Nhận diện mô hình chính sách quản trị quốc gia về kinh tế bạc trong bối cảnh già hóa dân số

National governance models for the silver economy in the context of population aging: a policy perspective

Đỗ Thị Kim Tiên
Học viện Hành chính và Quản trị công
Email: tiendtk@apag.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Già hóa dân số không chỉ làm gia tăng nhu cầu chăm sóc mà còn tái cấu trúc tổng cầu, cung lao động và phân bổ nguồn lực, qua đó mở ra một không gian phát triển mới: kinh tế bạc. Tuy nhiên, già hóa không tự động tạo ra thị trường, việc làm, đầu tư hay đổi mới. Giá trị kinh tế của quá trình này phụ thuộc vào năng lực hiện thực hóa những thay đổi về nhu cầu, nguồn lực và sự tham gia kinh tế của dân số già thành thị, cũng như giá trị xã hội. Nghiên cứu về nhận diện mô hình chính sách quản trị quốc gia về kinh tế bạc trong bối cảnh già hóa dân số ở Việt Nam nhằm kiến tạo hệ thống chính sách quản trị hệ sinh thái, gồm các cấu phần liên kết: định hướng chiến lược; thể chế kiến tạo; thị trường; doanh nghiệp, lao động và đổi mới; hệ sinh thái chăm sóc và phát huy nguồn lực người cao tuổi; dữ liệu, công nghệ và hạ tầng thân thiện với người cao tuổi; sự tham gia của người cao tuổi; thực thi, giám sát, đánh giá và học hỏi. Trọng tâm của mô hình là chuyển từ ứng phó với hệ quả của già hóa sang quản trị quá trình chuyển đổi kinh tế – xã hội do già hóa tạo ra, trong đó người cao tuổi vừa là đối tượng được bảo đảm quyền và phúc lợi, vừa là chủ thể tiêu dùng, tham gia và tạo ra giá trị.

Từ khóa: Già hóa dân số; Kinh tế bạc; chính sách công; quản trị quốc gia; hệ sinh thái kinh tế bạc; mô hình chính sách quản trị quốc gia về kinh tế bạc.

Abstract: Population aging not only increases the demand for care but also reshapes aggregate demand, the labor supply, and the allocation of resources, thereby opening a new avenue for development: the silver economy. However, aging does not automatically create markets, jobs, investment, or innovation. The economic value of this process depends on the ability to translate changes in demand, resources, and the economic participation of the urban elderly population into tangible outcomes, as well as on social value. This study aims to identify a national governance policy model for the Silver Economy in the context of Vietnam’s aging population and to establish a governance policy system for the ecosystem, comprising interconnected components: strategic direction; enabling institutions; markets; businesses, labor, and innovation; an ecosystem for caring for and harnessing the resources of older adults; data, technology, and older-adult-friendly infrastructure; the participation of older adults; and implementation, monitoring, evaluation, and learning. The model’s focus is on shifting from responding to the consequences of population aging to managing the socioeconomic transformation driven by aging, in which older adults are both beneficiaries of guaranteed rights and welfare and active consumers, participants, and creators of value.

Keywords: Population aging; Silver economy; public policy; national governance; silver economy ecosystem; national governance policy model for the silver economy

1. Đặt vấn đề

Trong mọi giai đoạn phát triển, người cao tuổi luôn là một bộ phận quan trọng của đời sống kinh tế – xã hội, với những đóng góp về lao động, tri thức, kinh nghiệm, tài sản và vốn xã hội. Tuy nhiên, khi quy mô và tỷ trọng dân số cao tuổi gia tăng, những thay đổi về nhu cầu tiêu dùng, khả năng cung ứng lao động và các nguồn lực của nhóm dân cư này bắt đầu tác động đáng kể đến tổng cầu, tổng cung, thị trường lao động và việc phân bổ nguồn lực. Già hóa dân số, vì vậy, không còn chỉ là một hiện tượng nhân khẩu học mà đã trở thành một yếu tố có ảnh hưởng ngày càng rõ đến quá trình phát triển, đặt ra yêu cầu điều chỉnh thể chế và phương thức huy động, phân bổ nguồn lực xã hội.

Về kinh tế, già hóa làm gia tăng và đa dạng hóa nhu cầu đối với y tế, chăm sóc dài hạn, bảo hiểm, tài chính, nhà ở, giao thông, du lịch, công nghệ và các dịch vụ phù hợp với độ tuổi. Đồng thời, người cao tuổi vẫn có thể tham gia cung ứng cho thị trường lao động, tri thức, kinh nghiệm, vốn, tài sản và các hoạt động chăm sóc gia đình, cộng đồng. Những thay đổi đó tạo ra cả nhu cầu thị trường mới và nguồn lực kinh tế mới. Tuy nhiên, sự gia tăng về quy mô dân số cao tuổi không tự động hình thành kinh tế bạc. Việc biến nhu cầu và nguồn lực đó thành các hoạt động sản xuất, tiêu dùng, việc làm, đầu tư, đổi mới sáng tạo và tạo giá trị phụ thuộc đáng kể vào cấu trúc thị trường, năng lực doanh nghiệp và chất lượng thể chế.

Theo cách tiếp cận kinh tế học thể chế, các thể chế phù hợp có vai trò xác lập quyền, nghĩa vụ, tiêu chuẩn và cơ chế phối hợp; giảm chi phí giao dịch, khắc phục thất bại thị trường và tạo động lực cho các chủ thể đầu tư, đổi mới và cung ứng sản phẩm, dịch vụ phù hợp. Do đó, kinh tế bạc không phải là nền kinh tế dành riêng cho người cao tuổi và cũng không phải là hệ quả tự nhiên của quá trình già hóa dân số. Có thể hiểu, kinh tế bạc là quá trình trong đó những thay đổi về nhu cầu, nguồn lực và mức độ tham gia kinh tế của dân số cao tuổi được thị trường và thể chế kinh tế – xã hội tổ chức, điều phối và hiện thực hóa thành các hoạt động kinh tế và các hình thức tạo ra giá trị mới. Quy mô và mức độ phát triển của kinh tế bạc, vì vậy, phụ thuộc không chỉ vào quy mô dân số cao tuổi mà còn vào khả năng phát triển thị trường, đổi mới của doanh nghiệp, chất lượng thể chế và năng lực điều phối nguồn lực của Nhà nước.

