Requirements for leaders and managers in the operation of the two-tier local government model and digital transformation
TS. Lê Thị Hạnh
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: lehanhhvhcm@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Chính quyền địa phương hai cấp và chuyển đổi số làm thay đổi thẩm quyền, quy trình và phương thức quản trị ở địa phương. Bài viết xác định 8 yêu cầu đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý: bản lĩnh chính trị và đạo đức công vụ; tư duy hệ thống; thực thi phân cấp gắn với trách nhiệm giải trình; lãnh đạo chuyển đổi số; quản trị dữ liệu; đổi mới quy trình, dịch vụ công; bảo đảm an toàn thông tin; giao tiếp, học tập và thích ứng. Trên cơ sở chỉ ra 6 nhóm hạn chế, bài viết đề xuất 7 nhóm giải pháp về khung năng lực, nhân sự, bồi dưỡng, trách nhiệm người đứng đầu, dữ liệu và nền tảng số, đánh giá kết quả, nguồn lực và bao trùm số.
Từ khóa: Cán bộ lãnh đạo, quản lý; chính quyền địa phương hai cấp; chuyển đổi số; chính quyền số; năng lực số.
Abstract: Two-tier local government and digital transformation are reshaping authority, processes, and governance methods at the local level. This article identifies eight requirements for leaders and managers: political integrity and professional ethics; systems thinking; implementing decentralization coupled with accountability; leading digital transformation; data governance; innovating processes and public services; ensuring information security; and communication, learning, and adaptability. Based on the identification of six groups of limitations, the article proposes seven groups of solutions regarding competency frameworks, human resources, training, the accountability of top leaders, data and digital platforms, performance evaluation, resources, and digital inclusion.
Keywords: Leaders and managers; two-tier local government; digital transformation; digital government; digital capabilities.
1. Mở đầu
Xây dựng chính quyền địa phương hai cấp là bước đổi mới quan trọng trong quản trị quốc gia. Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Bộ Chính trị đặt yêu cầu tiếp tục sắp xếp bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 xác lập đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp xã, vận hành thống nhất từ ngày 01/7/2025; qua đó phân định lại thẩm quyền và trách nhiệm giữa Trung ương với địa phương, giữa cấp tỉnh với cấp xã (Quốc hội, 2025, Điều 1, Điều 4).
Quá trình này diễn ra cùng với chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị coi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu; đồng thời nhấn mạnh vai trò của thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ. Văn kiện Đại hội XIV yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín; chú trọng cán bộ cơ sở gần dân, sát dân và chuẩn hóa cán bộ cấp xã sau sắp xếp (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, Tập I, tr. 74, 138). Vì vậy, cán bộ lãnh đạo, quản lý không chỉ cần nghiệp vụ hành chính mà còn phải có tư duy quản trị, năng lực số, khả năng sử dụng dữ liệu và tổ chức sự thay đổi.
Bài viết phân tích bối cảnh, yêu cầu, những vấn đề đặt ra và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đáp ứng đồng thời yêu cầu vận hành chính quyền địa phương hai cấp và chuyển đổi số.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; sử dụng chủ yếu các phương pháp phân tích – tổng hợp, hệ thống – cấu trúc, so sánh, thống kê mô tả và nghiên cứu tài liệu. Nguồn tư liệu gồm: văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật, báo cáo chính thức và các nghiên cứu của OECD. Các phương pháp này được vận dụng để làm rõ bối cảnh, xác định yêu cầu, nhận diện vấn đề và đề xuất giải pháp đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong vận hành chính quyền địa phương hai cấp gắn với chuyển đổi số.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Bối cảnh mới đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
Mô hình chính quyền địa phương hai cấp làm thay đổi căn bản tổ chức và thực thi công vụ ở địa phương. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 quy định bộ máy phải tinh gọn, quản trị hiện đại, đẩy mạnh chuyển đổi số và bảo đảm trách nhiệm giải trình; phân cấp, phân quyền phải gắn với kiểm soát quyền lực (Quốc hội, 2025, Điều 4, Điều 11 -13). Đến giữa năm 2026, khoảng 1.453 nhiệm vụ, tương đương 71,5% số nhiệm vụ phân cấp, phân quyền từ Trung ương, đã được giao cho địa phương (Thu Giang, 2026). Cấp xã vì thế trực tiếp xử lý nhiều nhiệm vụ liên ngành trên địa bàn rộng hơn. Gần 4.000 cán bộ, công chức, viên chức đã được điều động về cấp xã trong năm 2025, nhưng yêu cầu cốt lõi vẫn là nâng cao chất lượng tổ chức công việc, phối hợp và ra quyết định (Thu Giang, 2025a).
