho người dân. Việc Quốc hội thông qua Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP ngày 09/9/2025 của Chính phủ về việc triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam đã đánh dấu bước chuyển quan trọng, lần đầu tiên chính thức thừa nhận sự tồn tại của tài sản số, tài sản mã hóa trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

2. Thực trạng phát triển tài sản mã hóa trong nền kinh tế số Việt Nam

Trong cấu trúc của nền kinh tế số, tài sản mã hóa không tồn tại độc lập mà gắn với các thành tố khác, như: hạ tầng số, nền tảng số, thanh toán số và hành vi đầu tư của người dân. Theo Cục Thống kê, giai đoạn 2021 – 2025, giá trị tăng của kinh tế số Việt Nam đã tăng từ 53 tỷ USD năm 2021 lên 72,1 tỷ USD năm 2025, tăng bình quân 12,1%/năm theo giá hiện hành, riêng năm 2025 tăng khoảng 14,6% so với năm 2024; tỷ trọng kinh tế số trong GDP tăng tương ứng từ 12,87% lên 14,02% (Bảng 1). Xét theo cấu trúc, kinh tế số lõi (công nghiệp điện tử, viễn thông, lập trình máy tính) đóng góp 8,42% GDP, tương đương 43,3 tỷ USD, chiếm hơn 60% giá trị kinh tế số; trong khi kinh tế số ngành (các lĩnh vực truyền thống được số hóa, trong đó thương mại điện tử và dịch vụ tài chính là chủ đạo) đóng góp 5,6% GDP, tương đương 28,8 tỷ USD (Cục Thống kê, 2026). Cơ cấu này cho thấy, nền tảng công nghệ số – hạ tầng viễn thông, trung tâm dữ liệu, năng lực lập trình của Việt Nam phát triển nhanh hơn tốc độ số hóa của các ngành kinh tế truyền thống, đây chính là môi trường thuận lợi để các hiện tượng tài chính – công nghệ mới như tài sản mã hóa xâm nhập và mở rộng nhanh, do phần lớn hoạt động liên quan đến tài sản mã hóa (giao dịch, lưu ký, thanh toán) vốn vận hành trên chính hạ tầng công nghệ số lõi này.

Bảng 1. Một số chỉ tiêu phản ánh quy mô kinh tế số Việt Nam năm 2021 và năm 2025

Chỉ tiêu20212025Tăng bình quân/năm
Giá trị tăng thêm của kinh tế số (tỷ USD)53,072,112,1%
Tỷ trọng kinh tế số trong GDP (%)12,8714,02
Trong đó – kinh tế số lõi (% GDP)8,42
Trong đó – kinh tế số ngành/số hóa (% GDP)5,60
Nguồn: Cục Thống kê, Thông cáo báo chí tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP, GRDP giai đoạn 2021-2025.

Về mức độ tham gia của người dân vào tài sản mã hóa, do Việt Nam trong nhiều năm chưa hình thành thị trường được cấp phép và quản lý chính thức trong nước, việc đánh giá quy mô tham gia không thể dựa trên số liệu thống kê nội địa mà phải tiếp cận thông qua các chỉ số quốc tế. Theo Chỉ số chấp nhận tài sản mã hóa toàn cầu do Chainalysis công bố, Việt Nam xếp thứ nhất toàn cầu trong hai năm 2021 và 2022, xếp thứ ba năm 2023, thứ năm năm 2024 và thứ tư năm 2025 (Bảng 2). Việc duy trì vị trí trong nhóm 5 quốc gia dẫn đầu suốt 5 năm liên tiếp cho thấy, tài sản mã hóa tại Việt Nam không còn là hiện tượng mang tính thời điểm hay đầu cơ ngắn hạn mà đã trở thành một xu hướng xã hội có quy mô đáng kể và tương đối ổn định, đòi hỏi phải được nhìn nhận như một cấu phần thực tế của hệ sinh thái kinh tế số, thay vì một hiện tượng bên lề.

