Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa dựa vào khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo: Kinh nghiệm thực tiễn và gợi mở cho tỉnh Hưng Yên

Developing small and medium-sized enterprises through science, technology and innovation: practical experience and policy implications for Hung Yen province

ThS. Nguyễn Thị Thu Hường
Học viện Tài chính Phân hiệu tại tỉnh Hưng Yên
Email: nguyenthithuhuong2@hvtc.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích phương thức phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo qua ba trường hợp điển hình: Bắc Ninh, Quảng Ninh và Đồng Tháp. Sử dụng khung phân tích thống nhất gồm nhu cầu doanh nghiệp, công cụ chính sách, tổ chức thực hiện, kết quả và điều kiện vận dụng, nghiên cứu chỉ ra rằng đổi mới chỉ tạo giá trị khi công nghệ được hấp thụ hiệu quả vào quy trình sản xuất, nhân lực, quản trị và thị trường. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất tỉnh Hưng Yên cần chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang giải quyết bài toán cụ thể, phân tầng doanh nghiệp, phát triển tổ chức trung gian, gắn đổi mới với thị trường và đánh giá chính sách dựa trên kết quả thực tế tại doanh nghiệp.

Từ khóa: Doanh nghiệp nhỏ và vừa; khoa học và công nghệ; đổi mới sáng tạo; chính sách địa phương; tỉnh Hưng Yên.

Abstract: This article analyzes approaches to the development of small and medium-sized enterprises (SMEs) based on science, technology, and innovation through three case studies: Bac Ninh, Quang Ninh, and Dong Thap. Using a unified analytical framework comprising business needs, policy instruments, implementation mechanisms, outcomes, and conditions for application, the study shows that innovation creates value only when technology is effectively integrated into production processes, human resources, management, and the market. Based on the study’s findings, the article recommends that Hung Yen Province shift from providing broad-based support to addressing specific challenges, segmenting enterprises by tier, developing intermediary organizations, aligning innovation with market needs, and evaluating policies based on actual outcomes at the enterprise level.

Keywords: Small and Medium Enterprises (SMEs); Science and Technology; Innovation; Local Policies;Hung Yen Province.

1. Đặt vấn đề

Mặc dù chiếm tỷ trọng lớn về số lượng và vai trò tạo việc làm, quy mô của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) hiện vẫn chưa chuyển hóa tương xứng thành năng lực phát triển. Trong bối cảnh cạnh tranh dựa trên năng suất, dữ liệu và tốc độ, việc phụ thuộc vào lao động giản đơn và quy trình lạc hậu đang giữ doanh nghiệp ở phân khúc giá trị thấp. Vấn đề cốt yếu không chỉ là đầu tư máy móc, phần mềm, mà là năng lực nhận diện điểm nghẽn, làm chủ giải pháp để chuyển hóa đổi mới thành doanh thu.

Về mặt thể chế,Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia “là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại” (Bộ Chính trị, 2024), trong đó “Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể, nguồn lực, động lực chính”. Nghị quyết số 68-NQ/TW tiếp tục đặt ra nhiệm vụ “Hỗ trợ thực chất, hiệu quả doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh” (Bộ Chính trị, 2025). Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW được sửa đổi, bổ sung tại Nghị quyết số 71/NQ-CP (Chính phủ, 2025) và tiếp tục được cập nhật tại Nghị quyết số 11/NQ-CP  (Chính phủ, 2026). Về pháp lý, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa xác lập nguyên tắc: “Việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phải tôn trọng quy luật thị trường, phù hợp với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” (Quốc hội, 2017); Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 (Quốc hội, 2025) cùng Nghị định số 268/2025/NĐ-CP (Chính phủ, 2025b). tạo thêm cơ sở để khuyến khích đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, có chính sách chưa đồng nghĩa với có kết quả. Nhiều chương trình vẫn đo lường bằng số lớp tập huấn hay kinh phí phân bổ, trong khi doanh nghiệp nhận hỗ trợ nhưng không áp dụng được do thiếu nhân lực, đơn hàng và vốn lưu động.

