Bảo đảm an sinh xã hội cho lao động nữ trong các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Cần Thơ

Ensuring social security for female workers in industrial parks in Can Tho city

ThS. Trần Thị Phương Lan
Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh
Email: lan.tranthiphuong@uah.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích thực trạng bảo đảm an sinh xã hội cho lao động nữ trong các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Cần Thơ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, công tác bảo đảm an sinh xã hội cho lao động nữ đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần ổn định đời sống và quan hệ lao động. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế, như: việc làm chưa thật sự ổn định, một số quyền lợi an sinh chưa được thực hiện đồng đều, thiếu thiết chế phục vụ công nhân nữ và dịch vụ hỗ trợ chăm sóc con nhỏ. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm an sinh xã hội cho lao động nữ tại các khu công nghiệp Cần Thơ.

Từ khóa: An sinh xã hội; lao động nữ; khu công nghiệp; thành phố Cần Thơ.

Abstract: This article analyzes the current state of social security for female workers in industrial zones within Can Tho City. The research findings show that efforts to ensure social security for female workers have yielded many positive results, contributing to the stability of their livelihoods and labor relations. However, there are still limitations, such as: employment that is not yet truly stable, some social security benefits not being implemented uniformly, and a lack of facilities serving female workers and childcare support services. Based on this, the article proposes solutions to improve the effectiveness of social security provisions for female workers in Can Tho’s industrial zones.

Keywords: Social security; female workers; industrial zones; Can Tho City.

1. Đặt vấn đề

Trong phát triển kinh tế – xã hội, các khu công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, giải quyết việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động tại các địa phương. Thành phố Cần Thơ hiện “có 9 khu công nghiệp đang hoạt động, cùng 2 cụm công nghiệp tập trung và Trung tâm Điều hành Khu công nghiệp Sông Hậu do Ban trực tiếp quản lý. Hệ thống này đã thu hút 349 dự án đầu tư, trong đó có 303 dự án trong nước, 45 dự án có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và 1 dự án ODA. Tổng vốn đăng ký của các dự án trong nước đạt gần 137.765 tỷ đồng, trong khi nguồn vốn FDI vượt 4,65 tỷ USD. Những con số này cho thấy sức hút ngày càng lớn của thành phố Cần Thơ đối với các nhà đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, logistics và công nghiệp hỗ trợ” (Lê Lĩnh, Minh Hùng, 2026).

Trong lực lượng lao động tại các khu công nghiệp, lao động nữ chiếm tỷ lệ đáng kể, tập trung ở các ngành sử dụng nhiều lao động, như: chế biến, may mặc, thủy sản, thực phẩm và dịch vụ hỗ trợ sản xuất. Tuy nhiên, do đặc điểm về giới, điều kiện việc làm, thu nhập và trách nhiệm gia đình, lao động nữ thường phải đối mặt với nhiều rủi ro và bất lợi hơn trong quá trình tham gia thị trường lao động. Thực tế cho thấy, một bộ phận lao động nữ còn có việc làm thiếu ổn định, thu nhập chưa tương xứng với chi phí sinh hoạt; khả năng tiếp cận nhà ở, nhà trẻ, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm xã hội và các thiết chế văn hóa còn hạn chế.

Bên cạnh đó, áp lực công việc, thời gian làm việc kéo dài, yêu cầu chăm sóc con nhỏ và gia đình cũng ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống và khả năng duy trì việc làm bền vững của lao động nữ. Trong bối cảnh thành phố Cần Thơ tiếp tục mở rộng không gian phát triển công nghiệp và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo đảm an sinh xã hội cho lao động nữ không chỉ là yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động mà còn là điều kiện quan trọng để ổn định quan hệ lao động, nâng cao năng suất, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội. Vì vậy, nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm tăng cường bảo đảm an sinh xã hội cho lao động nữ trong các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Cần Thơ có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.

2. Thực trạng bảo đảm an sinh xã hội cho lao động nữ trong các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Cần Thơ

Một là, việc thực hiện các chế độ lao động, bảo hiểm và chính sách đặc thù đối với lao động nữ đã từng bước được chú trọng.