Tại Việt Nam, chính sách đối với người cao tuổi và thích ứng với già hóa dân số từng bước được hoàn thiện thông qua Luật Người cao tuổi năm 2009, Quyết định số 1579/QĐ-TTg ngày 13/10/2020 của Thủ tướng Chính phủ được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 1116/QĐ-TTg ngày 22/6/2026, Quyết định số 383/QĐ-TTg ngày 21/02/2025 về Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Hệ thống chính sách này cho thấy sự chuyển dịch từ cách tiếp cận chủ yếu về chăm sóc, bảo trợ sang chủ động thích ứng với già hóa, bảo đảm an sinh và phát huy nguồn lực, sự tham gia của người cao tuổi, qua đó tạo ra những tiền đề thể chế ban đầu cho kinh tế bạc. Tuy nhiên, năng lực đáp ứng của thị trường vẫn chưa tương xứng với nhu cầu và tiềm năng kinh tế của người cao tuổi; sản phẩm, dịch vụ chuyên biệt còn hạn chế; thị trường lao động của người cao tuổi chưa phát triển, trong khi nghề chăm sóc người cao tuổi chưa được chuẩn hóa đầy đủ.

Đáng chú ý, các chính sách hiện hành còn phân tán theo ngành và lĩnh vực, chưa hình thành một kiến trúc chính sách đủ khả năng kết nối và điều phối thống nhất các nguồn lực công, tư và xã hội. Đây là khoảng trống quan trọng giữa việc thích ứng với quá trình già hóa và việc khai thác các cơ hội phát triển từ quá trình này. Vấn đề đặt ra ở đây là, không thể chỉ dừng lại ở việc hoàn thiện từng chính sách ngành, lĩnh vực, yêu cầu về việc hình thành một mô hình quản trị quốc gia có khả năng tích hợp thể chế, thị trường, doanh nghiệp, công nghệ, dữ liệu và các nguồn lực xã hội, qua đó tạo điều kiện để kinh tế bạc phát triển như một bộ phận của nền kinh tế là cần thiết.

Bài viết tập trung làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và tiền đề chính trị – pháp lý của Kinh tế bạc ở Việt Nam; nhận diện khoảng trống giữa chính sách hiện hành và yêu cầu về một hệ thống chính sách tích hợp; đồng thời bước đầu đề xuất mô hình quản trị theo hướng Nhà nước – thị trường – xã hội cùng tham gia, điều phối liên ngành, dựa trên dữ liệu và bằng chứng, quản trị theo kết quả và giá trị công, trong đó người cao tuổi không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể kinh tế và đồng kiến tạo giá trị.

2. Quản trị quốc gia về kinh tế bạc

2.1. Bản chất của kinh tế bạc

Kinh tế bạc không phải là một ngành kinh tế độc lập mà là một không gian kinh tế liên ngành hình thành dưới tác động của biến đổi nhân khẩu học, trong đó sự gia tăng về quy mô và tỷ trọng dân số cao tuổi làm thay đổi nhu cầu, sức mua, cung lao động, tài sản, tri thức và các nguồn lực kinh tế, từ đó tạo ra hoặc mở rộng các thị trường, sản phẩm, dịch vụ, việc làm, đầu tư và mô hình kinh doanh mới. Bản chất của kinh tế bạc nằm ở việc các biến đổi nhân khẩu học được thị trường, doanh nghiệp, công nghệ và thể chế định hình, qua đó tạo ra các hoạt động tạo ra giá trị.

Người cao tuổi đồng thời có thể là người tiêu dùng, người lao động, nhà sản xuất, nhà đầu tư, chủ sở hữu tài sản và người cung cấp tri thức, kinh nghiệm hoặc dịch vụ chăm sóc. Vì vậy, khác với cách tiếp cận coi người cao tuổi chủ yếu như đối tượng của chính sách an sinh, kinh tế bạc được tiếp cận từ cả phía cầu và phía cung. Già hóa dân số tạo ra điều kiện hình thành kinh tế bạc, nhưng không quyết định quy mô hay giá trị kinh tế của nó. Những kết quả này phụ thuộc vào thu nhập, tài sản, sức khỏe, tuổi thọ khỏe mạnh, khả năng tham gia kinh tế của người cao tuổi, cùng với mức độ phát triển của thị trường và chất lượng thể chế. Kinh tế bạc có một số đặc trưng cơ bản. (1) Tính nhân khẩu học, bởi già hóa là điều kiện nền tảng làm thay đổi cấu trúc cầu và cung lao động, cũng như phân bổ nguồn lực. (2) Tính liên ngành, bởi kinh tế bạc liên kết nhiều lĩnh vực như dân số, lao động, tài chính, bảo hiểm, y tế, chăm sóc dài hạn, nhà ở, giao thông, du lịch, văn hóa, giáo dục, công nghệ và doanh nghiệp. (3) Tính hai chiều của quan hệ kinh tế là khi người cao tuổi vừa tạo ra cầu tiêu dùng vừa có khả năng cung ứng lao động, tri thức, vốn, tài sản và tham gia vào hoạt động kinh doanh. (4) Tính dị biệt là do nhu cầu và năng lực kinh tế của người cao tuổi khác nhau theo tuổi, sức khỏe, thu nhập, tài sản, trình độ, điều kiện sống và khả năng tiếp cận công nghệ; do đó, đây không phải là một phân khúc thị trường đồng nhất.

Kinh tế bạc, vì vậy, không đồng nghĩa với thị trường dành cho người cao tuổi. Già hóa chỉ tạo ra tiềm năng, nhưng khả năng hiện thực hóa tiềm năng đó phụ thuộc vào cơ chế thị trường, năng lực đổi mới của doanh nghiệp và chất lượng thể chế. Thị trường có thể phân bổ nguồn lực hiệu quả đối với nhiều loại hàng hóa, dịch vụ, nhưng không tự giải quyết đầy đủ các vấn đề về bất cân xứng thông tin, ngoại tác, rủi ro dài hạn và bất bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ thiết yếu. Do đó, kinh tế bạc vừa có bản chất thị trường, vừa chứa đựng chiều cạnh phúc lợi và giá trị công, đòi hỏi Nhà nước thực hiện đồng thời các chức năng kiến tạo thể chế, điều tiết, bảo đảm và điều phối. Công nghệ và đổi mới sáng tạo càng mở rộng khả năng này thông qua y tế số, công nghệ hỗ trợ, AI, robot, chăm sóc thông minh và nhà ở thích ứng, đồng thời tạo ra các thị trường và mô hình kinh doanh mới.

Về nội dung, kinh tế bạc có thể được nhận diện qua 4 cấu phần có quan hệ chặt chẽ, bổ trợ lẫn nhau.

