The role of digital resources in the development of the private economic sector in Vietnam today
ThS. Huỳnh Hữu Thoại
Email: huynhthoai64@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Nguồn lực số đang trở thành yếu tố quan trọng đối với phát triển khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm thay đổi phương thức tổ chức sản xuất – kinh doanh. Bài viết phân tích vai trò của nguồn lực số đối với hình thành lực lượng sản xuất và phương thức tăng trưởng mới, mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao năng suất lao động và chuyển dịch cơ cấu việc làm của khu vực kinh tế tư nhân. Trên cơ sở nhận diện những hạn chế về khả năng tiếp cận, hấp thụ và khai thác nguồn lực số, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy hiệu quả nguồn lực số, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững.
Từ khóa: Nguồn lực số; kinh tế tư nhân; chuyển đổi số; dữ liệu số; năng suất lao động.
Abstract: Digital resources are becoming an important factor for the development of the private economic sector in the context of science, technology, innovation and digital transformation, which are reshaping the organization of production and business activities. This article analyzes the role of digital resources in the formation of new productive forces and new modes of growth, the expansion of the scale of operations, the enhancement of labor productivity, and employment restructuring within the private sector. Based on the identification of limitations in the capacity to access, absorb, and utilize digital resources, the article proposes several solutions to effectively leverage digital resources, thereby contributing to enhancing the competitiveness and promoting the rapid and sustainable development of the private economy.
Keywords: Digital resources; private economy; digital transformation; digital data; labor productivity.
1. Đặt vấn đề
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc điều kiện sản xuất, phương thức tổ chức doanh nghiệp và cơ chế phân bổ nguồn lực. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định đây là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại; đồng thời, nhấn mạnh thể chế, nhân lực, kết cấu hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, trong đó dữ liệu cần được khai thác như tư liệu sản xuất quan trọng. Do đó, định hướng đưa dữ liệu trở thành tư liệu sản xuất quan trọng cho thấy, nguồn lực phát triển không chỉ giới hạn ở vốn, lao động, đất đai và tài nguyên truyền thống. Đồng thời, nguồn lực mới này có khả năng làm thay đổi năng suất, phạm vi thị trường và mô hình kinh doanh.
Đối với khu vực kinh tế tư nhân, yêu cầu đó càng có tính cấp thiết khi quy mô và vai trò của khu vực này ngày càng lớn. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân cho thấy, kinh tế tư nhân hiện có hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động. Tuy nhiên, hầu hết doanh nghiệp ở Việt Nam có quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa; tiềm lực tài chính, trình độ quản trị, năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo còn hạn chế (Bộ Chính trị, 2025). Khoảng cách giữa vai trò trong nền kinh tế với năng lực công nghệ chưa tương xứng đặt ra yêu cầu phải phát huy hiệu quả nguồn lực số để tạo động lực tăng trưởng mới.
Trong phạm vi bài viết, nguồn lực số được hiểu là tổng hợp các nguồn lực có khả năng tạo lập, xử lý, kết nối và khai thác giá trị trong môi trường số, bao gồm: (1) Kết cấu hạ tầng số và năng lực tính toán, lưu trữ, kết nối; (2) Dữ liệu số và khả năng quản trị, chia sẻ, khai thác dữ liệu; (3) Công nghệ, nền tảng và phần mềm số, bao gồm: trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây (cloud computing), Internet vạn vật và các công nghệ mới; (4) Nhân lực có kỹ năng số và năng lực tổ chức chuyển đổi số. Bên cạnh đó, khung pháp lý cho nguồn lực số đã được củng cố với Luật Dữ liệu năm 2024, Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 và Luật Chuyển đổi số năm 2025. Cùng với đó, Quyết định số 433/QĐ-TTg ngày 16/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án chuyển đổi số các doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026 – 2030 và Quyết định số 1033/QĐ-TTg ngày 09/6/2026 phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026 – 2030 cũng tạo thêm cơ sở chính sách để nguồn lực số đi vào khu vực doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung phân tích vai trò của nguồn lực số đối với phát triển kinh tế tư nhân, nhận diện những thách thức chủ yếu và các giải pháp trong giai đoạn hiện nay.