Bảng 2. Xếp hạng Việt Nam theo Chỉ số chấp nhận tài sản mã hóa toàn cầu, từ năm 2021 – 2025

Năm 2021Năm 2022Năm 2023Năm 2024Năm 2025
Hạng 1Hạng 1Hạng 3Hạng 5Hạng 4
Nguồn: Chainalysis, The Global Crypto Adoption Index (2022, 2023, 2024, 2025).

Xét từ góc độ kinh tế học nền tảng số, sự tham gia sâu rộng của người dùng Việt Nam vào các sàn giao dịch quốc tế, như: Binance, Gate.io, OKX với lưu lượng truy cập từ Việt Nam vào các nền tảng này đạt hàng chục triệu lượt mỗi năm (K300 Ventures, 2024), trong khi hệ sinh thái cung ứng dịch vụ trong nước còn sơ khai, phản ánh đúng quy luật “nền tảng hóa” mà Báo cáo Kinh tế số 2019 của Hội nghị Liên Hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) đã chỉ ra: trong nền kinh tế số, giá trị có xu hướng được tạo ra ở nơi diễn ra giao dịch (nơi có người dùng), nhưng lại bị chiếm giữ bởi chủ thể kiểm soát nền tảng và hạ tầng giao dịch, vốn thường đặt trụ sở ở nước ngoài. Áp dụng khung phân tích này vào trường hợp tài sản mã hóa tại Việt Nam có thể rút ra ba hệ quả cụ thể: Một là, phần giá trị gia tăng từ phí giao dịch, dữ liệu người dùng và dịch vụ phụ trợ chủ yếu được ghi nhận ngoài lãnh thổ, hạn chế khả năng thu thuế và thống kê chính thức. Hai là, cơ quan quản lý trong nước khó xác định chính xác quy mô dòng vốn và khó giám sát phòng, chống rửa tiền do dữ liệu giao dịch nằm ngoài phạm vi tài phán. Ba là, nếu không có khuôn khổ quản lý phù hợp, cấu trúc thị trường có nguy cơ hình thành trạng thái tập trung quyền lực vào các trung gian nước ngoài, thay vì được điều tiết bởi thể chế trong nước.

Bên cạnh khía cạnh cơ hội, dữ liệu về các vụ việc lừa đảo tài sản mã hóa giai đoạn 2018 – 2023 cho thấy, quy mô thiệt hại có xu hướng gia tăng cùng với mức độ phổ biến của tài sản mã hóa. Năm 2018, vụ việc Công ty Modern Tech huy động vốn qua hai dự án tiền ảo iFan và Pincoin đã chiếm đoạt hơn 15.000 tỷ đồng của hàng nghìn nhà đầu tư; giai đoạn 2021 – 2023 ghi nhận hàng loạt sàn đầu tư tiền ảo trá hình, như: Lion Group (lôi kéo khoảng 40.000 nhà đầu tư), Coolcat (thiệt hại hơn 200 tỷ đồng), Busstrade… bị triệt phá, khiến hàng chục nghìn người mất trắng tài sản (Nguyễn Phương Dung & Đàm Ngọc Sơn, 2026). Tần suất và quy mô ngày càng lớn của các vụ việc này phản ánh quy luật: trong điều kiện thiếu khuôn khổ pháp lý chính thức, tài sản mã hóa dễ bị lợi dụng làm vỏ bọc cho các mô hình huy động vốn đa cấp truyền thống, tận dụng đặc tính “công nghệ mới, khó kiểm chứng” để tạo lòng tin với nhà đầu tư hơn là do rủi ro nội tại của bản thân công nghệ chuỗi khối.

3. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với tài sản mã hóa ở Việt Nam

Thứ nhất, về khung pháp lý nền tảng. Quốc hội đã thông qua Luật Công nghiệp công nghệ số – đạo luật đầu tiên của Việt Nam quy định trực tiếp về tài sản số, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026. Luật xác định tài sản số là tài sản được thể hiện dưới dạng dữ liệu số, được tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao và xác thực bởi công nghệ số; đồng thời, phân chia thành ba nhóm: tài sản ảo, tài sản mã hóa và tài sản số khác. Luật cũng xác định rõ tài sản mã hóa không bao gồm chứng khoán và các dạng số của tiền pháp định; đồng thời, cho phép người dân sử dụng tài sản số vào mục đích đầu tư, trao đổi nhưng không được sử dụng làm phương tiện thanh toán. Với việc ban hành đạo luật này, Việt Nam trở thành một trong những quốc gia tiên phong trên thế giới xây dựng khung pháp lý riêng, toàn diện cho lĩnh vực công nghiệp công nghệ số có lồng ghép nội dung về tài sản số.

Thứ hai, về cơ chế thí điểm thị trường. Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP ngày 09/9/2025 xác lập nguyên tắc quản lý “thận trọng, có kiểm soát, minh bạch”, quy định giao dịch phải được thực hiện bằng đồng Việt Nam và tuân thủ các quy định về phòng, chống rửa tiền. Theo đó, chỉ các doanh nghiệp Việt Nam (công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần) mới được phát hành tài sản mã hóa dựa trên tài sản thực có, không dựa trên chứng khoán hay tiền tệ; tài sản mã hóa chỉ được chào bán, phát hành và giao dịch giữa các nhà đầu tư nước ngoài với nhau thông qua các sàn giao dịch được cấp phép. Điều kiện cấp phép sàn giao dịch được quy định khá chặt chẽ: vốn điều lệ tối thiểu 10.000 tỷ đồng, trong đó ít nhất 65% do nhà đầu tư tổ chức góp (bao gồm 35% từ các ngân hàng, công ty chứng khoán hoặc công ty công nghệ), giám đốc công nghệ phải có tối thiểu 5 năm kinh nghiệm, đội ngũ nhân sự phải có ít nhất 10 người có chứng chỉ an ninh mạng và 10 người có chứng chỉ hành nghề chứng khoán. Đây là bước đi thận trọng, phù hợp với thông lệ “sandbox” pháp lý mà nhiều quốc gia áp dụng đối với các lĩnh vực công nghệ tài chính mới.

Thứ ba, về phân công trách nhiệm quản lý nhà nước. Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP đã phân định khá rõ vai trò của các cơ quan liên quan. Bộ Tài chính giữ vai trò chủ trì, có trách nhiệm trình Chính phủ ban hành nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính, cấp phép và giám sát các tổ chức cung ứng dịch vụ tài sản mã hóa, xây dựng chính sách thuế đối với giao dịch tài sản mã hóa, lựa chọn tối đa 5 tổ chức được cấp phép trong giai đoạn thí điểm; đồng thời, báo cáo Thủ tướng Chính phủ định kỳ 6 tháng và tổng kết, đánh giá toàn diện sau 5 năm thí điểm. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm giám sát tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài tham gia giao dịch, thu thập báo cáo định kỳ hằng quý từ các ngân hàng liên quan. Bộ Công an chịu trách nhiệm chứng nhận an toàn thông tin cấp độ 4 đối với tổ chức cung ứng dịch vụ; đồng thời, phối hợp phòng, chống rửa tiền và xử lý vi phạm (Nguyễn Thị Mai Lan & cộng sự, 2026). Cơ chế phân công này bước đầu khắc phục tình trạng thiếu đầu mối quản lý rõ ràng vốn tồn tại trong nhiều năm.

Thứ tư, cùng với việc hoàn thiện khung pháp lý cho tài sản mã hóa, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng nghiên cứu triển khai tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương (CBDC) nhằm hiện đại hóa hệ thống thanh toán quốc gia, đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế số và bảo đảm vai trò kiến tạo, dẫn dắt của Nhà nước đối với tiến trình số hóa lĩnh vực tài chính – tiền tệ. Đồng thời, các bộ, ngành cũng đang xây dựng nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài sản mã hóa nhằm bổ sung chế tài cho khung pháp lý mới, dự kiến trình Chính phủ trong thời gian tới.