Thứ nhất, thị trường và nhu cầu của người cao tuổi, bao gồm y tế, chăm sóc dài hạn, dinh dưỡng, thiết bị hỗ trợ, tài chính, bảo hiểm, nhà ở, giao thông, du lịch, văn hóa, giải trí, giáo dục và các dịch vụ hỗ trợ cho cuộc sống độc lập. Nhu cầu không chỉ tăng về quy mô mà còn chuyển dịch về chất lượng, trải nghiệm và mức độ tham gia vào xã hội.

Thứ hai, hệ sinh thái sản xuất và cung ứng, bao gồm doanh nghiệp, cơ sở y tế, chăm sóc, tổ chức xã hội, khu vực công, nguồn nhân lực, tài chính, công nghệ, hạ tầng và các tiêu chuẩn chất lượng, trọng tâm là sản phẩm riêng lẻ và chuỗi giá trị, hệ sinh thái cung ứng có khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng.

Thứ ba, sự tham gia kinh tế của người cao tuổi, thông qua việc làm linh hoạt, tư vấn, truyền nghề, sản xuất, kinh doanh, khởi nghiệp, đầu tư và chuyển giao tri thức, qua đó duy trì và phát huy vốn con người, kinh nghiệm, tài sản và vốn xã hội.

Thứ tư, đổi mới sáng tạo và công nghệ cho xã hội già hóa, bao gồm công nghệ y tế, AI, thiết bị trợ giúp, chăm sóc số, robot và nhà ở thông minh, góp phần nâng cao năng suất chăm sóc, khả năng sống độc lập và mở rộng các thị trường mới. Bốn nội dung trên vận động trong một chu trình kinh tế liên kết giữa nhu cầu và sức mua của người cao tuổi tạo tín hiệu thị trường; tín hiệu thị trường thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư và đổi mới; đổi mới nâng cao năng lực cung ứng, tạo việc làm, thu nhập và chất lượng dịch vụ; sự gia tăng tham gia kinh tế của người cao tuổi lại bổ sung lao động, tri thức, vốn và sức mua cho nền kinh tế. Theo cách đó, già hóa tạo điều kiện, nhu cầu và nguồn lực tạo động lực; thị trường, doanh nghiệp và đổi mới sáng tạo tạo cơ chế vận hành; còn việc làm, giá trị gia tăng, năng suất, chất lượng sống và phát triển bao trùm là những kết quả chủ yếu.

Do kinh tế bạc vận hành theo logic liên ngành và hệ sinh thái, quản trị quốc gia không phải là sự cộng gộp cơ học của các chính sách ngành. Yêu cầu cốt lõi là tích hợp mục tiêu, thể chế, nguồn lực và cơ chế phối hợp giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, chuyển từ quản lý phân ngành sang quản trị tích hợp hệ sinh thái kinh tế bạc.

2.2. Nội dung quản trị quốc gia về kinh tế bạc

Nhận thức đúng vị trí, vai trò của kinh tế bạc, thay vì tập trung vào đáp ứng tốt hơn các nhu cầu ngày càng tăng của người cao tuổi, nhiều quốc gia đã xác định mục tiêu quản trị hướng tới một nền kinh tế thích ứng với sự thay đổi nhân khẩu học và làm cho các nhu cầu, nguồn lực và khả năng tham gia của dân số cao tuổi trở thành giá trị phát triển. Với tính liên ngành, liên cấp và đa chủ thể, để đạt được mục tiêu phát triển, các định hướng và cơ chế tác động của Nhà nước đòi hỏi sự thống nhất trong định hướng, phân công trách nhiệm rõ ràng, phối hợp nguồn lực và hành động giữa Nhà nước, thị trường, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, gia đình và người cao tuổi. Bên cạnh đó, sự tham gia quản trị của nhiều chủ thể xã hội sẽ thúc đẩy khả năng huy động các nguồn lực, trong sự điều phối của chủ thể trung tâm là Nhà nước.

Về bản chất, quản trị quốc gia về kinh tế bạc là quá trình Nhà nước định hướng, kiến tạo thể chế và điều phối các chủ thể nhằm tạo lập những điều kiện cần thiết để nền kinh tế thích ứng với già hóa dân số, phát triển các thị trường và hệ sinh thái phục vụ xã hội già hóa, đồng thời phát huy các nguồn lực kinh tế của người cao tuổi. Khác với phương thức quản lý theo từng lĩnh vực, quản trị quốc gia nhìn nhận kinh tế như một hệ thống có các mối quan hệ tương tác giữa dân số, thị trường, lao động, tài chính, y tế, an sinh, công nghệ, doanh nghiệp và đời sống xã hội. Do đó, đối tượng quản trị là các quan hệ và điều kiện tạo điều kiện cho toàn bộ hệ sinh thái kinh tế bạc vận hành hiệu quả, công bằng và bền vững.

Trong quản trị quốc gia, vai trò của Nhà nước không nhất thiết phải trực tiếp cung ứng toàn bộ hàng hóa, dịch vụ cho người cao tuổi. Nhà nước sẽ kiến tạo môi trường thể chế, định hướng phát triển, khắc phục những thất bại của thị trường, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người cao tuổi, tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư và đổi mới, đồng thời điều phối các nguồn lực và các chính sách liên quan. Thị trường giữ vai trò quan trọng trong việc phát hiện nhu cầu, phân bổ nguồn lực, thúc đẩy cạnh tranh và đổi mới. Các doanh nghiệp chuyển hóa nhu cầu thành sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh; các tổ chức xã hội và cộng đồng bổ sung năng lực cung ứng và kết nối; người cao tuổi vừa là đối tượng thụ hưởng, vừa là chủ thể của quá trình phát triển.

Như vậy, quản trị quốc gia về kinh tế bạc được thực hiện thông qua quá trình tổ chức phối hợp giữa các chủ thể để tạo ra kết quả phát triển mà một chủ thể riêng lẻ không thể tự tạo ra. Điều này cần sự dẫn dắt, định hướng từ chủ thể trung tâm, đóng vai trò quan trọng, là Nhà nước. Nếu kinh tế bạc là một không gian kinh tế hình thành từ quá trình già hóa thì chính sách quản trị quốc gia về kinh tế bạc là định hướng tích hợp nhằm tạo lập và điều chỉnh các điều kiện thể chế, kinh tế – xã hội và công nghệ, qua đó thúc đẩy sự hình thành và phát triển của hệ sinh thái kinh tế bạc trên phạm vi quốc gia. Chính sách này không chỉ giải quyết những vấn đề trước mắt của người cao tuổi mà còn hướng tới việc thay đổi cách nền kinh tế và xã hội ứng xử với quá trình già hóa.