Bài viết trả lời ba câu hỏi: (1) Những rào cản nào khiến doanh nghiệp nhỏ và vừa khó ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo? (2) Địa phương tổ chức hỗ trợ theo những cơ chế nào để tác động trực tiếp đến năng lực doanh nghiệp? (3) Tỉnh Hưng Yên có thể vận dụng bài học gì? Mục tiêu nghiên cứu nhằm nhận diện cơ chế tạo ra kết quả và các điều kiện vận dụng, thay vì sao chép mô hình.

2. Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

2.1. Từ ứng dụng công nghệ đến năng lực đổi mới của doanh nghiệp

Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được hiểu là quá trình doanh nghiệp sử dụng tri thức, công nghệ và phương thức tổ chức mới để nâng cao hiệu quả hoạt động, chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh và sức chống chịu. Cách hiểu này rộng hơn việc đầu tư thiết bị. Theo Sổ tay Oslo của OECD và Eurostat, đổi mới sáng tạo là “một sản phẩm hoặc quy trình mới hoặc được cải tiến (hoặc kết hợp cả hai), khác biệt đáng kể so với các sản phẩm hoặc quy trình trước đó của đơn vị và đã được cung cấp cho người dùng tiềm năng (đối với sản phẩm) hoặc được đơn vị đưa vào sử dụng (đối với quy trình)” (OECD/Eurostat, 2018). Pháp luật Việt Nam cũng tiếp cận theo hướng tương tự khi quy định: “Đổi mới sáng tạo là hoạt động tạo ra sản phẩm mới, dịch vụ mới, quy trình mới, mô hình kinh doanh mới hoặc cải tiến đáng kể so với sản phẩm, dịch vụ, quy trình, mô hình kinh doanh đã có” (Quốc hội, 2025). Như vậy, đổi mới có thể diễn ra trong sản phẩm và dịch vụ, quy trình sản xuất, quản trị, logistics, marketing, mô hình kinh doanh hoặc phương thức tổ chức lao động. Có những đổi mới dựa trên nghiên cứu và phát triển, nhưng nhiều cải tiến thiết thực của doanh nghiệp nhỏ lại bắt đầu từ điều chỉnh quy trình, ứng dụng công nghệ sẵn có, cải tiến thiết bị, khai thác dữ liệu hoặc thay đổi cách kết nối với khách hàng và nhà cung cấp.

Khả năng đổi mới của doanh nghiệp phụ thuộc vào năng lực hấp thụ. Cohen và Levinthal định nghĩa năng lực hấp thụ là “khả năng của doanh nghiệp trong việc nhận ra giá trị của thông tin mới từ bên ngoài, tiếp thu thông tin đó và ứng dụng vào mục đích thương mại” (Wesley M. Cohen, Daniel A. Levinthal, 1990). Năng lực này được tích lũy qua học hỏi, kinh nghiệm, trình độ nhân lực, cơ chế quản trị và các mối liên kết bên ngoài. Các doanh nghiệp có thể tiếp cận cùng một giải pháp nhưng đạt kết quả khác nhau, bởi khả năng chuẩn bị dữ liệu, quy trình, kỹ năng và nguồn lực bổ trợ không giống nhau. Vì vậy, chính sách chỉ cung cấp công nghệ mà không phát triển năng lực hấp thụ dễ dẫn đến tình trạng đầu tư không khai thác hết công suất. Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường không có bộ phận nghiên cứu chuyên trách, khó tự đánh giá công nghệ phức tạp và có khả năng chịu rủi ro thử nghiệm thấp. Họ cần đến chuyên gia tư vấn, đơn vị tích hợp giải pháp, viện nghiên cứu, trường đại học, hiệp hội ngành nghề, doanh nghiệp đầu chuỗi và tổ chức tài chính.

