Tư tưởng đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc và ý nghĩa đối với việc xây dựng văn hóa liêm chính số cho đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay

Ho Chi Minh’s thought on revolutionary ethics in Modifying the working style and its significance for building a culture of digital integrity among cadres and civil servants in contemporary Vietnam

ThS. Lưu Thị Mai Thanh
Trường Đại học Kinh tế – Đại học Đà Nẵng
Email: maithanh.dhkt@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Sửa đổi lối làm việc (1947) của Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra những yêu cầu nền tảng về đạo đức cách mạng, trách nhiệm của cán bộ và phương pháp kiểm soát hoạt động của tổ chức. Bài viết phân tích giá trị vận dụng của các yêu cầu này trong việc xây dựng văn hóa liêm chính số cho đội ngũ cán bộ, công chức. Bằng phương pháp phân tích văn bản và đối chiếu chuẩn mực, bài viết sử dụng Liêm, Chính và Trí làm ba chiều cạnh phân tích, đồng thời phân biệt nội dung nguyên tác với cách diễn giải trong bối cảnh chuyển đổi số. Văn hóa liêm chính số được hiểu là sự thống nhất giữa cam kết phục vụ lợi ích công, hành vi sử dụng quyền hạn đúng đắn và cơ chế bảo đảm trách nhiệm trong môi trường dữ liệu. Phân tích cho thấy giá trị vận dụng của tư tưởng Hồ Chí Minh nằm ở việc kết nối sự tự giác tu dưỡng với kiểm soát quyền lực, tính công tâm với trách nhiệm giải trình và tinh thần học hỏi với năng lực phán đoán. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất cụ thể hóa chuẩn mực theo từng vị trí việc làm, kiểm soát việc sử dụng dữ liệu, bồi dưỡng năng lực số, cải thiện cơ chế đánh giá và tạo động lực đổi mới vì lợi ích chung.

Từ khóa: Hồ Chí Minh; Sửa đổi lối làm việc; đạo đức công vụ; văn hóa liêm chính số; trách nhiệm giải trình.

Abstract: Ho Chi Minh’s “Reforming Work Practices” (1947) sets forth fundamental requirements regarding revolutionary ethics, the responsibilities of officials, and methods for overseeing organizational activities. This article analyzes the practical value of these requirements in building a culture of digital integrity for cadres and civil servants. Using text analysis and normative comparison, the article employs Integrity, Righteousness, and Wisdom as three analytical dimensions, while distinguishing the original text’s content from its interpretation in the context of digital transformation. Digital integrity culture is understood as the unity of a commitment to serving the public interest, the proper exercise of authority, and mechanisms ensuring accountability in a data-driven environment. The analysis shows that the practical value of Ho Chi Minh’s ideology lies in linking self-cultivation with the oversight of power, impartiality with accountability, and a spirit of learning with judgmental capacity. Based on this, the article proposes specifying standards for each job position, regulating data usage, fostering digital competencies, improving evaluation mechanisms, and creating incentives for innovation in the public interest.

Keywords: Ho Chi Minh; Reforming work practices; public service ethics; digital integrity culture; accountability.

1. Đặt vấn đề

Chuyển đổi số trong khu vực công làm thay đổi cách tiếp nhận hồ sơ, sử dụng thông tin và thực hiện các quyền hành chính. Khi hoạt động công vụ được tổ chức trên các nền tảng số, yêu cầu liêm chính mở rộng từ quan hệ trực tiếp giữa cán bộ và người dân sang việc truy cập dữ liệu, cấu hình quy trình, phê duyệt điện tử và giải thích quyết định. Công nghệ có thể hỗ trợ kiểm tra và giảm một số cơ hội nhũng nhiễu, nhưng hiệu quả đó phụ thuộc vào cách phân công trách nhiệm, chất lượng dữ liệu và khả năng giám sát việc vận hành hệ thống. Vì vậy, xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, hiện đại cần đồng thời quan tâm đến đạo đức cá nhân và các điều kiện tổ chức bảo đảm hành vi liêm chính.

Tác phẩm Sửa đổi lối làm việc được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết vào tháng 10/1947, cung cấp cơ sở tư tưởng để xem xét mối quan hệ giữa phẩm chất của cán bộ, phương pháp làm việc và trách nhiệm đối với nhân dân. Nghiên cứu của Nguyễn Tiến Đảm (2018) đã phân tích giá trị của tác phẩm đối với công tác cán bộ và việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Từ hướng tiếp cận đó, vấn đề bài viết đặt ra là cách chuyển các yêu cầu về đạo đức và lề lối làm việc thành những chuẩn mực có thể nhận diện trong hoạt động công vụ số. Giá trị bổ sung của bài viết nằm ở việc làm rõ sự chuyển đổi này thông qua các tình huống sử dụng dữ liệu, thực hiện quyền hạn và tiếp nhận giám sát, thay vì chỉ khẳng định ý nghĩa chung của việc tu dưỡng đạo đức.