Chính sách quản trị quốc gia về kinh tế bạc thực chất là chính sách phát triển, bởi đối tượng cuối cùng mà chính sách hướng tới không chỉ là phúc lợi của một nhóm dân cư mà còn là năng lực thích ứng và phát triển của toàn bộ nền kinh tế trong điều kiện dân số già hóa. Chính sách phải đồng thời tạo ra cầu có khả năng thanh toán, cung có chất lượng, môi trường kinh doanh thuận lợi, nguồn nhân lực phù hợp, khả năng tham gia kinh tế của người cao tuổi và năng lực đổi mới sáng tạo. Mặt khác, vì kinh tế bạc chứa đựng những vấn đề mà thị trường không thể tự giải quyết đầy đủ, chính sách còn phải bảo đảm khả năng tiếp cận của các nhóm người cao tuổi có thu nhập thấp, sức khỏe yếu hoặc dễ bị tổn thương. Do đó, hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội không phải là hai mục tiêu tách rời mà là hai phương diện cần được kết hợp trong thiết kế chính sách.

Vì vậy, nội dung của chính sách quản trị quốc gia về kinh tế bạc sẽ bao gồm định hướng chiến lược và mục tiêu quốc gia, xác định rằng già hóa dân số không chỉ là vấn đề cần ứng phó mà còn là một động lực và không gian phát triển mới. Trên cơ sở đó, cần hoàn thiện thể chế và môi trường chính sách, tạo điều kiện cho các chủ thể đầu tư, kinh doanh, đổi mới và cung ứng dịch vụ cho xã hội già hóa; đồng thời bảo đảm các quyền, tiêu chuẩn và lợi ích công cộng liên quan đến người cao tuổi.

Chính sách cũng phải tạo lập cơ chế phát triển thị trường và hệ sinh thái cung ứng, kết nối doanh nghiệp, tài chính, khoa học – công nghệ, y tế, chăm sóc, giáo dục, nhà ở, giao thông và các dịch vụ liên quan. Một nội dung quan trọng khác là phát huy nguồn lực và sự tham gia kinh tế của người cao tuổi, bao gồm việc làm phù hợp, việc làm linh hoạt, khởi nghiệp, kinh doanh, đầu tư, chuyển giao tri thức và kinh nghiệm. Cùng với đó là thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo ra các sản phẩm, dịch vụ và công nghệ giúp người cao tuổi sống khỏe mạnh, độc lập và tiếp tục tham gia vào xã hội. Cuối cùng là thiết lập cơ chế phối hợp, phân bổ nguồn lực, giám sát và đánh giá kết quả, bảo đảm các chính sách không bị phân mảnh theo ngành và cấp quản lý.

3. Thực trạng chính sách quản trị quốc gia về kinh tế bạc  ở Việt Nam

Kinh tế bạc ở Việt Nam chưa hình thành như một hệ sinh thái kinh tế hoàn chỉnh, nhưng đã xuất hiện những điều kiện thị trường, hoạt động cung ứng và các cấu phần thể chế ban đầu gắn với quá trình già hóa dân số. Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa từ năm 2011; năm 2024 có khoảng 14,2 triệu người từ 60 tuổi trở lên, nhóm 65 tuổi trở lên chiếm 9,3% dân số và chỉ số già hóa đạt 60,2%. Theo dự báo, đến năm 2030, số người từ 60 tuổi trở lên dự kiến khoảng 18 triệu người. Quy mô và tốc độ già hóa tạo ra nhu cầu ngày càng lớn đối với chăm sóc sức khỏe, chăm sóc dài hạn, phục hồi chức năng, dinh dưỡng, nhà ở thích ứng, tài chính – bảo hiểm, du lịch và công nghệ hỗ trợ. Tuy nhiên, quy mô dân số cao tuổi lớn mới tạo nền tảng cho cầu, nhưng chưa đủ để khẳng định một thị trường kinh tế bạc đã hình thành.

Cần xem xét khả năng chuyển biến các nhu cầu thành cầu thực sự có khả năng thanh toán, sự xuất hiện của các chủ thể cung ứng chuyên biệt, các sản phẩm – dịch vụ đặc thù và các thiết chế kết nối thị trường. Theo tiêu chí này, ở Việt Nam đã xuất hiện một số mầm non của thị trường. Khoảng 300 cơ sở chăm sóc người cao tuổi cho thấy cung ứng dịch vụ chuyên nghiệp đã bắt đầu hình thành; khoảng 9 triệu người cao tuổi tham gia lao động, trong đó khoảng 400.000 người là chủ doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh, cho thấy người cao tuổi đồng thời là nguồn cung lao động, tri thức, kinh nghiệm và hoạt động sản xuất – kinh doanh.

Một số thiết chế mới cũng bắt đầu xuất hiện, như dịch vụ việc làm chuyên biệt dành cho người cao tuổi tại Hà Nội. Trong lĩnh vực tài chính – bảo hiểm, các sản phẩm hưu trí, sức khỏe và trả tiền định kỳ đã tồn tại, nhưng quy mô vẫn còn hạn chế. Vì vậy, vào năm 2026, có thể nhận định kinh tế bạc Việt Nam đang ở giai đoạn hình thành thị trường, với một số mầm non thị trường đã xuất hiện nhưng chưa liên kết thành một hệ sinh thái. Khoảng trống lớn nhất nằm giữa quy mô nhu cầu nhân khẩu học và năng lực cung ứng, giữa các thị trường thành phần và cơ chế liên kết chúng, cũng như giữa các chính sách người cao tuổi hiện hành và một kiến trúc quản trị quốc gia dành riêng cho kinh tế bạc.

Chính sách của Việt Nam liên quan đến kinh tế bạc hiện có tính bao phủ tương đối rộng; tuy nhiên, mức độ tích hợp vẫn còn thấp. Việt Nam đã hình thành chính sách về quyền và việc phát huy vai trò của người cao tuổi, an sinh xã hội, bảo hiểm, chăm sóc sức khỏe, việc làm và trợ giúp xã hội. Thực tế, phần lớn các chính sách này được xây dựng theo logic quản lý ngành và giải quyết từng vấn đề, chưa được kết nối trong một kiến trúc chính sách thống nhất nhằm phát triển kinh tế bạc như một hệ sinh thái kinh tế – xã hội. Điều này được phản ánh trên các phương diện cụ thể.