2. Vai trò của nguồn lực số đối với phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay
2.1. Hình thành tư liệu sản xuất mới và mô hình tăng trưởng mới
(1) Nguồn lực số làm thay đổi cấu trúc của lực lượng sản xuất thông qua sự kết hợp giữa người lao động, tư liệu sản xuất truyền thống với dữ liệu, phần mềm, thuật toán, nền tảng và năng lực tính toán. Trong mô hình này, dữ liệu không chỉ phục vụ lưu trữ thông tin mà có thể tham gia trực tiếp vào dự báo nhu cầu, thiết kế sản phẩm, tối ưu quy trình, định giá, quản trị tồn kho, kiểm soát chất lượng và ra quyết định. Nghị quyết số 57-NQ/TW là nền tảng tạo cơ sở để doanh nghiệp chuyển từ lưu giữ dữ liệu thụ động sang khai thác dữ liệu như một nguồn lực tạo giá trị.
(2) Kết cấu hạ tầng số làm giảm giới hạn không gian và chi phí phối hợp trong tổ chức sản xuất. Năm 2025, phủ sóng 5G của Việt Nam đạt trên 90% dân số, Internet băng rộng cố định thuộc nhóm dẫn đầu thế giới về tốc độ, tạo nền tảng kết nối ngày càng thuận lợi cho hoạt động số (Thu Giang, 2025). Điện toán đám mây và phần mềm theo mô hình thuê dịch vụ giúp doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận năng lực tính toán, lưu trữ và quản trị hiện đại mà không phải đầu tư toàn bộ hệ thống ngay từ đầu. Nhờ đó, quy mô doanh nghiệp không còn quyết định tuyệt đối khả năng tiếp cận một số công nghệ quản trị hiện đại.
(3) Công nghệ và nền tảng số tạo ra các mô hình kinh doanh mới. Doanh nghiệp phát triển kênh bán hàng trực tuyến, cung cấp dịch vụ số, vận hành đa kênh, kết nối trực tiếp với khách hàng, tham gia chuỗi cung ứng dựa trên dữ liệu hoặc khai thác thị trường xuyên biên giới. Sự chuyển dịch này làm thay đổi phương thức tăng trưởng từ chỗ phụ thuộc chủ yếu vào mở rộng vốn vật chất và số lượng lao động sang kết hợp sâu hơn giữa vốn, tri thức, dữ liệu và đổi mới sáng tạo.
Diễn biến của kinh tế số cho thấy, mức độ hiện diện ngày càng lớn của các yếu tố này trong nền kinh tế.
Hình 1. Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP Việt Nam, 2020 – 2025

Nguồn: Cục Thống kê, 2026a.
Theo Cục Thống kê, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP tăng từ 12,66% năm 2020 lên 14,02% năm 2025; riêng năm 2025, đạt khoảng 72,1 tỷ USD. Đáng chú ý, tỷ trọng giá trị tăng thêm do số hóa các ngành khác tăng từ 4,75% GDP năm 2020 lên 5,01% năm 2024, phản ánh công nghệ số ngày càng thâm nhập vào các hoạt động ngoài ngành công nghệ lõi (Cục Thống kê, 2025, 2026a).
2.2. Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của khu vực kinh tế tư nhân
(1) Nguồn lực số tác động đến tăng trưởng của kinh tế tư nhân thông qua mở rộng không gian thị trường và giảm chi phí giao dịch. Nền tảng số cho phép doanh nghiệp tiếp cận khách hàng ngoài địa bàn truyền thống, rút ngắn thời gian tìm kiếm thông tin, tự động hóa một phần quy trình giao dịch, thanh toán và chăm sóc khách hàng. Mặt khác, giúp doanh nghiệp phân khúc thị trường, đo lường phản hồi và điều chỉnh sản phẩm nhanh hơn. Với doanh nghiệp nhỏ, những cơ chế này đặc biệt có ý nghĩa khi giúp bù đắp một phần bất lợi về mạng lưới phân phối và nguồn lực marketing.