Như vậy, những chỉ dẫn về đạo đức và phương pháp làm việc trong Sửa đổi lối làm việc có thể được vận dụng như thế nào để xây dựng văn hóa liêm chính số cho cán bộ, công chức? Phương pháp phân tích văn bản được sử dụng để xác định nội dung và bối cảnh của các luận điểm trong nguyên tác; đối chiếu chuẩn mực được dùng để liên hệ các luận điểm đó với yêu cầu đạo đức công vụ và bảo vệ dữ liệu; phân tích lập luận làm cơ sở để đề xuất giải pháp. Việc đối chiếu được thực hiện theo trình tự từ giá trị đạo đức, yêu cầu hành vi đến điều kiện tổ chức bảo đảm thực hiện. Phạm vi bài viết là nghiên cứu lý luận và đề xuất định hướng vận dụng; các tình huống rủi ro được phân tích không đại diện cho kết quả khảo sát về mức độ vi phạm trong đội ngũ cán bộ, công chức.

2. Cơ sở tư tưởng và cách tiếp cận Liêm, Chính, Trí trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc

Trong phần Tư cách và đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu năm phẩm chất Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm; đồng thời đặt việc thực hành cần, kiệm, liêm, chính trong quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích của Đảng, của Nhân dân (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 5, tr. 291-293). Vì vậy, Liêm, Chính, Trí trong bài viết là ba chiều cạnh được lựa chọn để phân tích giá trị vận dụng, không phải một hệ thống gồm ba phẩm chất được nguyên tác trình bày riêng biệt. Liêm gắn với việc không lạm dụng quyền hạn vì tư lợi; Chính gắn với việc tiếp cận công việc một cách ngay thẳng, công tâm và chí công vô tư; Trí thể hiện năng lực nhận thức, xem xét công việc và lựa chọn cách hành động phù hợp. Cách tiếp cận này giữ mối liên hệ với chỉnh thể tư tưởng đạo đức của tác phẩm và tránh đồng nhất các khái niệm quản trị số hiện nay với thuật ngữ năm 1947.

Thứ nhất, liêm là cơ sở đạo đức để kiểm soát động cơ tư lợi trong việc thực thi quyền hạn.

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: “LIÊM là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình” (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 5, tr. 291-293). Nội dung này cho thấy yêu cầu liêm khiết bao quát cả lợi ích vật chất, địa vị và sự thỏa mãn về danh vọng. Đối với người thực thi công vụ, ý nghĩa cốt lõi là không để những lợi ích riêng chi phối việc sử dụng quyền hạn được giao. Từ đó, có thể hiểu Liêm như là năng lực tự điều chỉnh hành vi trước xung đột giữa nghĩa vụ công và lợi ích cá nhân.

Liêm không đồng nghĩa với việc phủ nhận nhu cầu vật chất chính đáng hoặc lý tưởng hóa sự thiếu thốn. Vấn đề cần phân định là nguồn gốc, cách thức đạt được lợi ích và ảnh hưởng của lợi ích ấy đối với quyết định công vụ. Một cán bộ có thể tuân thủ quy trình về hình thức nhưng vẫn thiếu liêm chính nếu lợi dụng vị trí công tác để ưu tiên người quen, che giấu xung đột lợi ích hoặc tạo lợi thế cho một tổ chức. Vì vậy, đánh giá sự liêm khiết cần xem xét cả động cơ, hành vi và các điều kiện thực hiện quyền lực.

Yêu cầu không vụ lợi được Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn với định hướng tích cực: “Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ” (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 5, tr. 293). Sự rèn luyện đạo đức vì thế không dừng ở việc tránh sai phạm mà còn thể hiện qua nỗ lực nâng cao chất lượng công việc. Trong nền công vụ, tinh thần này có thể được vận dụng để kết nối lòng tự trọng nghề nghiệp với trách nhiệm sử dụng tiết kiệm nguồn lực, xử lý công việc đúng hạn và chủ động khắc phục những bất cập. Tuy nhiên, sự tự giác của cá nhân cần được hỗ trợ bởi các quy định rõ ràng và cơ chế kiểm tra có khả năng phát hiện hành vi lạm dụng quyền hạn.