Đa số doanh nghiệp có tổ chức công đoàn đã quan tâm thực hiện các chế độ, chính sách đối với lao động nữ. Trong 64 đơn vị được thống kê, có 33 đơn vị thực hiện chế độ cho lao động nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ 60 phút mỗi ngày trong thời gian làm việc mà vẫn hưởng đủ lương; 15 đơn vị hỗ trợ một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo; 15 đơn vị xây dựng quỹ phúc lợi, tạo thêm thu nhập cho lao động nữ. Một số doanh nghiệp đông lao động nữ còn thực hiện các chính sách cao hơn mức tối thiểu, như: bố trí phòng vắt sữa, khám sức khỏe, tư vấn sức khỏe sinh sản, giảm thời gian làm việc đối với lao động nữ nuôi con nhỏ hoặc làm công việc nặng nhọc. Các hoạt động kiểm tra việc thực hiện pháp luật lao động, chế độ chính sách liên quan đến lao động nữ cũng được công đoàn phối hợp triển khai; riêng năm 2021 đã kiểm tra tại 31 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp (Hồng Vân, 2022).

Thành phố Cần Thơ đã ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án “Tư vấn và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất giai đoạn 2026-2030” trên địa bàn, đặt mục tiêu đến năm 2030, “phấn đấu 100% địa phương có khu công nghiệp, khu chế xuất tổ chức kiểm tra, giám sát liên ngành việc thực hiện chính sách; trên 50% doanh nghiệp có quy định về chăm sóc sức khỏe sinh sản có lợi hơn cho người lao động trong thỏa ước lao động tập thể; 90% doanh nghiệp tổ chức tuyên truyền chính sách và phối hợp cơ sở khám, chữa bệnh cung cấp dịch vụ phù hợp với điều kiện làm việc của công nhân.

Về hệ thống y tế, mục tiêu đặt ra là 80% cơ sở khám, chữa bệnh đủ năng lực cung cấp các gói dịch vụ cơ bản về chăm sóc sức khỏe sinh sản cho công nhân; 100% cán bộ chuyên khoa phụ sản thực hiện đúng quy trình khám định kỳ cho lao động nữ theo quy định của Bộ Y tế. Thành phố cũng hướng tới 95% công nhân được truyền thông, tư vấn về chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục; 90% sử dụng các dịch vụ dự phòng, sàng lọc bệnh; 90% công nhân chuẩn bị kết hôn được tư vấn, khám sức khỏe tiền hôn nhân; 95% lao động nữ mang thai được trang bị kiến thức dự phòng lây truyền từ mẹ sang con” (Ủy ban nhân dân Thành phố Cần Thơ, 2026).

Hai là, công tác chăm lo đời sống vật chất và hỗ trợ lao động có hoàn cảnh khó khăn ngày càng được mở rộng.

Công đoàn các Khu chế xuất và Công nghiệp Cần Thơ đã trở thành một chủ thể quan trọng bổ sung cho hệ thống An sinh xã hội nhà nước thông qua trợ cấp khó khăn, chăm lo Tết, hỗ trợ người mắc bệnh hiểm nghèo, nhà ở và các chương trình phúc lợi. Trong 6 tháng đầu năm 2024, có 2.377 lượt đoàn viên, công nhân lao động được thụ hưởng các hoạt động chăm lo Tết với kinh phí hơn 1 tỷ đồng; 214 lượt đoàn viên có hoàn cảnh khó khăn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo được hỗ trợ 225,65 triệu đồng. Tổng kết năm 2024 tiếp tục ghi nhận hơn 2.377 phần quà với tổng kinh phí trên 1 tỷ đồng, đồng thời các công đoàn cơ sở phối hợp với doanh nghiệp bảo đảm tiền lương, tiền thưởng, tiền làm thêm giờ và hỗ trợ tăng thu nhập cho người lao động (Công đoàn các khu chế xuất và công nghiệp Cần Thơ, 2025). Đây là số liệu chung của đoàn viên, người lao động trong khu công nghiệp, không tách riêng theo giới, nhưng có ý nghĩa trực tiếp đối với lao động nữ – lực lượng chiếm tỷ trọng lớn tại nhiều doanh nghiệp trong các khu công nghiệp.