(2) Thúc đẩy tăng trưởng thông qua hình thành sản phẩm, dịch vụ và ngành kinh doanh mới. Công nghiệp công nghệ số là trường hợp thể hiện rõ nhất. Năm 2024, tổng doanh thu công nghiệp công nghệ số đạt 157,984 tỷ USD, tăng 10,20% so với năm trước; đến năm 2025, đạt 198 tỷ USD, tăng 26% so với năm 2024 (Cục Thống kê, 2026b; Nguyễn Thị Phương Dung & cộng sự, 2024). Số doanh nghiệp công nghệ số đang hoạt động tăng từ 73.788 doanh nghiệp (2024) lên 80.052 doanh nghiệp (2025) (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025a, 2025b).
Hình 2. Doanh thu công nghiệp công nghệ số Việt Nam, 2024 – 2025
Đơn vị: tỷ USD.

Nguồn: Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025.
Hình 2 cho thấy, quy mô của khu vực sản xuất, cung cấp sản phẩm và dịch vụ số đang mở rộng nhanh. Đồng thời, đến hết tháng 10/2025, Việt Nam có 954 doanh nghiệp được chứng nhận doanh nghiệp khoa học, công nghệ, trong đó khu vực tư nhân chiếm 98,5% (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Chỉ báo này cho thấy, khu vực tư nhân đang tham gia mạnh vào các hoạt động R&D và đổi mới sáng tạo có hàm lượng công nghệ cao. Đồng thời, chuyển đổi số có mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Nguyễn Thị Phương Dung & cộng sự, 2024).
(3) Vai trò tăng trưởng của nguồn lực số gắn với yêu cầu nâng chất lượng của khu vực kinh tế tư nhân. Nghị quyết số 68-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 kinh tế tư nhân tăng trưởng bình quân 10 – 12%/năm, đóng góp khoảng 55 – 58% GDP và 35 – 40% tổng thu ngân sách nhà nước. Để đạt được các mục tiêu này trong điều kiện dư địa tăng trưởng dựa trên mở rộng đầu vào có giới hạn, khả năng khai thác dữ liệu, công nghệ, nền tảng và đổi mới sáng tạo có ý nghĩa ngày càng lớn.
2.3. Đóng góp vào tăng năng suất lao động khu vực kinh tế tư nhân, tạo việc làm trong những ngành quan trọng
(1) Nguồn lực số tác động đến năng suất thông qua tự động hóa các nhiệm vụ lặp lại, rút ngắn thời gian xử lý, tăng độ chính xác và hỗ trợ giám sát theo thời gian thực. Dữ liệu giúp phân bổ nguồn lực sát nhu cầu, giảm tồn kho và nâng chất lượng quyết định; nền tảng số giảm chi phí phối hợp giữa người lao động, nhà cung cấp và khách hàng. Năm 2025, năng suất lao động của nền kinh tế theo giá so sánh tăng 6,83% (Cục Thống kê, 2026), trong khi Nghị quyết số 68-NQ/TW đặt mục tiêu năng suất lao động của kinh tế tư nhân tăng bình quân khoảng 8,5 – 9,5%/năm đến năm 2030. Khoảng cách này đòi hỏi chuyển đổi số phải đi vào chiều sâu thay vì chỉ dừng ở hiện diện trên nền tảng. Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng cho thấy nguồn nhân lực, quy mô, kết quả hoạt động và năng lực tổ chức có ảnh hưởng nhất định đến mức độ chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và vừa (Nguyen & Uong, 2025; Nguyen, 2026), qua đó, khẳng định công nghệ chỉ chuyển thành năng suất khi được kết hợp với nhân lực và quản trị phù hợp.