(1) Về định hướng chiến lược, đã chuyển dần từ việc tiếp cận người cao tuổi chủ yếu như một đối tượng cần được chăm sóc sang việc xem họ là một nguồn lực cần được phát huy. Luật Người cao tuổi năm 2009, Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2021-2030 và Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn 2045 đã tạo nền tảng cho định hướng này. Đặc biệt, Chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2030 ít nhất 50% người cao tuổi có nhu cầu và khả năng lao động có việc làm. Tuy nhiên, mục tiêu phát triển kinh tế bạc với tư cách là động lực tăng trưởng và một hệ sinh thái thị trường chưa được xác lập đầy đủ trong các chiến lược hiện hành. Việc năm 2026 các cơ quan trung ương mới bắt đầu rà soát, xây dựng và tích hợp chính sách phát triển kinh tế bạc phản ánh rõ đây vẫn là một quá trình đang hình thành.

(2) Về thể chế, có nhiều chính sách, pháp luật, quy định về người cao tuổi đã được ban hành và nhiều lần hoàn thiện, như vấn đề về quyền, chăm sóc, trợ giúp xã hội, bảo hiểm và việc làm,… Cụ thể, pháp luật về người cao tuổi đã tạo cơ sở cho chăm sóc, cung ứng dịch vụ và phát huy vai trò người cao tuổi. Chính sách bảo hiểm xã hội và trợ cấp hưu trí xã hội từng bước tạo nền tảng bảo đảm thu nhập khi về già. Luật pháp lao động cũng thừa nhận khả năng tiếp tục làm việc của người cao tuổi. Tuy nhiên, các chính sách này vẫn chủ yếu được thiết kế và thực hiện theo từng lĩnh vực, từng ngành, chưa theo logic của một hệ sinh thái kinh tế bao gồm an sinh, việc làm, chăm sóc, tiêu dùng, doanh nghiệp và đầu tư, đổi mới sáng tạo. Do đó, các quy định hiện có chưa tạo thành một môi trường thể chế đủ thuận lợi để hình thành và mở rộng thị trường, thu hút đầu tư và thúc đẩy đổi mới sáng tạo phục vụ xã hội già hóa.

(3) Về phát triển thị trường, mặc dù đã tạo lập một số thị trường thành phần, nhất là y tế, chăm sóc, trợ giúp xã hội, bảo hiểm và việc làm, tuy nhiên, các chính sách vẫn thiên về bảo đảm cung ứng dịch vụ và phúc lợi hơn là tổ chức quan hệ cung – cầu của kinh tế bạc. Chưa có đầy đủ các chính sách thúc đẩy phân khúc thị trường, phát triển sản phẩm chuyên biệt, hình thành chuỗi giá trị và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực mới như chăm sóc dài hạn, công nghệ phục vụ người cao tuổi, nhà ở thích ứng, du lịch và dịch vụ tài chính dành cho tuổi già. Do đó, các thị trường thành phần đã xuất hiện nhưng chưa được kết nối thành một cấu trúc thị trường kinh tế bạc.

(4) Về việc phát huy người cao tuổi như một chủ thể kinh tế, Việt Nam đã có bước chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu về chăm sóc, an sinh sang việc tạo điều kiện để người cao tuổi tiếp tục lao động và phát huy kinh nghiệm. Luật Người cao tuổi ghi nhận quyền được tạo điều kiện làm việc phù hợp với sức khỏe, nghề nghiệp và điều kiện của người cao tuổi; Bộ luật Lao động năm 2019 cũng cho phép người lao động cao tuổi được rút ngắn thời giờ làm việc hoặc áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian. Tuy nhiên, các quy định này mới tạo cơ sở pháp lý cho quyền làm việc, chưa hình thành đầy đủ cơ chế phát triển thị trường việc làm cho người cao tuổi với các hình thức việc làm theo giờ, bán thời gian, tư vấn, cố vấn, truyền nghề và kết nối cung – cầu phù hợp với năng lực của người cao tuổi.

Thực tiễn thành phố Hà Nội năm 2026 cho thấy, thành phố đã chủ động tổ chức Ngày hội tư vấn, giới thiệu việc làm dành riêng cho người cao tuổi, huy động 30-50 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và kết nối việc làm, học nghề, vốn tạo việc làm; đồng thời xây dựng chuyên trang việc làm riêng cho người cao tuổi trên Cổng thông tin việc làm Thành phố. Đây là một tín hiệu tích cực về sự hình thành thiết chế trung gian kết nối cung – cầu, nhưng đồng thời cũng cho thấy thị trường này hiện vẫn đang ở giai đoạn khởi đầu và phụ thuộc nhiều vào các sáng kiến của từng địa phương. Khoảng cách vì vậy không nằm chủ yếu ở việc thiếu quyền làm việc, mà ở việc chưa có chính sách quốc gia đủ cụ thể để tổ chức, khuyến khích và mở rộng thị trường việc làm phù hợp với tuổi cao, qua đó chuyển một bộ phận lớn người cao tuổi đang lao động từ hoạt động mang tính tự phát, phi chính thức sang các quan hệ việc làm có tổ chức, linh hoạt và tạo giá trị cao hơn.

(5) Về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, các chính sách đã tạo nền tảng để phát triển các giải pháp phục vụ xã hội đang già hóa. Tuy nhiên, sự kết nối trực tiếp với kinh tế bạc vẫn còn hạn chế. Việt Nam chưa hình thành một chương trình có tính hệ thống về công nghệ dành cho người cao tuổi, bao gồm công nghệ hỗ trợ, chăm sóc thông minh, y tế số, dữ liệu và AI phục vụ người cao tuổi. Vì vậy, khoảng trống chủ yếu không nằm ở chính sách công nghệ nói chung, mà ở năng lực kết nối công nghệ với nhu cầu thị trường và hệ sinh thái doanh nghiệp kinh tế số.

(6) Tài chính và huy động nguồn lực, hệ thống bảo hiểm xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội và trợ giúp xã hội đã tạo nền tảng quan trọng cho an sinh xã hội trong giai đoạn tuổi già. Tuy nhiên, đây chủ yếu là các cơ chế bảo đảm an sinh, chưa phải là các công cụ tài chính nhằm phát triển kinh tế bạc. Các cơ chế huy động vốn tư nhân, đầu tư đổi mới, tín dụng, bảo hiểm thương mại, đầu tư cơ sở chăm sóc và các mô hình tài chính dài hạn cho xã hội già hóa vẫn còn hạn chế. Điều này khiến nguồn lực công và nguồn lực thị trường chưa được kết nối thành cơ chế tài chính, hỗ trợ hình thành hệ sinh thái kinh tế bạc.