Chuyển đổi số là điều kiện để mô hình mới vận hành thông suốt. Cuối năm 2025, cả nước có 3.139 Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã và hơn 90% hồ sơ được xử lý trực tuyến trong giai đoạn từ tháng 7/2025 đến tháng 12/2025 (Thu Giang, 2025b). Các định hướng về chuyển đổi số quốc gia, Chính phủ số, dịch vụ công liên thông và bảo đảm dữ liệu không gián đoạn đã tạo nền tảng chính sách cho địa phương (Chính phủ, 2025b; Thủ tướng Chính phủ, 2020; 2021; 2025a; 2025b). Theo OECD, chính phủ số cần được thiết kế theo 6 chiều cạnh: số hóa ngay từ đầu, dựa trên dữ liệu, vận hành như một nền tảng, mở theo mặc định, định hướng người dùng và chủ động đáp ứng nhu cầu (OECD, 2020, tr. 6 – 8). Bối cảnh đó đòi hỏi đổi mới đồng bộ năng lực, phong cách và phương pháp làm việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý.
3.2. Những yêu cầu chủ yếu đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong vận hành chính quyền địa phương hai cấp đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số
Một là, có bản lĩnh chính trị, đạo đức công vụ, tính liêm chính và tinh thần phục vụ Nhân dân. Khi thẩm quyền được mở rộng, cán bộ lãnh đạo địa phương phải tuân thủ pháp luật, công khai, minh bạch và chịu trách nhiệm về quyết định; không để lợi ích cục bộ hoặc sức ép tiến độ làm sai lệch mục tiêu phục vụ. Yêu cầu “gần dân, vì dân, sát cơ sở” phải được thể hiện bằng khả năng lắng nghe, đối thoại và giải quyết kịp thời nhu cầu chính đáng. Trong môi trường số, đạo đức công vụ còn bao gồm sử dụng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo đúng mục đích, bảo vệ dữ liệu cá nhân, kiểm tra kết quả do công nghệ hỗ trợ và không đẩy trách nhiệm cho hệ thống.
Hai là, có tư duy hệ thống, tầm nhìn phát triển và năng lực dự báo. Người lãnh đạo cần xem địa phương trong quan hệ tổng thể giữa kinh tế, xã hội, môi trường, văn hóa, quốc phòng và an ninh; đánh giá tác động trực tiếp, gián tiếp của mỗi quyết định đối với các nhóm dân cư. Dữ liệu thời gian thực, bản đồ số và hệ thống báo cáo có thể hỗ trợ nhận diện biến động dân cư, nhu cầu dịch vụ công, thiên tai, dịch bệnh, tranh chấp đất đai hoặc điểm nóng xã hội. Tuy nhiên, dự báo đáng tin cậy phải kết hợp dữ liệu với khảo sát thực tế, tri thức địa phương và phản ánh của người dân, từ đó lựa chọn ưu tiên và phương án ứng phó phù hợp.