2.2. Rào cản và logic của chính sách hỗ trợ

Có thể nhận diện sáu nhóm rào cản chủ yếu. Thứ nhất, thiếu thông tin và năng lực chẩn đoán: doanh nghiệp có thể biết mình cần đổi mới nhưng chưa xác định được khâu gây tổn thất, giải pháp phù hợp, chi phí toàn vòng đời và cách đo lường hiệu quả. Thứ hai, hạn chế về tài chính: đầu tư công nghệ còn kéo theo chi phí tư vấn, đào tạo, tích hợp, bảo trì và gián đoạn sản xuất, trong khi tài sản bảo đảm và dòng tiền của doanh nghiệp nhỏ thường hạn chế. Thứ ba, thiếu nhân lực: công nghệ khó phát huy hiệu quả nếu thiếu người vận hành, phân tích dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin và cải tiến quy trình. Thứ tư, liên kết yếu: doanh nghiệp khó tiếp cận viện, trường và nhà cung cấp, trong khi cơ sở nghiên cứu thiếu thông tin về nhu cầu sản xuất. Thứ năm, rào cản thị trường: đổi mới không tạo ra lợi ích nếu sản phẩm không có người mua, không đạt tiêu chuẩn hoặc doanh nghiệp không đủ năng lực giao hàng. Thứ sáu, hạn chế trong thực thi chính sách: thủ tục phức tạp, đầu mối phân tán, hỗ trợ ngắn hạn và thiếu theo dõi sau hỗ trợ có thể khiến chi phí tiếp cận lớn hơn giá trị mà doanh nghiệp nhận được. Từ đó, chính sách hiệu quả phải bắt đầu bằng chẩn đoán nhu cầu, chứ không phải bằng một gói trợ cấp có sẵn. Sau chẩn đoán là lựa chọn giải pháp và nhà cung cấp; xác định phần hỗ trợ công tương xứng với lợi ích xã hội; yêu cầu doanh nghiệp cùng đầu tư và cam kết thực hiện; cuối cùng là theo dõi kết quả.

2.3. Khung so sánh ba địa phương

Mỗi trường hợp được xem xét theo năm câu hỏi: (1) doanh nghiệp và ngành đang gặp vấn đề gì; (2) địa phương lựa chọn đối tượng và mục tiêu nào; (3) công cụ, đầu mối và quan hệ đối tác được tổ chức ra sao; (4) bằng chứng cho thấy đầu ra hoặc kết quả gì và còn khoảng trống đánh giá nào; (5) điều kiện nào cho phép vận dụng tại Hưng Yên. Khung này tách thiết kế chính sách khỏi kết quả thực thi, đồng thời làm rõ vai trò của bối cảnh và năng lực doanh nghiệp.

3. Kinh nghiệm của một số địa phương

3.1. Bắc Ninh: Đổi mới công nghệ gắn với nâng cấp sản xuất và chuỗi cung ứng

Giá trị khảo sát ở Bắc Ninh nằm ở mối liên hệ giữa năng lực công nghệ của doanh nghiệp nhỏ và vừa với yêu cầu của sản xuất công nghiệp, nhất là khả năng cung ứng cho doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Doanh nghiệp phải đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng, truy xuất, giao hàng, quản lý quy trình, môi trường và độ ổn định sản lượng. Vì thế, đổi mới công nghệ chỉ có ý nghĩa khi giúp thu hẹp khoảng cách giữa năng lực hiện có với yêu cầu của khách hàng và thị trường.