(7) Về công bằng và bảo vệ người cao tuổi, đây là một trong những nền tảng tương đối rõ ràng của hệ thống chính sách hiện hành. Các chính sách về chăm sóc sức khỏe, trợ giúp xã hội, bảo đảm thu nhập và phát huy quyền của người cao tuổi góp phần hạn chế nguy cơ bất bình đẳng trong quá trình già hóa. Tuy nhiên, cách tiếp cận hiện vẫn chủ yếu dựa trên logic phúc lợi và bảo trợ, trong khi kinh tế bạc đòi hỏi mở rộng sang bảo đảm khả năng tiếp cận bình đẳng của người cao tuổi đối với thị trường, công nghệ, tài chính, việc làm và cơ hội tạo thu nhập. Đây là điều kiện để chuyển từ tư duy “bảo vệ người cao tuổi” sang “trao quyền và tạo điều kiện để người cao tuổi tham gia vào quá trình phát triển”.

(8) Phối hợp liên ngành, dữ liệu và đánh giá chính sách là những khoảng trống nổi bật nhất. Các chính sách hiện được thực hiện bởi nhiều bộ, ngành và địa phương, nhưng chủ yếu theo chức năng ngành dọc; chưa hình thành cơ chế điều phối thống nhất đối với kinh tế bạc. Việt Nam cũng chưa có hệ thống dữ liệu và bộ chỉ tiêu quốc gia riêng để đo lường quy mô thị trường bạc, mức độ tham gia kinh tế của người cao tuổi, quy mô chuỗi giá trị, việc làm, đầu tư và đóng góp kinh tế của lĩnh vực này. Vì vậy, năng lực quản trị dựa trên dữ liệu và bằng chứng đối với kinh tế bạc vẫn còn hạn chế. Việc Chính phủ yêu cầu rà soát, xây dựng và hoàn thiện chính sách kinh tế bạc đến năm 2030, tầm nhìn 2045 trong năm 2026 cho thấy, khoảng trống tích hợp này đã bắt đầu được nhận diện ở cấp quốc gia.

4. Mô hình chính sách quản trị quốc gia về kinh tế bạc ở Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số

Việt Nam đã có nhiều chính sách về người cao tuổi, tạo nền tảng về quyền, an sinh, sức khỏe, việc làm và chăm sóc, nhưng chưa hình thành một hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô tương xứng với quy mô và tốc độ già hóa dân số. Các chính sách hiện hành chủ yếu được xây dựng và thực thi theo ngành, trong khi kinh tế bạc đòi hỏi một logic hệ sinh thái, kết nối Nhà nước, thị trường, doanh nghiệp, công nghệ, tài chính, dịch vụ và chính người cao tuổi. Vì vậy, cần tích hợp và điều phối các chính sách hiện có thành một kiến trúc quản trị quốc gia về kinh tế bạc: Nhà nước kiến tạo thể chế và điều phối; doanh nghiệp và thị trường cung ứng, đầu tư và đổi mới; còn người cao tuổi vừa thụ hưởng, tiêu dùng, vừa tham gia và tạo ra giá trị. Đây là nền tảng chuyển từ quản lý tác động của già hóa sang quản trị phát triển trong xã hội già hóa. Đây là bước chuyển từ quản lý tác động của già hóa sang quản trị quá trình phát triển trong xã hội già hóa, tạo cơ sở để xác lập mô hình quản trị quốc gia về kinh tế bạc ở Việt Nam trong giai đoạn 2026–2045.

Trong điều kiện Việt Nam đang già hóa nhanh nhưng mức thu nhập và tích lũy xã hội còn hạn chế, việc chỉ mở rộng phúc lợi sẽ làm gia tăng áp lực tài khóa, trong khi phó mặc cho thị trường khó bảo đảm tính công bằng và khả năng tiếp cận của các nhóm yếu thế. Do đó, cần tích hợp chính sách thích ứng với già hóa vào chính sách phát triển, qua đó chuyển những thay đổi về nhu cầu, lao động, tiêu dùng và dịch vụ thành nguồn lực cho tăng trưởng. Cách tiếp cận này phù hợp với quan điểm của OECD về ứng phó tổng hợp với già hóa và tương thích với cách tiếp cận của WHO. Trên cơ sở đó, mô hình phù hợp với Việt Nam cần được nhận diện dựa trên các yếu tố có quan hệ liên kết: định hướng phát triển kinh tế, thể chế, chủ thể, thị trường, hệ sinh thái, nguồn lực và cơ chế quản trị, điều phối, kiểm soát. Đây không phải là những nhóm chính sách độc lập mà là các cấu phần tương tác của một mô hình quản trị quốc gia thống nhất, hướng tới biến già hóa dân số từ một thách thức cần ứng phó thành một nguồn lực cho phát triển.

4.1. Định hướng phát triển kinh tế bạc chuyển từ thích ứng với già hóa sang chủ động kiến tạo cơ hội phát triển từ già hóa

Định hướng phát triển quyết định cách Nhà nước nhận diện già hóa dân số và xác lập mục tiêu cho nền kinh tế già hóa. Nếu già hóa chỉ được xem là vấn đề an sinh, chính sách tất yếu thiên về trợ cấp, chăm sóc và giảm thiểu chi phí; nếu được nhìn nhận là một biến số cấu trúc của phát triển, chính sách phải đồng thời tổ chức lại thị trường lao động, dịch vụ, công nghệ, tài chính và các nguồn lực xã hội để thích ứng với cơ cấu dân số mới. Cách tiếp cận này kết hợp kinh tế học phúc lợi với kinh tế học vòng đời, lý thuyết tăng trưởng và quan điểm về già hóa chủ động, theo đó Nhà nước vừa phải bảo đảm những dịch vụ thiết yếu, xử lý ngoại tác và bảo vệ nhóm dễ tổn thương, vừa tạo điều kiện để người cao tuổi tiếp tục lao động, tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh, truyền nghề và đóng góp cho cộng đồng.

Nghiên cứu của ADB trên 166 nền kinh tế cho thấy việc gia tăng sự tham gia của người cao tuổi vào lực lượng lao động có thể bù đắp một phần tác động bất lợi của già hóa đối với tăng trưởng; OECD cũng nhấn mạnh rằng việc mở rộng cơ hội, kỹ năng và động lực để người cao tuổi tiếp tục làm việc là một phần quan trọng trong việc ứng phó với già hóa. Vì vậy, mục tiêu của Kinh tế bạc Việt Nam không nên dừng ở “cung cấp nhiều hơn các dịch vụ cho người cao tuổi”, mà phải hướng tới việc tạo điều kiện để người dân sống lâu hơn, sống khỏe hơn, tự chủ lâu hơn và tiếp tục tạo ra giá trị lâu dài hơn, đồng thời bảo đảm an sinh cho những người không còn khả năng tự chủ. Đây là sự chuyển đổi từ quản lý hậu quả của già hóa sang quản trị quá trình phát triển trong xã hội già hóa. Định hướng này đã có nền tảng trong Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 và đang được tiếp tục cụ thể hóa trong chủ trương phát triển kinh tế bạc của Chính phủ. Đặc biệt, năm 2026, Chính phủ đã đặt vấn đề xây dựng Đề án phát triển kinh tế bạc và chính sách lao động, việc làm thích ứng với quá trình già hóa dân số nhanh chóng. Như vậy, lựa chọn chiến lược của Việt Nam cần là già hóa chủ động – sống khỏe – tham gia – tạo giá trị – bao trùm, thay vì chỉ tập trung vào “chăm sóc người cao tuổi”.