Ba là, các hình thức an sinh xã hội bổ sung dành cho lao động nữ đã có bước phát triển.

Bên cạnh các chế độ bắt buộc, công đoàn và doanh nghiệp đã hình thành nhiều mô hình trợ vốn, góp vốn xoay vòng, chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ gia đình. Tại khu vực Thốt Nốt, năm 2021 các mô hình trợ vốn, góp vốn xoay vòng thu hút 1.516 lao động nữ tham gia với tổng số vốn trên 3,2 tỷ đồng, hỗ trợ 618 chị có điều kiện phát triển kinh tế gia đình; 27 đoàn viên nữ được đề nghị vay 540 triệu đồng từ Quỹ trợ vốn. Trên phạm vi thành phố, 186 lượt lao động nữ được vay hơn 3,61 tỷ đồng từ Quỹ trợ vốn và một số trường hợp được hỗ trợ “Mái ấm Công đoàn” (Hồng Vân, 2022). Đây là biểu hiện của sự chuyển biến từ bảo đảm an sinh xã hội theo hướng chỉ giải quyết rủi ro trước mắt sang hỗ trợ khả năng tự bảo đảm sinh kế và nâng cao sức chống chịu của lao động nữ trước những biến động về việc làm và thu nhập.

Bốn là, hoạt động đại diện, đối thoại, giám sát và nghiên cứu nhu cầu an sinh xã hội của lao động nữ ngày càng được quan tâm.

Quý I/2025, Công đoàn các khu chế xuất và Công nghiệp Cần Thơ tiếp tục chỉ đạo công đoàn cơ sở phối hợp với doanh nghiệp tổ chức hội nghị người lao động và đối thoại tại nơi làm việc. Đáng chú ý, tháng 8/2024, Công đoàn các Khu chế xuất và Công nghiệp Cần Thơ phối hợp với Viện Thông tin Khoa học xã hội tiến hành khảo sát chuyên biệt về vai trò của an sinh xã hội đối với an ninh việc làm của lao động nữ tại 4 doanh nghiệp có đông lao động nữ, thực hiện 120 phiếu khảo sát cùng phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm (Công đoàn các khu chế xuất và công nghiệp Cần Thơ, 2024). Việc khảo sát trực tiếp cho thấy, công tác bảo đảm an sinh xã hội đã từng bước chú trọng hơn tới việc nhận diện nhu cầu riêng, rủi ro giới và tiếng nói của lao động nữ thay vì chỉ áp dụng các chính sách chung cho mọi nhóm lao động.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả trên, việc bảo đảm an sinh xã hội cho lao động nữ trong các khu công nghiệp Cần Thơ vẫn bộc lộ những hạn chế, tồn tại, như:

(1) Việc làm và thu nhập của một bộ phận lao động còn thiếu ổn định, làm suy giảm nền tảng an sinh xã hội của lao động nữ. Tại các Khu chế xuất và Công nghiệp Cần Thơ, tình trạng doanh nghiệp gặp khó khăn sản xuất, người lao động bị giảm giờ làm, giảm tiền lương và có thu nhập thấp thường xuyên xảy ra. Đối với lao động nữ, những biến động này có tác động lớn hơn khi họ đồng thời phải chi trả các khoản liên quan đến nuôi con, chăm sóc gia đình và nhà ở.

(2) Việc thực hiện các chế độ an sinh xã hội và quyền lợi của lao động chưa đồng đều giữa các doanh nghiệp. Việc chỉ có 33/64 đơn vị được ghi nhận thực hiện chế độ nghỉ 60 phút cho lao động nữ nuôi con dưới 12 tháng và chỉ 15/64 đơn vị có hỗ trợ chi phí gửi trẻ cho thấy mức độ thực hiện, nhất là các chế độ phúc lợi cao hơn mức tối thiểu, còn chênh lệch đáng kể (Hồng Vân, 2022). Đáng lưu ý, báo cáo quý I/2025 phản ánh vẫn có doanh nghiệp nợ lương, nợ bảo hiểm xã hội. Tình trạng này trực tiếp ảnh hưởng tới tính liên tục trong thụ hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, hưu trí và các quyền an sinh xã hội khác của người lao động, trong đó lao động nữ là nhóm đặc biệt nhạy cảm với sự gián đoạn bảo hiểm xã hội do nhu cầu hưởng chế độ thai sản và chăm sóc con.