Các kế hoạch và chương trình được triển khai tại Bắc Ninh cho thấy hai hướng hỗ trợ bổ trợ nhau. Một là, tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai Đề án chuyển đổi số các doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026 – 2030 (UBND tỉnh Bắc Ninh, 2026), trong đó tập trung vào các hoạt động “đánh giá mức độ sẵn sàng, thử nghiệm và ứng dụng sản phẩm, giải pháp về chuyển đổi số, tư vấn về chuyển đổi số, đào tạo, nâng cao năng lực số” (Việt Hùng, 20/5/2026). Hai là, tỉnh tổ chức thực hiện Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 – 2035 được phê duyệt tại Quyết định số 929/QĐ-TTg theo quan điểm “Phát triển công nghiệp hỗ trợ phải gắn liền với đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, tiến tới tự lực, tự chủ” (Thủ tướng Chính phủ, 2026). Trên địa bàn tỉnh, nội dung này được triển khai theo hướng gắn nâng cấp công nghiệp hỗ trợ với đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và kết nối doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp FDI. Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ áp dụng tiêu chuẩn, công cụ quản lý tiên tiến, công bố hợp chuẩn và truy xuất nguồn gốc góp phần thu hẹp khoảng cách giữa năng lực sản xuất với yêu cầu thị trường (Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Ninh, 2026).

Liên kết với doanh nghiệp lớn có thể tạo ra lực kéo công nghệ từ phía thị trường. Khi nhà mua hàng công bố tiêu chuẩn, yêu cầu chất lượng và kế hoạch nội địa hóa, doanh nghiệp nhỏ có căn cứ để đầu tư. Hoạt động đánh giá nhà cung cấp, tư vấn tại chỗ và thử nghiệm sản phẩm giúp giảm khoảng cách thông tin. Địa phương có thể hỗ trợ chẩn đoán, đào tạo, chứng nhận và đổi mới thiết bị, còn quyết định mua hàng vẫn thuộc về doanh nghiệp đầu chuỗi. Cơ chế này hạn chế tình trạng hỗ trợ theo phong trào, không gắn với đầu ra.

3.2. Quảng Ninh: Bắt đầu từ nhu cầu công nghệ và đánh giá năng lực doanh nghiệp

Trường hợp Quảng Ninh nổi bật ở việc chẩn đoán trước khi thiết kế hỗ trợ. Kế hoạch số 280/KH-UBND ngày 17/6/2026 giao nhiệm vụ xây dựng danh mục nhu cầu công nghệ và đánh giá trình độ công nghệ của doanh nghiệp thuộc các ngành kinh tế chủ lực. Theo thông tin được công bố, tỉnh dự kiến khảo sát khoảng 50 – 80 doanh nghiệp, đánh giá các yếu tố thiết bị, nhân lực, thông tin, quản trị và nghiên cứu, phát triển; kết quả được dùng để xây dựng cơ sở dữ liệu, kết nối cung – cầu công nghệ và đề xuất giải pháp hỗ trợ. Sở Khoa học và Công nghệ làm đầu mối, phối hợp với các cơ quan liên quan và kết nối doanh nghiệp với các tổ chức khoa học và công nghệ (Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh, 2026).

Giá trị của cách tiếp cận này là chuyển trọng tâm từ câu hỏi “địa phương có chương trình gì” sang câu hỏi “doanh nghiệp cần công nghệ nào và có thể tiếp nhận đến đâu”. Đánh giá trình độ công nghệ không nên dừng ở việc kiểm kê máy móc mà cần xem xét đồng thời thiết bị, nhân lực, thông tin, quản trị và nghiên cứu, phát triển. Một dây chuyền cũ có thể chưa phải là điểm nghẽn chính nếu doanh nghiệp chưa kiểm soát được chất lượng đầu vào; phần mềm mới cũng không giải quyết được vấn đề tồn kho nếu quy trình ghi nhận và phân công chưa rõ ràng. Chẩn đoán tổng thể giúp tránh lựa chọn giải pháp trước khi xác định đúng vấn đề.

Tuy vậy, quy mô khảo sát dự kiến 50 – 80 doanh nghiệp không thể mặc nhiên đại diện cho toàn tỉnh. Mẫu khảo sát cần được phân tầng theo ngành, quy mô, địa bàn và mức độ sẵn sàng; kết quả nên được hiểu là chẩn đoán sâu cho nhóm ưu tiên. Cần công bố phương pháp đánh giá, cách lựa chọn doanh nghiệp và cơ chế bảo mật thông tin. Đánh giá công nghệ cũng phải gắn với hiệu quả kinh tế và thị trường, tránh đồng nhất công nghệ hiện đại với hiệu quả cao.