Có thể thấy, trong khoảng thời gian ngắn, hệ thống chính sách, pháp luật về tài sản mã hóa của Việt Nam đã có bước chuyển biến căn bản: từ chỗ hầu như không có quy định trực tiếp, đến việc hình thành khung pháp lý nền tảng và cơ chế thí điểm thị trường có kiểm soát, với sự phân công quản lý tương đối rõ ràng giữa các bộ, ngành. Đây là những kết quả bước đầu quan trọng, tạo tiền đề để tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nước trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế, như:

Một là, khung pháp lý mới được hình thành còn thiếu đồng bộ và có độ trễ nhất định so với tốc độ phát triển thực tế của thị trường. Luật Công nghiệp công nghệ số mới có hiệu lực từ 01/01/2026, trong khi các nghị định, thông tư hướng dẫn chi tiết, đặc biệt là quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài sản mã hóa đang trong quá trình xây dựng, chưa được ban hành đầy đủ. Việc thiếu chế tài cụ thể trong giai đoạn chuyển tiếp có thể làm giảm hiệu lực răn đe, tạo khoảng trống cho các hành vi lợi dụng khung pháp lý mới để trục lợi.

Hai là, phạm vi thí điểm theo Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP còn tương đối hẹp so với thực tiễn tham gia của người dân. Theo thiết kế hiện hành, thị trường thí điểm chỉ cho phép giao dịch tài sản mã hóa giữa các nhà đầu tư nước ngoài với nhau thông qua sàn được cấp phép trong nước, trong khi phần lớn hoạt động đầu tư tài sản mã hóa của người dân Việt Nam trong nhiều năm qua vẫn đang tiếp diễn và chủ yếu diễn ra trên các sàn giao dịch quốc tế nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết. Điều này tạo ra một khoảng cách đáng kể giữa phạm vi quản lý chính thức và quy mô tham gia thực tế của nhà đầu tư trong nước, đòi hỏi phải có lộ trình mở rộng phạm vi quản lý phù hợp trong giai đoạn tiếp theo.

Ba là, năng lực quản lý đối với các đầu mối trung gian xuyên biên giới còn hạn chế. Do phần lớn giao dịch của người dùng Việt Nam diễn ra trên các sàn giao dịch quốc tế nằm ngoài phạm vi tài phán trong nước, cơ quan quản lý nhà nước gặp nhiều khó khăn trong việc xác định chính xác quy mô dòng vốn, thu thập dữ liệu giao dịch, thực thi nghĩa vụ thuế và giám sát phòng, chống rửa tiền. Trong khi đó, cơ chế cấp phép, giám sát theo Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP mới chỉ áp dụng cho tối đa 5 tổ chức trong nước, chưa đủ để bao quát toàn bộ hệ sinh thái cung ứng dịch vụ tài sản mã hóa mà người dân Việt Nam đang tiếp cận.

Bốn là, cơ chế bảo vệ nhà đầu tư và phòng ngừa lừa đảo chưa thực sự hiệu quả. Thực tế các vụ việc Modern Tech, Lion Group, Coolcat, Busstrade cho thấy, phần lớn thiệt hại xảy ra không phải từ bản thân công nghệ chuỗi khối mà từ các mô hình huy động vốn đa cấp, hứa hẹn lợi nhuận cao núp bóng tài sản mã hóa. Trong khi đó, cơ chế công bố thông tin bắt buộc, cảnh báo rủi ro sớm và giải quyết tranh chấp phù hợp với đặc thù giao dịch số vẫn đang trong quá trình xây dựng, chưa đủ để ngăn ngừa hiệu quả các hành vi lừa đảo tương tự có thể tiếp diễn dưới hình thức mới.

Năm là, năng lực dữ liệu và công nghệ giám sát của cơ quan quản lý nhà nước còn hạn chế so với tốc độ phát triển của thị trường. Việt Nam hiện chưa có cơ sở dữ liệu chính thức, đầy đủ về quy mô giao dịch, dòng vốn và số lượng người tham gia thị trường tài sản mã hóa trong nước, chủ yếu phải dựa vào các chỉ số ước lượng do tổ chức quốc tế công bố. Sự thiếu hụt dữ liệu nội địa đáng tin cậy làm hạn chế khả năng hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng, đánh giá tác động kinh tế vĩ mô và thiết kế công cụ điều tiết phù hợp.