Ba là, có năng lực thực thi phân cấp, phân quyền và kiểm soát quyền lực. Cán bộ lãnh đạo địa phương phải nắm rõ thẩm quyền của cấp mình, phân biệt việc được phân quyền, phân cấp hoặc ủy quyền; biết nội dung nào được quyết định, nội dung nào phải phối hợp hay báo cáo. Trên cơ sở đó, người lãnh đạo cần cụ thể hóa pháp luật thành quy trình, phân công rõ người, rõ việc, thời hạn, nguồn lực và sản phẩm; thường xuyên kiểm tra tiến độ, tháo gỡ điểm nghẽn nhưng không vượt quá thẩm quyền. Quyền tự chủ của địa phương luôn đi cùng trách nhiệm giải trình, công khai kết quả và cơ chế kiểm soát (Quốc hội, 2025, Điều 12,13).
Bốn là, có năng lực lãnh đạo chuyển đổi số và quản trị sự thay đổi. Người đứng đầu không nhất thiết là chuyên gia công nghệ, nhưng phải hiểu khả năng, giới hạn và rủi ro của công nghệ để xác định đúng bài toán, nhiệm vụ ưu tiên, lộ trình, nguồn lực và chỉ số kết quả. Người đứng đầu phải trực tiếp chỉ đạo, không khoán trắng cho bộ phận kỹ thuật hoặc nhà cung cấp (Bộ Chính trị, 2024, Mục III.1). Đồng thời, cần truyền thông rõ lý do thay đổi, tổ chức thử nghiệm có kiểm soát, xử lý tâm lý sợ sai và tạo điều kiện cho cán bộ học qua công việc. Năng lực lãnh đạo số vì thế kết hợp kỹ năng sử dụng công nghệ, kỹ năng xã hội – cảm xúc và kiến thức chuyên môn (OECD, 2021, tr. 15-16, 30-42).
Năm là, có năng lực quản trị dữ liệu và ra quyết định dựa trên dữ liệu. Người lãnh đạo phải xác định dữ liệu cần thiết; tổ chức tạo lập, cập nhật, chuẩn hóa, kết nối và chia sẻ; phân định trách nhiệm của đơn vị tạo dữ liệu, quản lý dữ liệu và khai thác dữ liệu. Trước khi sử dụng, cần đánh giá tính đầy đủ, độ tin cậy, thời điểm cập nhật và khả năng sai lệch; đồng thời bảo đảm đúng mục đích, đúng thẩm quyền. Dữ liệu là căn cứ quan trọng nhưng không thay thế việc xem xét điều kiện lịch sử, văn hóa, tác động xã hội, khảo sát thực tế và trách nhiệm của người ra quyết định (Bộ Chính trị, 2024, Mục I.3).
Sáu là, có năng lực đổi mới quy trình, thiết kế dịch vụ công lấy người dân làm trung tâm và phối hợp liên thông. Chuyển đổi số phải đi cùng rà soát, đơn giản hóa thủ tục, loại bỏ khâu trung gian, tái sử dụng dữ liệu và không yêu cầu người dân cung cấp lại thông tin đã có, thay vì sao chép nguyên trạng quy trình giấy lên môi trường điện tử. Dịch vụ cần được thiết kế theo hành trình của người sử dụng, có phương án hỗ trợ người cao tuổi, người khuyết tật và người hạn chế kỹ năng số. Người đứng đầu phải điều phối được các cơ quan, đơn vị tham gia quy trình liên thông; kết quả được đo bằng thời gian, chi phí, tính thuận tiện và sự hài lòng của người dân (Chính phủ, 2025b).
Bảy là, có năng lực bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu và sử dụng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm. Đây là trách nhiệm quản trị của người đứng đầu, không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật. Cán bộ lãnh đạo, quản lý phải chỉ đạo phân quyền truy cập, quản lý tài khoản và thiết bị, sao lưu dữ liệu, giám sát và ứng cứu sự cố; đồng thời bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật nhà nước trong toàn bộ vòng đời xử lý thông tin. Khi dùng trí tuệ nhân tạo để phân tích hoặc hỗ trợ soạn thảo, cần kiểm tra nguồn, đánh giá sai lệch, không nhập dữ liệu mật vào công cụ không được phép và duy trì sự kiểm soát của con người (Bộ Chính trị, 2024, Mục I.5).