Thứ hai, Chính gắn với sự ngay thẳng, công tâm và trách nhiệm đối với lợi ích chung.

Khi bàn về đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn chí công vô tư với việc đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và đồng bào lên trên lợi ích riêng (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 5, tr. 291). Từ nội dung này, bài viết tiếp cận chủ đề chính là yêu cầu thực hiện công vụ trung thực, công bằng và có trách nhiệm. Trong quản lý hành chính, công tâm không chỉ thể hiện ở thái độ mà còn ở việc áp dụng nhất quán các tiêu chí giải quyết công việc, công khai căn cứ thuộc phạm vi được phép và giải thích những khác biệt trong việc xử lý các trường hợp cụ thể. Điều 3 của Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu trung thực, khách quan, không che giấu khuyết điểm và đấu tranh với hành vi sai trái. Sự tương đồng về định hướng chuẩn mực tạo cơ sở để vận dụng tư tưởng đạo đức vào việc hoàn thiện trách nhiệm công vụ hiện nay. Niềm tin của người dân có thể được củng cố khi các cam kết này được thực hiện một cách nhất quán và có cơ chế để sửa chữa sai sót.

Thứ ba, trí gắn với năng lực phán đoán, học hỏi và vận dụng tri thức vào công việc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích: “TRÍ vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý luận. Dễ tìm phương hướng. Biết xem người. Biết xét việc” (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 5, tr. 292). Luận điểm này đặt ra sự sáng suốt trong quan hệ với động cơ đạo đức: tư lợi có thể làm sai lệch cách nhận thức và đánh giá vấn đề. Tuy nhiên, từ đó không thể suy ra rằng chỉ cần trong sạch về đạo đức là đương nhiên có đủ năng lực chuyên môn. Để phán đoán đúng, người cán bộ còn phải học tập, nắm vững thực tế và kiểm tra cơ sở của nhận định.

Trong điều kiện hiện nay, giá trị của Trí có thể được vận dụng để đáp ứng yêu cầu kết hợp giữa hiểu biết chuyên môn và khả năng nhận diện giới hạn của thông tin.

Cán bộ, công chức cần biết dữ liệu được hình thành từ đâu, phản ánh nhóm đối tượng nào, có đầy đủ và phù hợp với mục đích sử dụng hay không. Một báo cáo được tạo tự động vẫn có thể chứa sai số hoặc bỏ sót những trường hợp đặc thù. Do đó, sử dụng công nghệ thành thạo mới là một điều kiện; năng lực xem xét căn cứ, so sánh phương án và chịu trách nhiệm về lựa chọn mới quyết định chất lượng phán đoán trong công vụ.

Tinh thần học hỏi cũng đòi hỏi phân biệt sự thiếu hụt kỹ năng với thái độ cố tình né tránh trách nhiệm. Hạn chế năng lực có thể bắt nguồn từ điều kiện đào tạo, thiết kế phần mềm hoặc sự thay đổi của quy trình; không nên mặc nhiên quy mọi khó khăn trong việc sử dụng công nghệ thành khuyết điểm đạo đức. Trách nhiệm của cá nhân là chủ động học tập, trao đổi và báo cáo vướng mắc; trách nhiệm của tổ chức là cung cấp hướng dẫn, hỗ trợ và điều kiện thực hành phù hợp. Cách tiếp cận này giúp việc phê bình gắn với việc khắc phục nguyên nhân, đồng thời tạo cơ sở công bằng hơn khi đánh giá cán bộ.

Thứ tư, tu dưỡng đạo đức cần gắn với việc kiểm tra, tự phê bình và sự giám sát của nhân dân.

Trong phần Cách lãnh đạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu kiểm soát có hệ thống, thường xuyên và dựa trên việc xem xét thực tế; đồng thời phân biệt kiểm soát từ trên xuống với kiểm soát từ dưới lên (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 5, tr. 327-328). Giá trị phương pháp của chỉ dẫn này nằm ở việc kết hợp trách nhiệm của người lãnh đạo với khả năng phát hiện và phản ánh sai sót của cán bộ và quần chúng. Trong môi trường số, dữ liệu tác nghiệp có thể cung cấp thêm căn cứ để kiểm tra, nhưng không thay thế việc lắng nghe người sử dụng dịch vụ và xác minh những gì diễn ra bên ngoài hệ thống. Sự thống nhất giữa tự giác tu dưỡng, kiểm soát nội bộ và giám sát xã hội là điều kiện để chuẩn mực đạo đức trở thành một thực hành bền vững trong tổ chức.