Sáu là, sự phối hợp liên ngành giữa các cơ quan quản lý nhà nước: Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ tuy đã được quy định trong Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP nhưng hiệu quả phối hợp trên thực tế còn cần thời gian kiểm chứng. Đặc biệt, việc quản lý tài sản mã hóa, nhất là stablecoin (tiền mã hóa ổn định) và các cơ chế chuyển giá trị xuyên biên giới cần được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với điều hành chính sách tiền tệ, quản lý ngoại hối và lộ trình nghiên cứu, triển khai tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương để tránh chồng chéo hoặc bỏ sót giữa các công cụ chính sách.

4. Một số giải pháp

Thứ nhất, hoàn thiện đồng bộ khung pháp lý theo nguyên tắc phân loại chức năng kinh tế gắn với lộ trình ban hành văn bản cụ thể. Kinh nghiệm của EU qua Quy định về thị trường tài sản mã hóa (MiCA) cho thấy, việc phân loại tài sản mã hóa theo chức năng kinh tế (token tham chiếu tài sản, token tiền điện tử, token tiện ích) là điều kiện tiên quyết để xác định cơ chế quản lý tương ứng, tránh áp dụng một khung pháp lý đồng nhất cho các loại tài sản có bản chất kinh tế khác nhau (European Parliament & Council of the European Union, 2023). Vận dụng nguyên tắc này, Bộ Tài chính với vai trò chủ trì cần khẩn trương hoàn thiện, trình Chính phủ ban hành trong năm 2026: (1) Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài sản mã hóa hiện đang được xây dựng; (2) Thông tư hướng dẫn phân loại cụ thể ba nhóm tài sản số theo Luật Công nghiệp công nghệ số, làm cơ sở xác định thẩm quyền quản lý chuyên ngành tương ứng (ngân hàng, chứng khoán, công nghệ số); (3) Quy định về nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng tài sản mã hóa. Việc quy định rõ lộ trình, thời hạn ban hành từng văn bản thay vì chỉ nêu chung chung là “khẩn trương” sẽ là căn cứ cụ thể để giám sát tiến độ và quy trách nhiệm thực hiện.

Thứ hai, xây dựng lộ trình hai giai đoạn để mở rộng phạm vi quản lý phù hợp với thực tiễn tham gia của nhà đầu tư trong nước. Giai đoạn 2026 – 2028, cần tập trung vận hành ổn định thị trường thí điểm dành cho nhà đầu tư nước ngoài theo Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP; đồng thời, tổ chức khảo sát, thống kê quy mô và đặc điểm hành vi của nhà đầu tư trong nước đang giao dịch trên các sàn quốc tế, làm cơ sở dữ liệu cho bước tiếp theo. Giai đoạn 2028 – 2030, trên cơ sở dữ liệu và kinh nghiệm tích lũy từ giai đoạn thí điểm, cơ quan quản lý cần xây dựng đề án trình cấp có thẩm quyền về việc cho phép nhà đầu tư trong nước tiếp cận có điều kiện các sàn giao dịch được cấp phép trong nước gắn với hạn mức đầu tư, xác thực danh tính và cơ chế cảnh báo rủi ro nhằm từng bước thu hẹp khoảng cách giữa phạm vi quản lý chính thức và quy mô tham gia thực tế. Cách tiếp cận phân kỳ này vừa bảo đảm nguyên tắc thận trọng của Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP, vừa tránh để khoảng trống quản lý kéo dài quá lâu.