(2) Nguồn lực số tác động đến thị trường lao động của kinh tế tư nhân theo hai chiều: tạo thêm nhu cầu nhân lực trong các ngành, nghề số; đồng thời, nâng hàm lượng kỹ năng và làm dịch chuyển cơ cấu nghề nghiệp. Sự mở rộng của công nghiệp công nghệ số phản ánh rõ xu hướng thứ nhất. Năm 2024, toàn ngành có khoảng 1,67 triệu lao động (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025a); đến tháng 10/2025, số lao động trong lĩnh vực công nghệ số đạt khoảng 1,9 triệu người (Cục Thống kê, 2026). Với tỷ lệ 98,5% doanh nghiệp khoa học, công nghệ thuộc khu vực tư nhân cho thấy, doanh nghiệp tư nhân có vai trò quan trọng trong việc tạo và hấp thụ lao động công nghệ. Các vị trí việc làm mới không chỉ tập trung ở lập trình phần mềm mà mở rộng sang dữ liệu, AI, an toàn thông tin, điện toán đám mây, thiết kế sản phẩm số, thương mại điện tử, tiếp thị số, quản trị nền tảng và logistics thông minh. Đồng thời, trong sản xuất, thương mại, tài chính, du lịch, nông nghiệp và dịch vụ, nhiều vị trí truyền thống được bổ sung yêu cầu về dữ liệu và kỹ năng số.
3. Những thách thức đặt ra trong phát triển nguồn lực số của khu vực kinh tế tư nhân
Thứ nhất, năng lực tiếp cận và hấp thụ nguồn lực số không đồng đều. Phần lớn doanh nghiệp tư nhân có quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa, hạn chế về vốn, quản trị, công nghệ, nhân lực chất lượng cao và dữ liệu (Bộ Chính trị, 2025). Vì vậy, cùng một điều kiện hạ tầng nhưng hiệu quả khai thác khác nhau đáng kể, nhiều doanh nghiệp lựa chọn giải pháp ngắn hạn, ứng dụng rời rạc và khó duy trì đầu tư số liên tục.
Thứ hai, khoảng cách giữa đầu tư công nghệ và đổi mới tổ chức còn lớn. Kết quả chương trình Digital SME của Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy, tỷ lệ sử dụng ERP giảm mạnh sau giai đoạn đào tạo và hỗ trợ ban đầu (WB, 2025). Điều này phản ánh hạn chế trong thay đổi quy trình, phân công trách nhiệm, chuẩn hóa dữ liệu, duy trì kỷ luật sử dụng hệ thống và đánh giá hiệu quả đầu tư số.
Thứ ba, dữ liệu doanh nghiệp còn phân tán, chất lượng và năng lực quản trị chưa đồng đều. Ở nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa, dữ liệu nằm rời rạc trong bảng tính, phần mềm riêng lẻ hoặc tài khoản nền tảng của bên thứ ba, làm giảm khả năng tích hợp, tái sử dụng và tích lũy tài sản số. Đồng thời, số hóa sâu làm gia tăng rủi ro mất dữ liệu, tấn công mạng và phụ thuộc nền tảng, trong khi năng lực tuân thủ và bảo vệ hệ thống còn hạn chế.
Thứ tư, nguồn nhân lực số chưa đáp ứng yêu cầu cả về chuyên môn công nghệ và năng lực quản trị. Tỷ lệ lao động có bằng, chứng chỉ của toàn nền kinh tế năm 2025 mới đạt 29,2% (Cục Thống kê, 2026); khảo sát doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ cũng cho thấy, nhân lực là một trong những yếu tố ảnh hưởng mạnh đến ý định chuyển đổi số (Nguyen & Uong, 2025). Điểm thiếu không chỉ là kỹ sư công nghệ mà còn là nhà quản trị hiểu dữ liệu và người lao động có khả năng vận hành hệ thống mới.
Thứ năm, hạn chế về vốn làm giảm khả năng đầu tư chất lượng cao cho nguồn lực số. Chuyển đổi số không phải khoản đầu tư một lần mà cần chi phí cho phần mềm, tích hợp, dữ liệu, bảo mật, thiết bị, tư vấn và đào tạo. Đối với doanh nghiệp quy mô nhỏ, nếu thiếu công cụ tài chính phù hợp, lựa chọn thường nghiêng về giải pháp ngắn hạn hoặc phụ thuộc nền tảng có sẵn, làm hạn chế khả năng xây dựng năng lực số riêng.