3. Văn hóa liêm chính số và giá trị vận dụng của tư tưởng đạo đức trong công vụ

Văn hóa liêm chính số được hiểu là hệ giá trị, chuẩn mực và thói quen tổ chức định hướng cán bộ, công chức sử dụng quyền hạn, dữ liệu và công nghệ vì lợi ích công, đồng thời chịu trách nhiệm về hành vi công vụ trên môi trường số. Cách hiểu này kế thừa hướng tiếp cận của OECD (2020) về liêm chính công như một yêu cầu đối với cả cá nhân và hệ thống tổ chức, gắn chuẩn mực với quản lý rủi ro và trách nhiệm giải trình. Nội hàm của văn hóa liêm chính số rộng hơn bảo mật kỹ thuật: một hệ thống có thể an toàn trước các cuộc tấn công bên ngoài nhưng vẫn bị sử dụng một cách thiên vị bởi những người có thẩm quyền. Vì vậy, cần xem xét đồng thời tính đúng đắn của mục đích sử dụng, khả năng kiểm tra hành vi và cơ chế sửa chữa sai sót.

Một là, nguy cơ lạm dụng quyền hạn đối với dữ liệu và quy trình số. Khi quyền truy cập, quyền chỉnh sửa dữ liệu hoặc quyền phê duyệt điện tử tập trung vào một số vị trí, nguy cơ sử dụng các quyền này để tạo lợi ích riêng cần được nhận diện. Chẳng hạn, việc ưu tiên hồ sơ không có căn cứ, thay đổi trạng thái xử lý để che giấu chậm trễ hoặc cung cấp trái phép thông tin cho bên thứ ba có thể xảy ra nếu thiếu phân quyền và kiểm tra độc lập. Đây là những tình huống phân tích rủi ro, không phải là kết luận về tần suất vi phạm trong thực tế. Khái niệm “tham nhũng số” chỉ nên dùng để mô tả hành vi tham nhũng có sử dụng công nghệ; không nên đồng nhất mọi lỗi dữ liệu, sự cố hệ thống hoặc vi phạm quy trình với tham nhũng.

Hai là, nguy cơ trì hoãn công việc, hình thức hóa chuyển đổi số và đùn đẩy trách nhiệm. Trong công vụ số, trách nhiệm có thể bị phân tán giữa người tiếp nhận, người xử lý nghiệp vụ và bộ phận quản trị hệ thống. Nếu không xác định rõ người chịu trách nhiệm ở từng công đoạn, sự cố kỹ thuật có thể trở thành lý do khiến việc giải quyết hồ sơ bị kéo dài. Tuy vậy, cần phân biệt hành vi cố tình trì hoãn với trở ngại khách quan như phần mềm thiếu ổn định, dữ liệu chưa liên thông hoặc khối lượng công việc vượt quá khả năng xử lý. Khoản 4 Điều 4 Quy định số 144-QĐ/TW đặt ra yêu cầu đấu tranh với tình trạng né tránh, đùn đẩy và sợ trách nhiệm. Vận dụng yêu cầu này vào môi trường số đòi hỏi phải có thể kiểm tra được nguyên nhân chậm trễ, thay vì chỉ quy trách nhiệm dựa trên một chỉ số quá hạn hoặc nhận xét về thái độ.

Hai nhóm rủi ro trên cho thấy tính liêm chính số hình thành trong quan hệ tương tác giữa con người, thể chế và công nghệ. Số hóa có thể làm giảm một số giao dịch trực tiếp dễ phát sinh nhiễu, nhưng cũng có thể chuyển quyền quyết định sang khâu thiết kế, quản trị và vận hành hệ thống. Nếu dữ liệu đầu vào thiếu chính xác hoặc nhật ký thao tác có thể bị sửa đổi tùy tiện, thì thông tin trên màn hình chưa đủ để bảo đảm tính minh bạch. Vì thế, xây dựng văn hóa liêm chính số cần kết hợp động cơ phục vụ của cán bộ với giới hạn quyền truy cập, cơ chế kiểm tra và khả năng yêu cầu giải trình của người dân.

Giá trị vận dụng của tư tưởng đạo đức trong Sửa đổi lối làm việc cần được xác định ở cấp độ nguyên tắc và phương pháp. Nguyên tác không bàn trực tiếp về dữ liệu cá nhân, thuật toán hoặc dịch vụ công trực tuyến; những nội dung này là sự cụ thể hóa do bài viết đề xuất cho bối cảnh mới. Trên cơ sở đó, Liêm định hướng mục đích sử dụng quyền hạn, Chính định hướng cách thực hiện và giải thích quyết định, còn Trí hỗ trợ năng lực nhận diện vấn đề và lựa chọn phương án xử lý. Ba chiều cạnh có quan hệ bổ trợ, nhưng hiệu quả thực hiện phụ thuộc vào các điều kiện tổ chức cụ thể.