4.2. Kiến trúc thể chế và điều phối: từ quản lý theo ngành sang quản trị tích hợp, đa chủ thể

Xuất phát từ mục tiêu chủ động kiến tạo cơ hội phát triển từ già hóa, Việt Nam cần xác định rõ chủ thể và cơ chế để hiện thực hóa mục tiêu này thông qua việc chuyển từ quản lý theo ngành sang quản trị tích hợp, đa chủ thể. Điều này quyết định khả năng biến định hướng chiến lược thành một hệ sinh thái thực tế. Đặc điểm liên ngành của già hóa đòi hỏi sự phối hợp giữa dân số, y tế, lao động, bảo hiểm, tài chính, nhà ở, giao thông, khoa học – công nghệ, giáo dục, văn hóa và phát triển địa phương. Do đó, mô hình quản trị phải chuyển từ quản lý theo ngành sang quản trị tích hợp, đa chủ thể. Đây chính là tinh thần của cách tiếp cận “toàn bộ Chính phủ, toàn bộ xã hội” của WHO, đồng thời phù hợp với lý thuyết quản trị mạng lưới: Nhà nước không thể giải quyết một vấn đề phức hợp chỉ bằng mệnh lệnh hành chính, mà phải thiết kế thể chế và cơ chế phối hợp để nhiều chủ thể cùng tạo ra kết quả. Việt Nam vì vậy không cần thiết lập một bộ máy hành chính cồng kềnh riêng cho kinh tế bạc, mà cần một cơ chế điều phối quốc gia đủ mạnh, gắn với hệ thống điều hành hiện hữu của Chính phủ.

Trung ương tập trung vào chiến lược, pháp luật, tiêu chuẩn, dữ liệu, cơ chế tài chính, chính sách thị trường, nghiên cứu  đổi mới và đánh giá; địa phương tổ chức hệ sinh thái phù hợp với cấu trúc dân số, năng lực và lợi thế phát triển của từng địa bàn. Kinh nghiệm quốc tế củng cố lựa chọn này. EU phát triển kinh tế bạc thông qua liên kết chính sách xã hội, nghiên cứu, đổi mới, y tế, giao thông và các dịch vụ; Singapore tích hợp nhà ở, giao thông, hoạt động tuổi già và chăm sóc trong chương trình Age Well SG; Nhật Bản kết nối việc làm tuổi cao với chăm sóc dựa vào cộng đồng; Trung Quốc sử dụng chính sách quốc gia để chủ động kiến tạo thị trường. Những kinh nghiệm này cho thấy điểm quyết định không phải là thành lập một “ngành Kinh tế bạc” mà là tạo ra cơ chế phối hợp đủ mạnh giữa các ngành và các chủ thể. Theo đó, Nhà nước cần giữ bốn chức năng: kiến tạo luật chơi; điều phối lợi ích và nguồn lực; kiến tạo thị trường ở những nơi thị trường chưa tự hình thành; và bảo đảm lợi ích công, công bằng xã hội. Nhà nước vì vậy là kiến trúc sư thể chế và điều phối viên phát triển, không phải là nhà cung ứng độc quyền. Đây cũng là cách kết nối kinh tế bạc với định hướng về khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu và phát triển kinh tế tư nhân trong các chủ trương mới của Việt Nam.

4.3. Hệ sinh thái chủ thể và thị trường: người cao tuổi là trung tâm kép, doanh nghiệp là động lực tạo cung và đổi mới

Đây là cách hiện thực hóa định hướng và thể chế thành các quan hệ kinh tế – xã hội cụ thể. Điểm cốt lõi là thay đổi vị trí của người cao tuổi: từ chủ yếu là đối tượng thụ hưởng sang chủ thể kép – vừa là nguồn cầu, vừa là nguồn cung. Người cao tuổi không chỉ tiêu dùng y tế, chăm sóc, nhà ở, du lịch hay công nghệ mà còn có thể tiếp tục làm việc, kinh doanh, đầu tư, truyền nghề, cung cấp dịch vụ và đóng góp tri thức, kinh nghiệm cho cộng đồng. Thực tế, việc làm phù hợp với độ tuổi, bán thời gian và linh hoạt có thể duy trì năng lực tham gia kinh tế sau khi nghỉ hưu. Thực tiễn của nhiều quốc gia, nhất là Nhật Bản, có thể là gợi ý đáng chú ý cho Việt Nam; từ đó, vấn đề không chỉ là kéo dài tuổi nghỉ hưu mà còn là hình thành thị trường lao động tuổi cao linh hoạt, cho phép làm việc theo giờ, bán thời gian, tư vấn, cố vấn, truyền nghề và kinh doanh phù hợp với năng lực. Trên nền tảng đó, Kinh tế bạc cần được tổ chức thành các thị trường liên kết, trước hết là: thị trường thiết yếu về y tế, chăm sóc dài hạn, phục hồi chức năng, dinh dưỡng và thiết bị trợ giúp; thị trường duy trì và phát triển năng lực về việc làm, đào tạo lại, giáo dục suốt đời, dịch vụ tài chính và hỗ trợ kinh doanh; thị trường nâng cao chất lượng sống về nhà ở thích ứng, giao thông, du lịch, văn hóa, thể thao và giải trí và thị trường công nghệ mới về trí tuệ nhân tạo, y tế từ xa, thiết bị theo dõi sức khỏe, công nghệ phòng ngã, nền tảng chăm sóc và nhà ở thông minh.