3.3. Đồng Tháp: Hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo gắn với lợi thế địa phương

Đồng Tháp gợi mở một cách nhìn rộng hơn về đổi mới sáng tạo ở doanh nghiệp nhỏ và vừa. Giá trị gia tăng nhiều khi đến từ sự phối hợp cải tiến ở các khâu giống, canh tác, bảo quản, chế biến, tiêu chuẩn, bao bì, thương hiệu, logistics và phân phối. Cải tiến đồng bộ có thể giảm hao hụt, kéo dài thời gian bảo quản, nâng cao tiêu chuẩn và mở rộng khả năng tiếp cận người mua. Hệ sinh thái khởi nghiệp hỗ trợ nhận diện ý tưởng, cố vấn, đào tạo, kết nối vốn và thử nghiệm mô hình kinh doanh. Kế hoạch số 572/KH-UBND triển khai Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026 – 2030 (UBND tỉnh Đồng Tháp, 2026). đặt mục tiêu đến năm 2030 hỗ trợ hình thành ít nhất 150 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo có khả năng tăng trưởng nhanh, xây dựng không gian hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo cấp tỉnh, thu hút các quỹ đầu tư và thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm, dịch vụ. Kế hoạch hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo năm 2026 cùng các hoạt động khuyến khích đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp cho thấy địa phương đang kết nối khởi nghiệp với kinh tế bản địa, nông nghiệp xanh, chế biến và ứng dụng công nghệ (UBND tỉnh Đồng Tháp, 2026). Những nội dung này phản ánh thiết kế chính sách và mục tiêu phát triển; mức độ đạt được mục tiêu cần được đánh giá bằng dữ liệu sau triển khai.

Đổi mới sáng tạo dựa trên nông nghiệp và sản phẩm địa phương đòi hỏi ba mối liên kết. Một là, doanh nghiệp chế biến phải gắn với vùng nguyên liệu để đưa công nghệ và tiêu chuẩn về khâu sản xuất. Hai là, truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và chứng nhận phải mở được kênh bán hàng hoặc củng cố niềm tin của người mua. Ba là, đổi mới cần gắn với phát triển bền vững thông qua tận dụng phụ phẩm, giảm hao hụt, tiết kiệm năng lượng và thích ứng với rủi ro khí hậu. Những yêu cầu này đặc biệt quan trọng với doanh nghiệp nhỏ vốn khó tự đầu tư đồng bộ. Mặt khác, chính sách hệ sinh thái khởi nghiệp có thể ưu tiên quá mức cho doanh nghiệp mới thành lập, trong khi số đông doanh nghiệp hiện hữu cũng cần đổi mới để tồn tại và nâng cấp. Hỗ trợ khởi nghiệp không tự động cải thiện năng suất của toàn khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chính sách cần phân biệt doanh nghiệp khởi nghiệp có tiềm năng tăng trưởng nhanh với doanh nghiệp truyền thống cần cải tiến công nghệ, quản trị và thị trường, bởi hai nhóm này khác nhau về nhu cầu vốn, mức độ rủi ro và tiêu chí đánh giá kết quả.

3.4. So sánh và khái quát cơ chế tạo ra kết quả

Ba trường hợp có điểm xuất phát khác nhau: Bắc Ninh xuất phát từ yêu cầu nâng cấp sản xuất và tham gia chuỗi cung ứng; Quảng Ninh từ nhận diện nhu cầu, đánh giá năng lực công nghệ và kết nối; Đồng Tháp từ hệ sinh thái khởi nghiệp và chuỗi giá trị gắn với lợi thế địa phương. Sự khác biệt này phản ánh cấu trúc ngành và năng lực doanh nghiệp, chứ không chỉ là lựa chọn kỹ thuật của cơ quan quản lý (Bảng 1).