Thứ nhất, Liêm định hướng sử dụng dữ liệu và tài sản số đúng mục đích công vụ.

Trong môi trường số, việc phân biệt lợi ích công và lợi ích tư cần được thể hiện trong từng hành vi truy cập, khai thác và chia sẻ dữ liệu. Quyền được cấp trên hệ thống không đồng nghĩa với quyền sử dụng mọi thông tin cho bất kỳ mục đích nào. Cán bộ chỉ nên tiếp cận dữ liệu trong phạm vi cần thiết cho nhiệm vụ và căn cứ pháp lý tương ứng, không sử dụng thông tin công vụ để tạo lợi thế cho bản thân, người thân hoặc bất kỳ chủ thể nào có quan hệ lợi ích. Theo cách đó, Liêm được chuyển thành yêu cầu nghề nghiệp có thể kiểm tra qua mục đích truy cập, phạm vi sử dụng và trách nhiệm của người được cấp quyền.

Bảo vệ dữ liệu cá nhân là một nội dung cụ thể của yêu cầu này. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15, ban hành ngày 26/6/2025 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, là căn cứ pháp lý cần được tính đến khi tổ chức hoạt động xử lý dữ liệu trong cơ quan nhà nước. Từ góc độ đạo đức công vụ, cán bộ cần tôn trọng quyền của chủ thể dữ liệu, xác định rõ mục đích sử dụng và không khai thác thông tin vượt quá yêu cầu của nhiệm vụ. Việc liên thông hoặc tích hợp dữ liệu không làm mất đi trách nhiệm này. Đồng thời, minh bạch công vụ phải được phân biệt với việc công khai dữ liệu cá nhân: thông tin về quy trình và trách nhiệm xử lý cần rõ ràng, trong khi dữ liệu thuộc phạm vi cần bảo vệ phải được kiểm soát một cách phù hợp.

Liêm còn có ý nghĩa trong việc phòng ngừa việc chuyển hành vi nhũng nhiễu từ giao dịch trực tiếp sang các khâu số hóa. Dịch vụ công trực tuyến có thể giảm nhu cầu gặp trực tiếp cán bộ, nhưng chưa đủ để loại bỏ việc cố tình yêu cầu bổ sung hồ sơ, thay đổi thứ tự xử lý hoặc hướng dẫn người dân sử dụng các dịch vụ trung gian không cần thiết. Vì vậy, cần gắn cam kết không vụ lợi với việc kiểm soát quyền can thiệp vào quy trình và lưu giữ căn cứ của từng lần điều chỉnh. Hiệu quả phòng ngừa phụ thuộc vào khả năng phát hiện và xử lý hành vi vi phạm, cùng với ý thức tự giác của người thực thi công vụ.

Thứ hai là định hướng về tính công bằng, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quy trình số.

Thực hành chính trong công vụ số đòi hỏi các tiêu chí tiếp nhận, xử lý và trả kết quả phải được áp dụng một cách nhất quán. Người dân cần biết hồ sơ đang ở công đoạn nào, thời hạn dự kiến và đơn vị chịu trách nhiệm, trong phạm vi thông tin được phép cung cấp. Với trường hợp từ chối hoặc yêu cầu bổ sung, cơ quan giải quyết cần nêu căn cứ và hướng dẫn các bước tiếp theo. Khả năng theo dõi trực tuyến tạo điều kiện thuận lợi cho tính minh bạch, song giá trị của nó phụ thuộc vào việc trạng thái hiển thị có phản ánh đúng tiến độ thực tế hay không. Công khai một quy trình thiếu chính xác có thể tạo cảm giác minh bạch nhưng không giúp người dân bảo vệ quyền lợi.

Trách nhiệm giải trình còn đòi hỏi khả năng tiếp nhận và sửa chữa sai sót. Kênh phản ánh trực tuyến cần ghi nhận đầy đủ nội dung, chuyển đúng người xử lý, thông báo tiến độ và trả lời có căn cứ. Không thể xem việc đóng một phản ánh trên hệ thống là đồng nghĩa với việc giải quyết thỏa đáng vấn đề. Việc đánh giá cần xem xét kết quả khắc phục, tính nhất quán của câu trả lời và khả năng cần xem xét lại. Đây là hướng vận dụng yêu cầu tự phê bình và kiểm soát từ dưới lên vào hoạt động công vụ số. Để bảo đảm tiếp cận công bằng, cơ quan hành chính cũng cần duy trì các hình thức hỗ trợ phù hợp cho người gặp khó khăn khi sử dụng dịch vụ trực tuyến.