Tám là, có năng lực giao tiếp, huy động sự tham gia, học tập suốt đời và thích ứng. Chuyển đổi số chỉ bền vững khi cán bộ hiểu mục tiêu, người dân nhận thấy lợi ích và các chủ thể có kênh phản hồi. Người lãnh đạo cần giải thích rõ mục tiêu, lộ trình và trách nhiệm; lắng nghe cán bộ, người dân, doanh nghiệp; kết nối chuyên gia, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp công nghệ và cộng đồng. Trước tốc độ thay đổi của công nghệ, cán bộ phải gương mẫu tự học, thường xuyên cập nhật kiến thức và tổ chức chia sẻ kinh nghiệm, qua đó hình thành văn hóa học tập số trong cơ quan (Bộ Chính trị, 2024, Mục III.1).
3.3. Những vấn đề đặt ra đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong vận hành chính quyền địa phương hai cấp đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số
Thứ nhất, năng lực cán bộ chưa đồng đều giữa các địa bàn đô thị, nông thôn, miền núi, biên giới và hải đảo. Một bộ phận còn hạn chế về quản trị dữ liệu, thiết kế dịch vụ, an toàn thông tin và tổ chức dự án số; trong khi cán bộ thành thạo công nghệ có thể thiếu kinh nghiệm xử lý vấn đề xã hội phức tạp. Khi địa bàn rộng hơn và khối lượng việc tăng, khoảng cách giữa năng lực hiện có với yêu cầu nhiệm vụ dễ dẫn đến quá tải, xử lý chậm hoặc phụ thuộc vào cán bộ kỹ thuật và nhà cung cấp.
Thứ hai, tiêu chuẩn chức danh đã được hoàn thiện nhưng năng lực lãnh đạo số chưa được lượng hóa đồng đều theo vị trí. Nghị định số 334/2025/NĐ-CP ngày 21/12/2025 của Chính phủ quy định các tiêu chuẩn chung về chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực, uy tín, kết quả công tác và kinh nghiệm đối với công chức lãnh đạo, quản lý. Tuy nhiên, yêu cầu về dữ liệu, tái thiết kế quy trình, quản trị dự án số, an toàn thông tin và dẫn dắt thay đổi cần được mô tả thành hành vi, cấp độ thành thạo và kết quả đầu ra cụ thể cho từng chức danh.
Thứ ba, cơ cấu và phân bố nhân lực chưa phù hợp với vị trí việc làm. Sau sắp xếp, có nơi thừa cấp phó nhưng thiếu nhân lực chuyên sâu về đất đai, xây dựng, tài chính, đầu tư, công nghệ hoặc dữ liệu; địa bàn có số dân và lượng hồ sơ lớn có thể được bố trí biên chế chưa tương xứng. Nếu tiếp tục phân bổ bình quân, việc điều động cán bộ khó giải quyết đúng điểm nghẽn. Cơ chế tuyển dụng, sử dụng công chức cần bám sát vị trí việc làm, khối lượng, tính liên ngành và độ phức tạp của nhiệm vụ (Chính phủ, 2025c; 2025d).
Thứ tư, dữ liệu và hệ thống số còn phân mảnh. Một số phần mềm chưa liên thông, dữ liệu trùng lặp, thiếu cập nhật hoặc không thống nhất mã định danh, làm tăng thao tác nhập lại và giảm độ tin cậy của báo cáo. Cán bộ lãnh đạo, quản lý có thể nhận nhiều bảng số liệu nhưng thiếu thông tin kịp thời để ra quyết định. Yêu cầu đồng bộ, liên thông, không gián đoạn dữ liệu khi vận hành mô hình hai cấp, vì thế, cần được thực hiện cùng với việc xác định rõ trách nhiệm quản trị từng tập dữ liệu (Thủ tướng Chính phủ, 2025a; 2025b).