(3) Hệ thống dịch vụ xã hội và thiết chế phục vụ công nhân nữ chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu: vấn đề nhà ở, nhà lưu trú, dịch vụ khám chữa bệnh, sinh hoạt văn hóa, nhà trẻ và mẫu giáo cho con công nhân vẫn là những vấn đề bức xúc. Việc này tạo “gánh nặng kép” đối với lao động nữ, vừa làm việc theo ca kíp vừa phải tự giải quyết việc chăm sóc con và gia đình.

(4) Tính bao phủ và mức độ đáp ứng nhu cầu đặc thù của lao động nữ vẫn chưa thật sự toàn diện. Các báo cáo thường kỳ hiện chủ yếu thống kê kết quả chung cho đoàn viên và người lao động, còn số liệu được phân tách theo giới về thu nhập, bảo hiểm xã hội, thất nghiệp, nhà ở, sức khỏe, thai sản hay tiếp cận nhà trẻ chưa được công bố một cách liên tục. Đây cũng là một hạn chế trong quản trị an sinh xã hội: thiếu hệ thống dữ liệu giới đầy đủ khiến việc xác định đúng nhóm nữ lao động dễ bị tổn thương và thiết kế chính sách hỗ trợ có mục tiêu còn gặp khó khăn.

3. Giải pháp tăng cường bảo đảm an sinh xã hội cho lao động nữ trong các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Cần Thơ

Để nâng cao hiệu quả bảo đảm an sinh xã hội cho lao động nữ trong các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Cần Thơ hiện nay, cần triển khai đồng bộ các giải pháp xuất phát từ đặc điểm việc làm, điều kiện lao động, trách nhiệm gia đình và những rủi ro đặc thù mà lao động nữ đang phải đối mặt. Đặc biệt, chính sách cần chuyển từ hỗ trợ chung cho người lao động sang nhận diện rõ nhu cầu của từng nhóm lao động nữ theo độ tuổi, ngành nghề, tình trạng hôn nhân, nuôi con nhỏ, lao động nhập cư và mức độ ổn định của việc làm.

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế quản lý và xây dựng cơ sở dữ liệu an sinh xã hội riêng đối với lao động nữ trong các khu công nghiệp. Thành phố Cần Thơ cần giao cơ quan quản lý khu công nghiệp phối hợp với cơ quan lao động, bảo hiểm xã hội, Liên đoàn Lao động và doanh nghiệp định kỳ cập nhật dữ liệu về số lượng lao động nữ, tiền lương, hợp đồng lao động, tham gia bảo hiểm xã hội, tình trạng nuôi con nhỏ, nhu cầu nhà ở, nhà trẻ, chăm sóc sức khỏe và đào tạo nghề. Trên cơ sở đó, thành phố cần hình thành bộ chỉ số theo dõi an sinh lao động nữ hằng năm, xác định các nhóm có nguy cơ cao, như: phụ nữ đơn thân, lao động nhập cư, phụ nữ mang thai, nuôi con nhỏ và lao động bị giảm giờ làm.. để hỗ trợ đúng đối tượng.

Thứ hai, bảo đảm việc làm ổn định, thu nhập và thực hiện đầy đủ các chế độ bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ. Thành phố cần tăng cường thanh tra, giám sát việc ký hợp đồng lao động, trả lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, chế độ thai sản và thời giờ làm việc đối với phụ nữ. Cần đặc biệt ngăn ngừa tình trạng doanh nghiệp chậm đóng hoặc nợ bảo hiểm xã hội làm ảnh hưởng đến quyền hưởng thai sản và các quyền lợi dài hạn của lao động nữ. Đồng thời, khuyến khích doanh nghiệp thiết kế ca làm linh hoạt cho phụ nữ mang thai, nuôi con nhỏ; hạn chế làm thêm kéo dài; xây dựng quỹ hỗ trợ lao động nữ bị giảm giờ, mất việc hoặc gặp biến cố gia đình. Trong bối cảnh người lao động tại thành phố Cần Thơ vẫn có nhu cầu lớn về việc làm bền vững, nhà ở và các chính sách an sinh dài hạn, ổn định thu nhập phải được coi là nền tảng quan trọng nhất của an sinh xã hội.