Các trường hợp có bốn điểm chung. Thứ nhất, công nghệ phải gắn với nhu cầu kinh tế cụ thể: đạt chuẩn nhà cung ứng, tháo gỡ điểm nghẽn của ngành hoặc thương mại hóa sản phẩm. Thứ hai, chủ thể trung gian giúp doanh nghiệp chuyển từ nhận diện vấn đề sang triển khai giải pháp. Thứ ba, kết quả phụ thuộc vào nhân lực, quản trị, tài chính, dữ liệu, tiêu chuẩn và thị trường. Thứ tư, cần đánh giá sau hỗ trợ, vì thay đổi chỉ có ý nghĩa khi doanh nghiệp duy trì được.

Bảng 1. So sánh cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới sáng tạo ở ba địa phương

Tiêu chíBắc NinhQuảng NinhĐồng Tháp
Điểm xuất phátYêu cầu nâng cấp sản xuất, tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp FDINhu cầu công nghệ và trình độ công nghệ của doanh nghiệp ngành chủ lựcLợi thế nông nghiệp, chế biến và sản phẩm địa phương
Công cụ chủ yếuChuyển đổi số doanh nghiệp; phát triển công nghiệp hỗ trợ; tiêu chuẩn, hợp chuẩn, truy xuất nguồn gốcKhảo sát, đánh giá trình độ công nghệ; cơ sở dữ liệu; kết nối cung – cầu công nghệHệ sinh thái khởi nghiệp: không gian hỗ trợ, cố vấn, kết nối vốn, thương mại hóa
Lực kéo đổi mớiTiêu chuẩn và đơn hàng của doanh nghiệp đầu chuỗiKết quả chẩn đoán làm căn cứ thiết kế hỗ trợThị trường nông sản, chế biến và nhà đầu tư
Giới hạn cần lưu ýDoanh nghiệp đầu tư nhưng chưa chắc được nhà mua hàng chấp nhậnMẫu khảo sát hẹp, chưa đại diện cho toàn tỉnhDễ thiên lệch về doanh nghiệp mới, bỏ sót doanh nghiệp hiện hữu
Gợi mở cho Hưng YênChương trình nâng cấp nhà cung ứng có cam kết của bên muaBản đồ nhu cầu đổi mới và hồ sơ bài toán doanh nghiệpHỗ trợ theo chuỗi sản phẩm nông nghiệp, chế biến có khả năng thương mại hóa
Nguồn: Tác giả tổng hợp.

Bằng chứng cần được diễn giải thận trọng. Một số văn bản là kế hoạch mới, phản ánh mục tiêu và thiết kế chính sách. Chúng cho phép xem xét định hướng, mức độ bám sát nhu cầu và phân công thực hiện, nhưng chưa chứng minh được tác động bền vững. Vì vậy, “kinh nghiệm” ở đây trước hết là cách lựa chọn vấn đề, thiết kế công cụ và tổ chức kết nối. Việc đánh giá kết quả cần được tiếp tục bằng khảo sát doanh nghiệp, dữ liệu trước – sau và đánh giá độc lập. Khung so sánh cũng giúp phân biệt điều kiện chuyển giao với hình thức tổ chức bề ngoài. Một địa phương có thể lập trung tâm, ban hành kế hoạch hoặc tổ chức hội nghị kết nối, nhưng các hình thức ấy chỉ tạo ra giá trị khi doanh nghiệp tiếp cận được dịch vụ có chất lượng và có chủ thể theo sát quá trình áp dụng. Do đó, kinh nghiệm cần được rút ra ở cấp độ cơ chế: ai xác định nhu cầu, ai kiểm chứng giải pháp, ai chia sẻ chi phí và ai chịu trách nhiệm về kết quả. Cách tiếp cận này tránh biến nghiên cứu trường hợp thành danh mục mô hình để sao chép, đồng thời tạo căn cứ thực tiễn cho việc lựa chọn công cụ phù hợp với Hưng Yên.