Trong giao tiếp số, Chính thể hiện sự trung thực, tôn trọng người dân và phân biệt rõ thông tin chính thức với ý kiến cá nhân. Cán bộ, công chức cần kiểm tra nguồn trước khi chia sẻ, sử dụng ngôn ngữ chuẩn mực và không tiết lộ thông tin thuộc phạm vi phải bảo vệ. Khi phát hiện thông tin đã công bố không chính xác, cơ quan có trách nhiệm đính chính kịp thời và giải thích nội dung đã được điều chỉnh. Việc tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng cũng cần gắn với lập luận có căn cứ, tuân thủ pháp luật và trách nhiệm trong phát ngôn, tránh sử dụng thông tin chưa được kiểm chứng.

Thứ ba, Trí định hướng năng lực số, tư duy phản biện và đổi mới có trách nhiệm.

Vận dụng trí tuệ vào công vụ số đòi hỏi phát triển năng lực sử dụng công nghệ gắn với hiểu biết pháp luật và phán đoán nghề nghiệp. Năng lực này bao gồm khả năng đọc hiểu dữ liệu, nhận diện sai lệch, xác định các trường hợp cần tham vấn và đánh giá tác động của phương án xử lý đối với người dân. Trí không thể được thu hẹp thành mức độ thành thạo phần mềm hoặc số lượng công cụ được sử dụng. Một cán bộ có năng lực cần biết khi nào dữ liệu đủ để hỗ trợ quyết định và khi nào cần bổ sung thông tin, kiểm tra thực tế hoặc chuyển vấn đề cho người có thẩm quyền.

Ra quyết định dựa trên dữ liệu là một hướng vận dụng tinh thần chống chủ quan, nhưng dữ liệu không tự bảo đảm tính khách quan. Thông tin được thu thập từ một nhóm người dùng trực tuyến có thể chưa phản ánh trải nghiệm của người ít tiếp cận công nghệ; tỷ lệ hồ sơ đúng hạn cũng chưa cho biết quyết định có chính xác hay người dân có phải thực hiện thêm thủ tục ngoài hệ thống hay không. Do đó, cần đối chiếu số liệu vận hành với hồ sơ và phản hồi của người sử dụng. Khi ứng dụng công cụ tự động hoặc trí tuệ nhân tạo, cán bộ phải xem xét giới hạn của kết quả và duy trì trách nhiệm giải thích, kiểm tra, sửa chữa quyết định trong phạm vi thẩm quyền.

Tinh thần “Lấy tự học làm cốt” trong Sửa đổi lối làm việc được đặt ra cùng với yêu cầu tổ chức thảo luận và hướng dẫn học tập (Hồ Chí Minh, 2011, Tập 5, tr. 312). Vận dụng vào chuyển đổi số, cơ quan hành chính cần kết hợp sự chủ động của cá nhân với chương trình bồi dưỡng theo nhiệm vụ thực tế. Nội dung học tập nên bao gồm xử lý hồ sơ điện tử, nhận diện các yêu cầu truy cập bất thường, bảo vệ thông tin và giải quyết các tình huống xung đột lợi ích. Kết quả bồi dưỡng cần được đánh giá dựa trên khả năng xử lý công việc, không chỉ qua việc tham dự. Đồng thời, cần bố trí hỗ trợ kỹ thuật và thời gian thực hành để cán bộ có điều kiện chuyển kiến thức thành năng lực làm việc.

Trí còn gắn với khả năng đổi mới dựa trên việc cân nhắc lợi ích, chi phí và rủi ro. Một sáng kiến số cần được đánh giá dựa trên mức độ cải thiện chất lượng phục vụ, giảm công việc trùng lặp và bảo đảm quyền lợi của người dân. Việc triển khai nên có phạm vi thử nghiệm, người chịu trách nhiệm, tiêu chí đánh giá và phương án khắc phục khi phát sinh vấn đề. Như vậy, tinh thần dám nghĩ, dám làm phải đi cùng với khả năng giải thích lựa chọn và tiếp thu phản hồi. Đổi mới có trách nhiệm góp phần khắc phục cả tâm lý né tránh lẫn xu hướng áp dụng công nghệ chỉ để tạo thành tích hình thức.