Thứ ba, tăng cường quản lý các đầu mối trung gian theo nguyên tắc quản lý dựa trên rủi ro, kết hợp hợp tác quốc tế trao đổi thông tin. Do bản chất xuyên biên giới của tài sản mã hóa, việc quản lý chỉ hiệu quả khi tập trung vào các đầu mối có khả năng kiểm soát được, thay vì cố kiểm soát trực tiếp công nghệ nền tảng. Đối với sàn giao dịch, tổ chức lưu ký được cấp phép trong nước, cần áp dụng đầy đủ điều kiện về vốn, quản trị rủi ro, tách bạch tài sản khách hàng và kiểm toán định kỳ độc lập theo quy định của Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP. Đối với các sàn giao dịch quốc tế mà người dùng Việt Nam thường xuyên giao dịch, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tài chính cần nghiên cứu, đàm phán các thỏa thuận hợp tác, trao đổi thông tin song phương hoặc đa phương, tham khảo cơ chế “Quy tắc du lịch” (Travel Rule) mà FATF khuyến nghị, theo đó, bên chuyển và bên nhận tài sản phải chia sẻ thông tin định danh làm cơ sở giám sát dòng vốn xuyên biên giới và phối hợp truy vết khi có vi phạm (Financial Action Task Force – FATF, 2021). Việc áp dụng nguyên tắc phân bổ nguồn lực giám sát tương ứng với mức độ rủi ro của từng loại giao dịch, từng nhóm chủ thể sẽ giúp cơ quan quản lý sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực còn hạn chế hiện nay.

Thứ tư, thiết lập cơ chế bảo vệ nhà đầu tư theo hướng phòng ngừa chủ động, không chỉ xử lý hậu quả. Từ bài học của các vụ việc Modern Tech, Lion Group, Coolcat, Busstrade – vốn đều lợi dụng mô hình đa cấp núp bóng công nghệ mới để tạo lòng tin – giải pháp bảo vệ nhà đầu tư cần vượt ra ngoài phạm vi công bố thông tin đơn thuần, bao gồm: quy định nghĩa vụ công bố thông tin định kỳ và đột xuất bắt buộc đối với tổ chức phát hành, tổ chức cung ứng dịch vụ tài sản mã hóa được cấp phép; xây dựng cơ chế công khai “danh sách trắng – danh sách đen”, cập nhật thường xuyên trên cổng thông tin của Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, phân biệt rõ tổ chức được cấp phép với các mô hình, dự án có dấu hiệu lừa đảo đã được cơ quan chức năng cảnh báo; đồng thời lồng ghép nội dung giáo dục tài chính – công nghệ số về nhận diện rủi ro tài sản mã hóa vào chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở, hướng đến nhóm đối tượng có nguy cơ cao như người mới tham gia thị trường và khu vực nông thôn nơi Mobile Money phát triển nhanh. Cách tiếp cận phòng ngừa chủ động sẽ có giá trị thực tiễn cao hơn nhiều so với việc chỉ xử lý hình sự sau khi thiệt hại đã xảy ra như thực tiễn giai đoạn 2018 – 2023.

Thứ năm, đầu tư nâng cao năng lực dữ liệu và công nghệ giám sát theo hướng xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung liên ngành. Hạn chế lớn nhất hiện nay là cơ quan quản lý nhà nước không có dữ liệu nội địa đáng tin cậy mà phải phụ thuộc vào các chỉ số ước lượng của tổ chức quốc tế. Để khắc phục, cần quy định bắt buộc các tổ chức được cấp phép theo Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP báo cáo dữ liệu giao dịch theo định dạng chuẩn hóa, tần suất tối thiểu hằng quý, tích hợp vào cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản số do Bộ Tài chính chủ trì xây dựng; đầu tư năng lực phân tích dữ liệu giao dịch chuỗi khối cho đội ngũ cán bộ chuyên trách, có thể thông qua hợp tác với các tổ chức phân tích quốc tế trong giai đoạn đầu để chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực trong nước; đồng thời thiết lập cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Công an theo nguyên tắc “một dữ liệu, nhiều mục đích sử dụng”, tránh tình trạng mỗi cơ quan xây dựng cơ sở dữ liệu riêng lẻ, phân tán.