Thứ sáu, kết cấu hạ tầng số quốc gia phát triển nhanh nhưng khả năng tiếp cận kết cấu hạ tầng số chất lượng cao ở cấp doanh nghiệp còn khác biệt. Phủ sóng 5G đạt trên 90% dân số vào cuối năm 2025 là bước tiến quan trọng (Thu Giang, 2025), nhưng doanh nghiệp còn cần trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, khả năng tính toán AI, kết nối ổn định, dịch vụ an toàn thông tin và các nền tảng dùng chung với mức chi phí phù hợp. Đặc biệt, doanh nghiệp nhỏ ở khu vực ngoài các trung tâm lớn có thể gặp bất lợi về nhà cung cấp dịch vụ, nhân lực hỗ trợ và hệ sinh thái đổi mới.
Thứ bảy, rủi ro an toàn dữ liệu, an ninh mạng và phụ thuộc nền tảng ngày càng lớn. Doanh nghiệp càng số hóa sâu càng phụ thuộc vào tính liên tục của hệ thống và chất lượng dữ liệu. Cùng với đó thì rủi ro mất dữ liệu, tấn công mạng, tài khoản bị chiếm quyền hoặc thay đổi chính sách nền tảng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu và uy tín. Luật Dữ liệu, Luật Công nghiệp công nghệ số và Luật Chuyển đổi số tạo nền tảng pháp lý mới (Quốc hội, 2024, 2025) nhưng năng lực tuân thủ và bảo vệ hệ thống ở nhiều doanh nghiệp nhỏ vẫn cần được nâng lên.
4. Một số giải pháp
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế phân bổ, tiếp cận và khai thác nguồn lực số theo hướng minh bạch, cạnh tranh và có khả năng thực thi. Trọng tâm là triển khai đồng bộ Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 68-NQ/TW, Luật Dữ liệu năm 2024, Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 và Luật Chuyển đổi số năm 2025; làm rõ quyền, trách nhiệm và cơ chế khai thác dữ liệu; tạo điều kiện cho doanh nghiệp kết nối, chia sẻ và kinh doanh dữ liệu hợp pháp; đồng thời, phát triển cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với AI, Big data, công nghệ tài chính, chuỗi khối và mô hình kinh doanh mới.
Hai là, phát triển kết cấu hạ tầng số và các nguồn lực dùng chung để giảm chi phí gia nhập của doanh nghiệp tư nhân. Bên cạnh mở rộng băng rộng, 5G và trung tâm dữ liệu, cần tăng khả năng tiếp cận điện toán đám mây, năng lực tính toán hiệu năng cao, phòng thử nghiệm, phòng kiểm định, nền tảng số và các không gian thử nghiệm công nghệ. Giải pháp này cần cụ thể hóa bằng danh mục dịch vụ, tiêu chuẩn tiếp cận, cơ chế đặt lịch và mức phí minh bạch.
Ba là, cần triển khai quyết liệt Đề án chuyển đổi số doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026 – 2030 theo nguyên tắc phân nhóm doanh nghiệp và đo lường kết quả đầu ra để thực hiện đượcmục tiêu đến năm 2030 hỗ trợ ít nhất 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó ít nhất 300.000 doanh nghiệp được hỗ trợ ứng dụng sản phẩm, giải pháp công nghệ số, nền tảng số và AI; hình thành 200 doanh nghiệp nhỏ và vừa tiêu biểu về chuyển đổi số và phát triển mạng lưới ít nhất 500 tổ chức, cá nhân tư vấn (Thủ tướng Chính phủ, 2026a). Để tránh hỗ trợ dàn trải, các gói hỗ trợ cần dựa trên mức độ sẵn sàng, ngành, quy mô và điểm nghẽn cụ thể; kết quả được đánh giá bằng mức sử dụng thực tế, khả năng tích hợp dữ liệu, năng suất và doanh thu chứ không chỉ là số doanh nghiệp tham gia.
Bốn là, phát triển nhân lực số theo cả hai tầng: nhân lực chuyên sâu và kỹ năng số phổ cập trong doanh nghiệp. Đối với nhân lực chuyên sâu, cần tăng đào tạo STEM, AI, khoa học dữ liệu, an toàn thông tin, điện toán đám mây và quản trị sản phẩm số; đồng thời có cơ chế thu hút chuyên gia và kết nối doanh nghiệp với cơ sở đào tạo. Đối với phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa, trọng tâm là năng lực của chủ doanh nghiệp và người quản lý trong xây dựng chiến lược số, lựa chọn giải pháp, tổ chức dữ liệu, đo lường hiệu quả đầu tư và quản trị thay đổi. Chương trình đào tạo 10.000 giám đốc điều hành theo Nghị quyết số 68-NQ/TW cần tích hợp nội dung quản trị số và dữ liệu (Bộ Chính trị, 2025).