4. Giải pháp vận dụng tư tưởng đạo đức vào xây dựng văn hóa liêm chính số

Một là, cụ thể hóa các chuẩn mực đạo đức theo vị trí công việc và các tình huống công vụ số. Cơ quan hành chính cần chuyển các yêu cầu về liêm khiết, công tâm và trách nhiệm thành hướng dẫn cho từng nhóm nhiệm vụ: tiếp nhận hồ sơ, xử lý nghiệp vụ, quản trị dữ liệu và phê duyệt kết quả. Hướng dẫn phải làm rõ giới hạn quyền truy cập, cách xử lý các yêu cầu can thiệp không phù hợp, nghĩa vụ báo cáo xung đột lợi ích và trách nhiệm giải thích quyết định. Quy định số 144-QĐ/TW cung cấp định hướng đạo đức đối với cán bộ, đảng viên; việc cụ thể hóa cho đội ngũ cán bộ, công chức phải đồng thời phù hợp với pháp luật về công vụ và nhiệm vụ của từng cơ quan. Người đứng đầu cần nêu gương bằng việc tuân thủ cùng quy trình và chịu sự kiểm tra đối với các trường hợp xử lý ngoại lệ.

Hai là, kiểm soát việc sử dụng quyền hạn trên hệ thống và bảo đảm khả năng truy vết trách nhiệm. Cơ quan hành chính cần phối hợp giữa bộ phận chuyên môn và bộ phận công nghệ để phân tách hợp lý quyền quản trị hệ thống, quyền xử lý hồ sơ và quyền kiểm tra. Những thao tác có rủi ro cao, như thay đổi dữ liệu gốc hoặc điều chỉnh kết quả đã phê duyệt, cần lưu lại người thực hiện, thời điểm, căn cứ và người cho phép. Nhật ký thao tác phải được bảo vệ và kiểm tra bởi chủ thể có thẩm quyền, tránh để người bị giám sát tùy ý sửa đổi dấu vết công việc. Tuy nhiên, truy vết kỹ thuật chỉ cung cấp chứng cứ ban đầu; kết luận về trách nhiệm vẫn phải dựa trên việc xác minh bối cảnh, nhiệm vụ và các căn cứ liên quan. Cách tổ chức này cụ thể hóa yêu cầu kiểm soát thường xuyên và gắn việc kiểm tra với công việc thực tế.

Cùng với kiểm soát nội bộ, cần bảo đảm phản ánh của người dân được sử dụng để phát hiện vấn đề và cải thiện quy trình. Hệ thống tiếp nhận nên có mã theo dõi, thời hạn phản hồi và cơ chế chuyển cấp khi nội dung vượt quá thẩm quyền. Đánh giá sự hài lòng cần được kết hợp với chất lượng quyết định, thời gian xử lý thực tế và kết quả giải quyết phản ánh. Không nên dùng một lượt chấm điểm làm căn cứ duy nhất để xếp loại cán bộ, vì phản hồi có thể bị ảnh hưởng bởi mức độ phức tạp của hồ sơ, kết quả không thuận lợi nhưng đúng pháp luật, hoặc hành vi đánh giá thiếu khách quan. Việc sử dụng dữ liệu phản hồi cần bảo vệ người phản ánh và cho phép cán bộ được giải trình.

Ba là, gắn bồi dưỡng đạo đức công vụ với phát triển năng lực số theo tình huống. Cơ quan sử dụng cán bộ và cơ sở đào tạo cần xây dựng tình huống học tập từ các nhiệm vụ thường gặp, như xử lý yêu cầu tra cứu thông tin ngoài phạm vi công việc, phát hiện hồ sơ có dữ liệu mâu thuẫn hoặc trả lời người dân khi hệ thống gặp sự cố. Người học phải giải thích được căn cứ lựa chọn và hệ quả của từng phương án, qua đó kết hợp rèn luyện Liêm, Chính với năng lực phán đoán của Trí. Việc bồi dưỡng nên có phản hồi từ người hướng dẫn và được tiếp nối bằng sự hỗ trợ tại nơi làm việc. Cơ quan có thể theo dõi mức độ hoàn thành bài thực hành, khả năng phát hiện sai sót và chất lượng xử lý sau đào tạo, đồng thời phân biệt nhu cầu hỗ trợ năng lực với hành vi cố tình vi phạm.