Thứ ba, ưu tiên giải quyết vấn đề nhà trẻ, chăm sóc con nhỏ và nhà ở cho nữ công nhân. Thành phố cần triển khai hiệu quả Nghị quyết số 11/2026/NQ-HĐND ngày 29/4/2026, trong đó quy định hỗ trợ 200.000 đồng/trẻ/tháng đối với trẻ mầm non đủ điều kiện là con công nhân, người lao động và hỗ trợ 800.000 đồng/giáo viên/tháng đối với giáo viên tại các cơ sở mầm non thuộc diện chính sách (Hội đồng nhân dân Thành phố Cần Thơ, 2026). Cùng với đó, phát triển mạng lưới nhà trẻ, nhóm trẻ gần khu công nghiệp, ưu tiên cơ sở có giờ đón – trả trẻ phù hợp với ca làm việc của công nhân. Khi quy hoạch, mở rộng khu công nghiệp phải đồng thời quy hoạch nhà ở xã hội, nhà trẻ, điểm sinh hoạt cộng đồng, siêu thị và dịch vụ thiết yếu, tránh tình trạng phát triển nơi làm việc nhưng thiếu hạ tầng xã hội cho người lao động.

Thứ tư, xây dựng chương trình chăm sóc sức khỏe nghề nghiệp và sức khỏe sinh sản chuyên biệt cho nữ công nhân. Thành phố Cần Thơ cần duy trì khám sức khỏe định kỳ nhưng phải bổ sung khám phụ khoa, tư vấn sức khỏe sinh sản, tầm soát ung thư cổ tử cung, ung thư vú, chăm sóc sức khỏe thai kỳ và tư vấn sức khỏe tâm lý. Việc khám định kỳ và chăm sóc sức khỏe sinh sản cho nữ đoàn viên cần được coi là đầu tư cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Đối với lao động nữ làm việc trong môi trường lạnh, ẩm, đứng lâu, làm việc theo dây chuyền hoặc ca kíp, doanh nghiệp cần đánh giá riêng nguy cơ nghề nghiệp theo giới, bố trí thời gian nghỉ hợp lý, trang bị bảo hộ phù hợp với cơ thể nữ, duy trì phòng vắt – trữ sữa tại doanh nghiệp đông lao động nữ và bảo đảm quyền của phụ nữ mang thai, nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Thứ năm, tăng cường đào tạo nghề, đào tạo lại và nâng cao khả năng thích ứng việc làm cho lao động nữ. Bảo đảm an sinh xã hội bền vững không thể chỉ dựa vào trợ cấp mà phải giúp lao động nữ nâng cao năng lực tự bảo đảm thu nhập. Trong quá trình thành phố Cần Thơ thúc đẩy chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ giai đoạn 2026 – 2030, đào tạo nghề cho lao động phi nông nghiệp đang được xác định là một nhiệm vụ trọng tâm. Vì vậy, cần ưu tiên các chương trình đào tạo ngắn hạn về kỹ năng số, vận hành thiết bị tự động, kiểm soát chất lượng, logistics, thương mại điện tử, kế toán – hành chính và các nghề dịch vụ cho lao động nữ. Các khóa học nên được tổ chức ngoài giờ hoặc trực tuyến để phụ nữ đang nuôi con nhỏ có thể tham gia; đồng thời có chương trình đào tạo trở lại cho phụ nữ sau thời gian nghỉ thai sản hoặc sau khi mất việc.