Thứ sáu, đặt quản lý tài sản mã hóa trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế số quốc gia, gắn với lộ trình nghiên cứu tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương. Về lâu dài, cần xác định rõ mối quan hệ giữa ba cấu phần: tài sản mã hóa tư nhân (bao gồm cả stablecoin), tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương (CBDC) đang trong giai đoạn nghiên cứu, và hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt hiện hữu, để tránh chồng chéo hoặc xung đột mục tiêu chính sách tiền tệ. Đặc biệt, đối với stablecoin cần có cơ chế giám sát riêng, chặt chẽ hơn so với các loại tài sản mã hóa mang tính đầu tư thuần túy, do khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách tiền tệ và quản lý ngoại hối nếu phát triển với quy mô lớn. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là đầu mối nghiên cứu, tham mưu về mối quan hệ này, làm cơ sở để Chính phủ ban hành định hướng chính sách tổng thể trước khi kết thúc giai đoạn thí điểm 5 năm theo Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP.

5. Kết luận

Sự phát triển nhanh chóng của tài sản mã hóa trong nền kinh tế số Việt Nam thể hiện qua vị trí liên tục trong nhóm 5 quốc gia dẫn đầu thế giới về mức độ chấp nhận suốt giai đoạn 2021 – 2025, đặt ra yêu cầu khách quan và cấp thiết phải hoàn thiện quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này. Việc Quốc hội thông qua Luật Công nghiệp công nghệ số và Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP là những bước đi quan trọng, thể hiện tư duy quản lý chủ động, thận trọng và có kiểm soát của Nhà nước trước một lĩnh vực công nghệ – tài chính mới, nhiều tiềm năng nhưng cũng tiềm ẩn không ít rủi ro.

Tuy nhiên, để quản lý nhà nước đối với tài sản mã hóa thực sự phát huy hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện đồng bộ hệ thống văn bản hướng dẫn theo lộ trình cụ thể, mở rộng phạm vi quản lý theo hai giai đoạn phù hợp với thực tiễn, tăng cường năng lực giám sát dựa trên dữ liệu và công nghệ, thiết lập cơ chế bảo vệ nhà đầu tư theo hướng phòng ngừa chủ động; đồng thời, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW. Đây là điều kiện nền tảng để tài sản mã hóa nói riêng và kinh tế số nói chung phát triển an toàn, minh bạch và bền vững, đóng góp tích cực vào quá trình chuyển đổi số và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn tới.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Chính phủ (2025). Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP ngày 09/9/2025 về việc triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam.
Chainalysis (2022, 2023, 2024, 2025). The Global Crypto Adoption Index.
Cục Thống kê (2026). Thông cáo báo chí tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP, GRDP giai đoạn 2021 – 2025.
European Parliament & Council of the European Union (2023). Regulation (EU) 2023/1114 on Markets in Crypto-assets (MiCA).
Financial Action Task Force – FATF (2021). Updated Guidance for a Risk-Based Approach to Virtual Assets and Virtual Asset Service Providers. Paris.
K300 Ventures (2024). Vietnam Cryptocurrency Market Report 2024.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2025). Báo cáo hoạt động thanh toán và chuyển đổi số ngành ngân hàng năm 2024; Công bố Chương trình Ngày không tiền mặt năm 2025.
Nguyễn Phương Dung & Đàm Ngọc Sơn (2026). Tài sản mã hóa trong hệ sinh thái kinh tế số Việt Nam: Tác động kinh tế và yêu cầu hoàn thiện quản lý nhà nước. Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia Kinh tế Việt Nam năm 2025 và triển vọng năm 2026, tr. 747.
Nguyễn Thị Mai Lan, Trần Hoàng Minh, & Huỳnh Trần Bảo Hương (2026). Tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương và tính minh bạch của ngân hàng thương mại: Bài học quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam. Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia Kinh tế Việt Nam năm 2025 và triển vọng năm 2026, tr. 754.
United Nations Conference on Trade and Development – UNCTAD (2019). Digital Economy Report 2019: Value Creation and Capture – Implications for Developing Countries.