Năm là, đa dạng hóa nguồn tài chính cho đầu tư số và gắn hỗ trợ tài chính với hiệu quả sử dụng. Nghị quyết số 68-NQ/TW định hướng ưu tiên một phần tín dụng thương mại cho doanh nghiệp tư nhân đầu tư công nghệ mới, chuyển đổi số; cho phép doanh nghiệp trích tối đa 20% thu nhập tính thuế để lập quỹ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và R&D (Bộ Chính trị, 2025). Trên cơ sở đó, có thể phát triển các công cụ như tín dụng ưu đãi có điều kiện, đồng tài trợ, phiếu hỗ trợ chuyển đổi số hoặc khấu trừ chi phí, nhưng cần gắn với kế hoạch chuyển đổi, chỉ tiêu đầu ra và cơ chế kiểm tra sau hỗ trợ.
Sáu là, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp công nghệ số, doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa trong các chuỗi giá trị. Doanh nghiệp công nghệ số có thể cung cấp nền tảng, tư vấn, giải pháp và dịch vụ phù hợp đặc thù Việt Nam; doanh nghiệp lớn có thể chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, dữ liệu và đào tạo nhà cung cấp và coi chuyển giao công nghệ, hỗ trợ thử nghiệm sản phẩm, hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo của doanh nghiệp lớn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong chuỗi là tiêu chí quan trọng để hưởng chính sách ưu đãi (Bộ Chính trị, 2025). Cơ chế này cần được triển khai theo ngành, ưu tiên chế biến, chế tạo, nông nghiệp, logistics, thương mại và các lĩnh vực có khả năng tạo lan tỏa năng suất.
Bảy là, củng cố năng lực quản trị dữ liệu, an toàn thông tin và giảm phụ thuộc nền tảng. Doanh nghiệp cần xác định dữ liệu là tài sản cốt lõi, chuẩn hóa dữ liệu ngay từ khâu vận hành, phân quyền truy cập, sao lưu, xác thực và xây dựng phương án ứng phó sự cố. Đồng thời, các hệ thống cần ưu tiên khả năng liên thông và xuất dữ liệu để tránh tình trạng bị khóa trong một nhà cung cấp. Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nên bổ sung dịch vụ đánh giá an toàn dữ liệu, tư vấn kiến trúc hệ thống và bộ tiêu chuẩn tối thiểu phù hợp quy mô doanh nghiệp.
5. Kết luận
Nguồn lực số đang trở thành yếu tố ngày càng quan trọng trong mô hình phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam. Thực tiễn cho thấy, quy mô hoạt động số của Việt Nam đang tăng nhanh; đồng thời, sự hiện diện rất lớn của khu vực tư nhân trong nhóm doanh nghiệp khoa học,công nghệ cho thấy, tiềm năng trở thành lực lượng quan trọng trong đổi mới sáng tạo. Trong giai đoạn tới, trọng tâm cần chuyển từ khuyến khích sử dụng công nghệ sang xây dựng năng lực số toàn diện của doanh nghiệp. Triển khai đồng bộ thể chế dữ liệu và công nghệ số, kết cấu hạ tầng dùng chung, đặc biệt hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo mức độ sẵn sàng, phát triển nhân lực, đa dạng hóa tài chính, tăng liên kết doanh nghiệp và củng cố an toàn dữ liệu sẽ quyết định khả năng chuyển nguồn lực số thành năng suất và năng lực cạnh tranh. Đây cũng là điều kiện quan trọng để kinh tế tư nhân thực hiện mục tiêu trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia và là lực lượng tiên phong trong khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đến năm 2030.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025a). Diễn đàn quốc gia phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam lần thứ VI. https://mst.gov.vn/thong-cao-bao-chi-dien-dan-quoc-gia-phat-trien-doanh-nghiep-cong-nghe-so-viet-nam-lan-thu-vi-197250115082839241.htm