Thứ sáu, phát huy vai trò của công đoàn, doanh nghiệp và chính quyền trong hình thành mạng lưới an sinh xã hội dành cho nữ công nhân. Công đoàn cần tăng cường đối thoại tại nơi làm việc, tư vấn pháp luật, hỗ trợ phụ nữ bị vi phạm quyền lợi, duy trì các chương trình “Mái ấm Công đoàn”, quỹ trợ vốn, phúc lợi đoàn viên và trợ giúp khẩn cấp. Doanh nghiệp phải coi phúc lợi dành cho lao động nữ là một bộ phận của chính sách giữ chân nhân lực chứ không phải chi phí phụ thêm. Chính quyền thành phố cần thiết lập cơ chế phối hợp thường xuyên giữa cơ quan quản lý khu công nghiệp – bảo hiểm xã hội – công đoàn – doanh nghiệp – cơ sở y tế – cơ sở giáo dục mầm non, đồng thời định kỳ công khai kết quả thực hiện các chế độ đối với lao động nữ. Qua đó hình thành hệ thống an sinh xã hội đa tầng, vừa phòng ngừa rủi ro, vừa hỗ trợ khi rủi ro xảy ra, vừa tạo điều kiện để lao động nữ nâng cao năng lực và cải thiện chất lượng cuộc sống.

4. Kết luận

Bảo đảm an sinh xã hội cho lao động nữ trong các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Cần Thơ là yêu cầu quan trọng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động; đồng thời, góp phần ổn định quan hệ lao động và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Thời gian qua, công tác này đã đạt được một số kết quả tích cực trong bảo đảm việc làm, thu nhập, thực hiện các chế độ bảo hiểm, chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ đời sống cho lao động nữ. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế về tính ổn định của việc làm, mức độ bao phủ an sinh, nhà ở, nhà trẻ, chăm sóc sức khỏe sinh sản và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội thiết yếu. Vì vậy, thành phố Cần Thơ cần tiếp tục hoàn thiện chính sách, tăng cường phối hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp và công đoàn, đồng thời chú trọng các giải pháp đặc thù đối với lao động nữ, hướng tới xây dựng môi trường làm việc an toàn, bình đẳng và bền vững.

Tài liệu tham khảo:
Công đoàn các khu chế xuất và công nghiệp Cần Thơ (2024). Khảo sát vai trò của an sinh xã hội trong việc bảo đảm an ninh công việc của lao động nữ tại các khu chế xuất và công nghiệp Cần Thơ. https://congdoan.cantho.gov.vn/khao-sat-ve-vai-tro-cua-an-sinh-xa-hoi-trong-dam-bao-an-ninh-cong-viec-cua-lao-dong-nu-tai-cac-khu-che-xuat-va-cong-nghiep-can-tho.
Công đoàn các khu chế xuất và công nghiệp Cần Thơ (2025). Công đoàn các khu chế xuất và công nghiệp Cần Thơ tổng kết hoạt động công đoàn năm 2024 và phương hướng hoạt động năm 2025. https://congdoan.cantho.gov.vn/cong-doan-cac-khu-che-xuat-va-cong-nghiep-can-tho-tong-ket-hoat-dong-cong-doan-nam-2024-va-phuong-huong-hoat-dong-nam-2025.
Hội đồng nhân dân Thành phố Cần Thơ (2026). Nghị quyết số 11/2026/NQ-HĐND ngày 29/4/2026 quy định mức hỗ trợ trẻ em mầm non là con công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp, nơi có nhiều lao động; và giáo viên mầm non làm việc tại cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục trên địa bàn có khu công nghiệp, nơi có nhiều lao động trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
Hồng Vân (23/3/2022). “Tiếp sức” lao động nữ. Báo Cần Thơ điện tử. https://baocantho.com.vn/tiep-suc-lao-dong-nu-a144965.html.
Lê Lĩnh, Minh Hùng (30/6/2026). Cần Thơ tăng tốc phát triển khu, cụm công nghiệp theo hướng xanh, tạo lực hút dòng vốn đầu tư bền vững.Tạp chí Công nghiệp Môi trường điện tử.https://congnghiepmoitruong.vn/can-tho-tang-toc-phat-trien-khu-cum-cong-nghiep-theo-huong-xanh-tao-luc-hut-dong-von-dau-tu-ben-vung-17007.html.
Ủy ban nhân dân Thành phố Cần Thơ (2026). Kế hoạch số 81/KH-UBND ngày 13/02/2026 thực hiện Đề án “Tư vấn và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất giai đoạn 2026-2030” trên địa bàn Thành phố Cần Thơ.