Bốn là, tạo động lực đổi mới và điều kiện làm việc phù hợp với yêu cầu về liêm chính. Chính sách đãi ngộ cần xem xét mức độ phức tạp, trách nhiệm và kết quả thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi thẩm quyền và nguồn lực cho phép. Thu nhập phù hợp có thể hỗ trợ sự ổn định nghề nghiệp, nhưng không nên được xem là điều kiện đủ để ngăn ngừa tham nhũng. Cần kết hợp đãi ngộ với kiểm soát xung đột lợi ích, đánh giá công bằng và xử lý vi phạm một cách có căn cứ. Đối với sáng kiến số, cơ quan cần xác định mục tiêu thử nghiệm, phạm vi được phép, trách nhiệm báo cáo và cách đánh giá kết quả. Việc khuyến khích cán bộ chủ động đề xuất phải đi kèm với hướng dẫn rõ ràng, giúp phân biệt sai sót trong quá trình thử nghiệm được cho phép với hành vi vụ lợi hoặc cố ý làm trái.

Năm là, đánh giá văn hóa liêm chính số bằng bằng chứng từ quy trình và trải nghiệm của người dân. Mỗi cơ quan nên lựa chọn một số chỉ báo phù hợp với nhiệm vụ, chẳng hạn như tỷ lệ quyết định từ chối có nêu căn cứ, mức độ đầy đủ của nhật ký đối với các thao tác nhạy cảm, thời gian xử lý phản ánh và tỷ lệ sai sót được khắc phục. Các chỉ báo này chỉ là gợi ý để thiết kế đánh giá, chưa phải là thang đo đã được kiểm định. Cần quy định rõ cách tính, nguồn dữ liệu và trách nhiệm xác minh; đồng thời đối chiếu kết quả định lượng với việc kiểm tra các trường hợp cụ thể. Số lượng vi phạm được phát hiện tăng có thể phản ánh cơ chế kiểm tra tốt hơn, nên không thể diễn giải đơn giản là liêm chính suy giảm. Việc đánh giá chỉ có ý nghĩa khi giúp nhận diện nguyên nhân, điều chỉnh quy trình và hạn chế động cơ làm đẹp số liệu.

5. Kết luận

Tư tưởng đạo đức trong Sửa đổi lối làm việc có giá trị đối với việc xây dựng văn hóa liêm chính số, gắn kết giữa việc tu dưỡng của cán bộ, phương pháp làm việc và việc kiểm soát quyền lực. Thông qua ba chiều cạnh Liêm, Chính, Trí, bài viết làm rõ yêu cầu sử dụng quyền hạn vì lợi ích công, thực hiện công vụ công bằng và nâng cao năng lực phán đoán trong môi trường dữ liệu. Những yêu cầu này cần được chuyển thành trách nhiệm cụ thể trong từng quy trình, thay vì chỉ thể hiện dưới dạng cam kết đạo đức chung. Đóng góp của bài viết là đề xuất cách liên hệ các giá trị đạo đức với hành vi công vụ số có thể nhận diện, cũng như các điều kiện tổ chức bảo đảm việc thực hiện. Liêm được thể hiện qua việc kiểm soát tư lợi trong sử dụng dữ liệu và quyền truy cập; qua tính trung thực của quy trình, khả năng giải thích và sửa chữa quyết định; qua năng lực kiểm tra thông tin, học hỏi và đổi mới một cách có trách nhiệm. Cách tiếp cận này đồng thời chỉ ra rằng công nghệ không tự tạo ra liêm chính, còn sự tự giác cá nhân cần được hỗ trợ bởi thể chế và cơ chế giám sát phù hợp.

Về tổ chức thực hiện, cơ quan có thẩm quyền cần hoàn thiện hướng dẫn và điều kiện nguồn lực; người đứng đầu cơ quan hành chính chịu trách nhiệm cụ thể hóa chuẩn mực, phân công công việc và kiểm tra kết quả. Cán bộ, công chức có trách nhiệm thực hành đúng giới hạn thẩm quyền, chủ động học tập và báo cáo các bất cập. Người dân và các tổ chức xã hội tham gia giám sát thông qua phản ánh có căn cứ và các kênh được bảo đảm khả năng tiếp cận. Sự phối hợp này giúp kết nối trách nhiệm cá nhân với trách nhiệm của tổ chức trong việc cung cấp dịch vụ công.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2024). Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới.
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 5). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật
Nguyễn Tiến Đảm (2018). “Từ tác phẩm ‘Sửa đổi lối làm việc’ của Chủ tịch Hồ Chí Minh suy nghĩ về công tác cán bộ ở Việt Nam hiện nay”. Tạp chí Khoa học – Đại học Đồng Nai, số 8, tr. 55–62.
OECD (2020). OECD Public Integrity Handbook, OECD Publishing, Paris. DOI: 10.1787/ac8ed8e8-en.
Quốc hội (2025). Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025.