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025b). Khối Tham mưu; công nghiệp công nghệ số; thông tin, tuyên truyền: Phải đi đầu làm gương, dẫn dắt đổi mới để tạo lan tỏa trong toàn Bộ KH&CN. https://mst.gov.vn/khoi-tham-muu-cong-nghiep-cong-nghe-so-thong-tin-tuyen-truyen-phai-di-dau-lam-guong-dan-dat-doi-moi-de-tao-lan-toa-trong-toan-bo-khcn-197251221150557731.htm
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025c). Thực hiện Nghị quyết 57: Doanh nghiệp công nghệ số, hạ tầng 5G tăng tốc. https://mst.gov.vn/thuc-hien-nghi-quyet-57-doanh-nghiep-cong-nghe-so-ha-tang-5g-tang-toc-197251119102926456.htm
Cục Thống kê (2025). Thông cáo báo chí kết quả biên soạn chỉ tiêu tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP, GRDP giai đoạn 2020-2024. https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2025/01/thong-cao-bao-chi-ket-qua-bien-soan-chi-tieu-ty-trong-gia-tri-tang-them-cua-kinh-te-so-trong-gdp-grdp-giai-doan-2020-2024/
Cục Thống kê (2026a). Thông cáo báo chí tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP, GRDP giai đoạn 2021-2025. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ty-trong-gia-tri-tang-them-cua-kinh-te-so-trong-gdp-grdp-giai-doan-2021-2025/
Cục Thống kê (2026b). Thông cáo báo chí tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2025. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2025/
Nguyễn Thị Phương Dung, Nguyễn Hiếu Khương, Nguyễn Phú Son, Nguyễn Trọng Tính, Võ Văn Đãng & Nguyễn Trúc Huỳnh (2024). Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh châu Á, 35(5), tr. 71-85, DOI: 10.24311/jabes/2024.35.5.7, https://jabes.ueh.edu.vn/Home/SearchArticle?article_Id=f7299a06-edbe-43c1-8323-e42d786bfc2e
Nguyen, N. D. & Uong, L. N. T. (2025). Identifying factors affecting digital transformation intention in micro and small-sized enterprises: Empirical evidence from Vietnam. Cogent Business & Management, 12(1), Article 2557970, https://doi.org/10.1080/23311975.2025.2557970
Nguyen, Q. N. (2026). Determinants of digital transformation in Vietnamese Small and Medium-sized Enterprises (SMEs): Evidence from the World Bank enterprise survey, Ho Chi Minh City Open University Journal of Science – Economics and Business Administration, 16(7), https://journalofscience.ou.edu.vn/index.php/econ-en/article/view/4471/0
Lê Thị Minh Phượng (2026). Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực số tại khu vực kinh tế phía Bắc trong bối cảnh chuyển đổi số. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/08/28/nang-cao-chat-luong-nguon-nhan-luc-so-tai-khu-vuc-kinh-te-phia-bac-trong-boi-canh-chuyen-doi-so/
Quốc hội (2024). Luật Dữ liệu năm 2024.
Quốc hội (2025). Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025.
Quốc hội (2025). Luật Chuyển đổi số năm 2025.
Thu Giang (2025). Ngành khoa học công nghệ đóng góp 1,4 triệu tỷ đồng cho GDP năm 2025. Báo Chính phủ. https://baochinhphu.vn/nganh-khoa-hoc-cong-nghe-dong-gop-14-trieu-ty-dong-cho-gdp-nam-2025-102251226162015134.htm
Thủ tướng Chính phủ (2026a). Quyết định số 433/QĐ-TTg ngày 16/3/2026 phê duyệt Đề án chuyển đổi số các doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026 – 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2026b). Quyết định số 1033/QĐ-TTg ngày 09/6/2026 phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026 – 2030.
World Bank (2025). Challenges with digital technology adoption by SMEs: A case study from Viet Nam. https://blogs.worldbank.org/en/allaboutfinance/challenges-with-digital-technology-adoption-by-smes–a-case-stud