Thứ năm, văn hóa và phương thức làm việc chưa chuyển kịp từ xử lý hồ sơ sang quản trị theo kết quả. Một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý vẫn coi văn bản điện tử hoặc họp trực tuyến là đích đến của chuyển đổi số; tâm lý sợ sai, ngại chia sẻ dữ liệu và thói quen xử lý theo từng phòng, ban làm gián đoạn quy trình liên thông. Việc khoán chương trình số cho bộ phận công nghệ hoặc nhà cung cấp còn khiến yêu cầu nghiệp vụ và trách nhiệm của người đứng đầu bị mờ nhạt.
Thứ sáu, đào tạo và đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa gắn chặt với kết quả số. Nội dung bồi dưỡng còn có thể nặng về lý thuyết, ít tình huống và thực hành; sau khóa học chưa có cơ chế theo dõi việc vận dụng vào công việc. Tiêu chí đánh giá cũng chưa phản ánh đầy đủ chất lượng phục vụ, mức độ đơn giản hóa thủ tục, tái sử dụng dữ liệu và tác động thực tế. Các yêu cầu mới đối với cán bộ cấp xã vì vậy cần được triển khai theo vị trí việc làm, sản phẩm công việc và kết quả thực hiện nhiệm vụ (Thủ tướng Chính phủ, 2026a; 2026b).
3.4. Giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong vận hành chính quyền địa phương hai cấp đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số
Thứ nhất, hoàn thiện khung năng lực gắn với chính quyền địa phương hai cấp và chuyển đổi số. Khung nên gồm ba tầng: năng lực nền tảng áp dụng cho mọi cán bộ lãnh đạo; năng lực theo vị trí, lĩnh vực và đặc điểm địa bàn; năng lực lãnh đạo số nâng cao dành cho người đứng đầu và người phụ trách chương trình số. Mỗi năng lực cần có mô tả hành vi, cấp độ thành thạo và minh chứng kết quả để dùng thống nhất trong tuyển dụng, quy hoạch, bổ nhiệm, bồi dưỡng và đánh giá. Khung mới phải kế thừa tiêu chuẩn chức danh hiện hành (Chính phủ, 2025a), đồng thời phân biệt yêu cầu của cấp tỉnh với cấp xã và của từng lĩnh vực chuyên môn.
Thứ hai, đổi mới tuyển dụng, bố trí và sử dụng cán bộ theo vị trí việc làm. Cần lập bản đồ vị trí, khối lượng và độ phức tạp của nhiệm vụ; khắc phục phân bổ biên chế bình quân; ưu tiên nhân lực chuyên sâu cho địa bàn khó khăn hoặc có lượng hồ sơ lớn. Việc sắp xếp phải kết hợp cán bộ am hiểu cơ sở với cán bộ có năng lực số, dữ liệu và quản trị hiện đại. Có thể tổ chức biệt phái chuyên gia, nhóm hỗ trợ lưu động và mạng lưới tư vấn dùng chung để xã tiếp cận chuyên môn sâu mà không phải duy trì bộ máy kỹ thuật đầy đủ ở mọi nơi. Các giải pháp phải phù hợp quy định về cơ quan chuyên môn và quản lý công chức (Chính phủ, 2025c; 2025d).
Thứ ba, đổi mới nội dung và phương pháp bồi dưỡng. Chương trình cần mô-đun hóa theo vị trí việc làm, tập trung vào thực thi phân cấp và trách nhiệm giải trình, quản trị phát triển địa phương, dữ liệu, thiết kế dịch vụ công, an toàn thông tin, truyền thông khủng hoảng và sử dụng trí tuệ nhân tạo. Phương pháp chủ đạo là tình huống, mô phỏng, phòng thực hành số, huấn luyện tại chỗ và học qua nhiệm vụ. Kết quả phải được đánh giá bằng sản phẩm có thể áp dụng, như: phương án cải tiến quy trình, bảng điều hành dữ liệu, kế hoạch ứng cứu sự cố; đồng thời theo dõi mức độ vận dụng sau khóa học. Quyết định số 700/QĐ-TTg ngày 20/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ là cơ sở triển khai nhiệm vụ này giai đoạn 2026-2031.