Việc lựa chọn cấu trúc này được củng cố bởi kinh nghiệm quốc tế: Singapore cho thấy cần chuyển từ “dịch vụ cho người cao tuổi” sang môi trường sống phù hợp với tuổi già; EU nhấn mạnh đổi mới và công nghệ; Trung Quốc cho thấy, vai trò của Nhà nước trong việc kích hoạt các thị trường có chuỗi giá trị dài. Tuy nhiên, Việt Nam không nên sao chép nguyên mẫu mà cần lựa chọn những lĩnh vực phù hợp với mức thu nhập, khả năng chi trả và năng lực công nghệ trong nước. Trong hệ sinh thái đó, doanh nghiệp là động lực của phía cung và đổi mới, còn gia đình, cộng đồng, tổ chức xã hội và cơ sở nghiên cứu là các chủ thể đồng kiến tạo. Kinh tế bạc, do đó, không cần được hình thành như một “khu vực kinh tế” riêng biệt, mà có thể trở thành một không gian thị trường mới để doanh nghiệp đầu tư, đổi mới và tạo việc làm, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế tư nhân của Việt Nam.

4.4. Cơ chế vận hành, nguồn lực và quản trị bằng dữ liệu: bảo đảm hệ sinh thái có khả năng phát triển bền vững

Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, mô hình tài chính đối với các dịch vụ liên quan đến người cao tuổi cần được thiết kế theo hướng kết hợp trách nhiệm bảo đảm của Nhà nước với cơ chế chia sẻ chi phí và huy động nguồn lực từ thị trường, thay vì dựa hoàn toàn vào ngân sách công hoặc phó mặc việc cung ứng cho thị trường. Theo đó, Nhà nước giữ vai trò bảo đảm khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu và bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương; hệ thống bảo hiểm và các cơ chế chia sẻ rủi ro thực hiện chức năng phân bổ và giảm thiểu gánh nặng chi phí; khu vực thị trường đảm nhiệm cung ứng những dịch vụ có khả năng thương mại hóa và đáp ứng đa dạng nhu cầu của người cao tuổi. Đồng thời, cần phát triển các cơ chế đối tác công – tư (PPP), vốn mồi và các công cụ tài chính có mục tiêu để khuyến khích đầu tư vào những lĩnh vực có ngoại tác xã hội cao nhưng chưa tạo đủ động lực lợi nhuận cho khu vực tư nhân, như chăm sóc dài hạn, chăm sóc dựa vào cộng đồng, nhà ở thích ứng với tuổi già và hạ tầng số phục vụ người cao tuổi.

Về quản trị, cần chuyển sang quản trị dựa trên dữ liệu và kết quả. Không nhất thiết phải xây dựng ngay một cơ sở dữ liệu hoàn toàn mới mà trước hết phải liên thông dữ liệu hiện có về dân số, sức khỏe, lao động, thu nhập, bảo hiểm, doanh nghiệp, dịch vụ chăm sóc và tiêu dùng. Trên cơ sở đó, từng bước hình thành Bộ chỉ số Kinh tế bạc Việt Nam, tập trung đo quy mô thị trường, mức độ tham gia kinh tế của người cao tuổi, năng lực cung ứng, khả năng tiếp cận, đổi mới công nghệ, huy động nguồn lực xã hội và kết quả cuối cùng về sức khỏe, tự chủ, thu nhập, việc làm, chất lượng sống và công bằng. Đây là điều kiện để chuyển từ quản trị theo đầu vào sang quản trị theo kết quả. Kinh tế bạc không nên được đánh giá bằng số lượng cơ sở hay chương trình được triển khai, mà bằng khả năng tạo ra kết quả phát triển: người cao tuổi khỏe mạnh và tự chủ hơn; có thêm cơ hội việc làm và đóng góp; doanh nghiệp hình thành thị trường mới; xã hội huy động thêm nguồn lực; đồng thời, nhóm yếu thế vẫn được bảo vệ.

Về lộ trình, trong giai đoạn 2026- 2030, Việt Nam không nên cố gắng xây dựng đồng thời toàn bộ hệ sinh thái (dịch vụ dành cho người cao tuổi và toàn bộ mạng lưới thể chế, thị trường, chủ thể, hạ tầng, tài chính, dữ liệu, công nghệ và dịch vụ) mà cần tập trung vào những nền tảng có tính lan tỏa cao: chăm sóc tại nhà và cộng đồng, việc làm linh hoạt cho người cao tuổi, tiêu chuẩn hóa dịch vụ, dữ liệu, cơ chế tài chính – PPP và một số ứng dụng công nghệ thiết thực. Khi thị trường, dữ liệu và năng lực doanh nghiệp được hình thành, giai đoạn tiếp theo mới mở rộng sang nhà ở thích ứng, tài chính cho tuổi già, du lịch, công nghệ và các chuỗi giá trị chuyên môn hóa cao hơn.

Từ bốn nội dung lớn trên, có thể nhận diện mô hình chính sách quản trị quốc gia về Kinh tế bạc phù hợp với Việt Nam là: Mô hình Nhà nước kiến tạo – điều phối tích hợp, thị trường và doanh nghiệp tạo động lực, xã hội đồng kiến tạo, lấy người cao tuổi làm trung tâm và chủ thể tạo giá trị, được vận hành bằng dữ liệu, đổi mới sáng tạo và cơ chế tài chính hỗn hợp.

Tài liệu tham khảo:
AARP & Oxford Economics. (2016). The longevity economy: How people over 50 are transforming the global economy. AARP.
Ansell, C., & Gash, A. (2008). Collaborative governance in theory and practice. Journal of Public Administration Research and Theory, 18(4), 543–571. https://doi.org/10.1093/jopart/mum032
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2022 về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.
Barr, N., & Diamond, P. (2008). Reforming pensions: Principles and policy choices. Oxford University Press.
Bloom, D. E., Canning, D., & Fink, G. (2010). Implications of population aging for economic growth. Oxford Review of Economic Policy, 26(4), 583–612. https://doi.org/10.1093/oxrep/grq038
European Commission. (2018). The silver economy: How to stimulate the economy with hundreds of millions of euros per year. European Commission.
International Labor Organization. (2018). Care work and care jobs for the future of decent work. International Labor Office.
North, D. C. (1990). Institutions, institutional change and economic performance. Cambridge University Press.
OECD (2019). Working better with age. OECD Publishing.
OECD (2024a). Enhancing productivity and growth in an aging society. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/605b0787-en
OECD (2024b). Promoting an age-inclusive workforce: Living, learning and earning longer. OECD Publishing.
Quốc hội (2009). Luật Người cao tuổi năm 2009.
Tổng cục Thống kê (2024). Kết quả điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024. Nxb Thống kê.
United Nations Department of Economic and Social Affairs. (2023). World social report 2023: Leaving no one behind in an aging world. United Nations.
World Bank. (2016). Live long and prosper: Aging in East Asia and Pacific. World Bank.
World Health Organization. (2015). World report on aging and health. World Health Organization.
World Health Organization. (2021a). Decade of healthy aging: Baseline report. World Health Organization.