Thứ tư, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu và xây dựng văn hóa đổi mới. Người đứng đầu phải lựa chọn một số bài toán ưu tiên có tác động rõ đối với người dân, chỉ định chủ sở hữu nghiệp vụ, giao chỉ số đầu ra và định kỳ kiểm tra; mọi dự án số cần có cơ chế tiếp nhận phản hồi và công khai kết quả phù hợp. Cơ quan phải khuyến khích thử nghiệm có kiểm soát, ghi nhận sáng kiến, bảo vệ người dám đổi mới vì lợi ích chung, đồng thời xử lý hành vi lợi dụng đổi mới để vi phạm pháp luật. Kết quả chuyển đổi số phải trở thành tiêu chí đánh giá công tác của tập thể và người đứng đầu (Bộ Chính trị, 2024, Mục III.1).
Thứ năm, xây dựng môi trường dữ liệu và nền tảng số đồng bộ, an toàn. Cấp tỉnh cần ban hành quy chế quản trị dữ liệu, xác định chủ thể chịu trách nhiệm đối với từng tập dữ liệu; chuẩn hóa danh mục, mã định danh, quy trình cập nhật, kết nối và tái sử dụng. Hệ thống điều hành phải cung cấp thông tin ngắn gọn, kịp thời, có cảnh báo và truy vết nguồn; tránh đầu tư trung tâm điều hành chỉ để trình diễn. Cần ưu tiên nền tảng dùng chung, khả năng liên thông và tiêu chuẩn mở; đồng thời kiểm soát truy cập, sao lưu, giám sát, diễn tập và xử lý sự cố. Môi trường số chỉ bền vững khi chất lượng dữ liệu và niềm tin của người sử dụng được bảo đảm (Thủ tướng Chính phủ, 2021; 2025a; 2025b).
Thứ sáu, đổi mới đánh giá cán bộ theo kết quả và giá trị công. Bộ chỉ số nên phản ánh tiến độ và chất lượng nhiệm vụ, thời gian và chi phí thủ tục, mức độ tái sử dụng dữ liệu, số quy trình được đơn giản hóa, chất lượng phối hợp, an toàn thông tin, sáng kiến được áp dụng và sự hài lòng của người dân. Không đồng nhất chuyển đổi số với số văn bản điện tử, cuộc họp trực tuyến hoặc tỷ lệ nộp hồ sơ trực tuyến. Kết quả đánh giá cần được đối chiếu bằng dữ liệu, phản hồi của đối tượng phục vụ và kiểm tra thực tế; sau đó gắn với xếp loại, thi đua, quy hoạch, bổ nhiệm và bồi dưỡng.
Thứ bảy, bảo đảm nguồn lực, phối hợp và bao trùm số. Cần ưu tiên ngân sách cho kết nối, thiết bị, bảo mật, dữ liệu và đào tạo ở cấp xã; có cơ chế mua sắm, thuê dịch vụ số linh hoạt nhưng minh bạch, tránh đầu tư dàn trải và phụ thuộc nhà cung cấp. Việc phối hợp giữa cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo, địa phương và doanh nghiệp phải hướng vào chuẩn chung, học liệu dùng chung và hỗ trợ thực hành. Bên cạnh kênh trực tuyến, cần duy trì hỗ trợ trực tiếp, qua điện thoại hoặc tại cộng đồng cho người cao tuổi, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số và người hạn chế kỹ năng số. Quyền tiếp cận bình đẳng và khả năng lựa chọn kênh phục vụ là tiêu chí quan trọng của chính quyền số lấy người dân làm trung tâm.
4. Kết luận
Vận hành chính quyền địa phương hai cấp gắn với chuyển đổi số không chỉ là sự thay đổi về tổ chức bộ máy mà còn là quá trình đổi mới đồng bộ thẩm quyền, quy trình và phương thức quản trị. Trong quá trình đó, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giữ vai trò quyết định đối với khả năng vận hành thông suốt, hiệu lực, hiệu quả và mức độ gần dân, phục vụ Nhân dân của mô hình mới. Công nghệ không thể thay thế bản lĩnh, trách nhiệm, tư duy và năng lực tổ chức; ngược lại, cán bộ lãnh đạo, quản lý có phẩm chất và kinh nghiệm nhưng thiếu năng lực số cũng khó đáp ứng yêu cầu quản trị trong điều kiện địa bàn rộng, nhiệm vụ lớn và tốc độ xử lý ngày càng cao.
Vì vậy, cần xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý vừa có bản lĩnh chính trị, đạo đức công vụ, tính liêm chính và tinh thần phục vụ Nhân dân, vừa có tư duy hệ thống, năng lực dự báo, thực thi phân quyền, quản trị dữ liệu và lãnh đạo chuyển đổi số. Việc xây dựng đội ngũ phải được tiến hành đồng bộ từ hoàn thiện tiêu chuẩn, khung năng lực đến tuyển dụng, bố trí, đào tạo, đánh giá và đãi ngộ; đồng thời tạo lập môi trường làm việc số khuyến khích đổi mới sáng tạo, trách nhiệm giải trình và phối hợp liên thông.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2017). Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Chính phủ (2025a). Nghị định số 334/2025/NĐ-CP ngày 21/12/2025 quy định tiêu chuẩn chức danh công chức lãnh đạo, quản lý trong cơ quan hành chính nhà nước.
Chính phủ (2025b). Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Chính phủ (2025c). Nghị định số 150/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu.
Chính phủ (2025d). Nghị định số 170/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
OECD (2020). The OECD Digital Government Policy Framework: Six Dimensions of a Digital Government, OECD Public Governance Policy Papers, No. 02, OECD Publishing, Paris, pp. 6-8. https://doi.org/10.1787/f64fed2a-en.
OECD (2021). The OECD Framework for Digital Talent and Skills in the Public Sector, OECD Working Papers on Public Governance, No. 45, OECD Publishing, Paris, pp. 15-16, 30-42. https://doi.org/10.1787/4e7c3f58-en.
Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Thu Giang (06/12/2025). Gần 4.000 công chức, viên chức được điều động về cấp xã, tăng năng lực cho cơ sở. Báo điện tử Chính phủ. https://baochinhphu.vn/gan-4000-cong-chuc-vien-chuc-duoc-dieu-dong-ve-cap-xa-tang-nang-luc-cho-co-so-102251206103917455.htm
Thu Giang (02/01/2026). Cách mạng tinh gọn bộ máy, vận hành chính quyền địa phương hai cấp – dấu ấn cải cách lịch sử. Báo điện tử Chính phủ. https://baochinhphu.vn/cach-mang-tinh-gon-bo-may-van-hanh-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap-dau-an-cai-cach-lich-su-102251230125915563.htm
Thu Giang (29/6/2026). Sơ kết 1 năm vận hành chính quyền 3 cấp: Đo “chất lượng” bộ máy sau sắp xếp. Báo điện tử Chính phủ. https://baochinhphu.vn/so-ket-1-nam-van-hanh-chinh-quyen-3-cap-do-chat-luong-bo-may-sau-sap-xep-102260629174512784.htm.
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2025a). Công điện số 101/CĐ-TTg ngày 29/6/2025 về tăng cường bảo đảm đồng bộ, liên thông, không gián đoạn thông tin, dữ liệu khi triển khai chính quyền địa phương hai cấp.
Thủ tướng Chính phủ (2025b). Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 14/3/2025 về đẩy mạnh triển khai Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia.
Thủ tướng Chính phủ (2026a). Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 08/5/2026 về nâng cao chất lượng cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.
Thủ tướng Chính phủ (2026b). Quyết định số 700/QĐ-TTg ngày 20/4/2026 phê duyệt Đề án tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc khu đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương hai cấp giai đoạn 2026-2031.