4. Bài học và hàm ý chính sách cho tỉnh Hưng Yên

4.1. Đặt chính sách trong không gian và cơ cấu kinh tế của tỉnh Hưng Yên hiện nay

Việc vận dụng kinh nghiệm các địa phương cần bắt đầu từ việc xác định đúng đối tượng và không gian nghiên cứu. Tỉnh Hưng Yên hiện nay được hình thành trên cơ sở sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025 (Quốc hội, 2025); vì vậy, dữ liệu, quy hoạch và chương trình của giai đoạn trước phải được tách rõ theo địa giới cũ, còn đánh giá hiện nay phải sử dụng địa giới và cơ cấu thống kê mới. Không thể cộng gộp số liệu khác thời kỳ hoặc so sánh trực tiếp doanh nghiệp trên các địa bàn cũ khi chưa kiểm tra định nghĩa, phạm vi và phương pháp tính.

Nghị quyết số 821/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2026 – 2030 đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân 10 – 11%/năm, phấn đấu trên 11%; đến năm 2030, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm khoảng 60% GRDP (HĐND tỉnh Hưng Yên, 2025). Kế hoạch phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 5 năm giai đoạn 2026 – 2030 nhấn mạnh vai trò trung tâm của doanh nghiệp và lấy hiệu quả phát triển làm thước đo (UBND tỉnh Hưng Yên, 2026a). Các nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tiếp tục được cụ thể hóa trong kế hoạch giai đoạn 2026 – 2030 (UBND tỉnh Hưng Yên, 2026b); định hướng phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo theo hướng mở, tăng cường liên kết Nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp cũng đang được xây dựng thành đề án (Cổng Thông tin điện tử tỉnh Hưng Yên, 2026) Những định hướng này tạo cơ sở để gắn hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa với nâng cao năng suất, nội địa hóa, chế biến, đổi mới công nghệ và phát triển kinh tế số. Thách thức đặt ra là năng lực điều phối.

Các công cụ hỗ trợ doanh nghiệp hiện nằm rải rác ở nhiều lĩnh vực: khoa học và công nghệ, công thương, tài chính, nông nghiệp, đào tạo nghề, chuyển đổi số và xúc tiến thương mại. Nếu mỗi cơ quan tổ chức một chương trình riêng, doanh nghiệp phải tìm hiểu và nộp hồ sơ nhiều lần, còn tỉnh khó tổng hợp kết quả. Cần một cơ chế lấy nhu cầu doanh nghiệp làm điểm vào, sử dụng chung hồ sơ bài toán và giao đầu mối theo dõi đến khi có kết quả. Cơ chế điều phối không nhất thiết phải tạo thêm một tầng tổ chức mới. Trọng tâm là thống nhất điểm tiếp nhận, tiêu chí lựa chọn, hồ sơ theo dõi và quy trình phối hợp giữa các cơ quan đang có chức năng liên quan. Mỗi doanh nghiệp nên được quản lý theo một hồ sơ bài toán, trong đó ghi rõ hiện trạng, mục tiêu, giải pháp, phần đóng góp của doanh nghiệp, cơ quan hỗ trợ và thời hạn đánh giá. Cơ chế này vừa giảm chi phí giao dịch, vừa giúp tỉnh nhận diện những nhu cầu lặp lại để thiết kế hỗ trợ dùng chung, thay vì xử lý từng hồ sơ rời rạc.

4.2. Những bài học cần chuyển hóa thành nguyên tắc hành động

Thứ nhất, chuyển từ hỗ trợ theo danh mục sang hỗ trợ theo bài toán. Chương trình cần xác định doanh nghiệp đang mất năng suất, chất lượng, thị trường hay khả năng giao hàng ở khâu nào, thay vì bắt đầu từ thiết bị hoặc phần mềm có thể cấp. Việc chẩn đoán phải dựa trên quy trình thực tế, trao đổi với lãnh đạo và người lao động, rồi xác định mục tiêu cải thiện. Cách làm này giảm nguy cơ đầu tư công nghệ không phù hợp.

Thứ hai, coi trọng năng lực hấp thụ ngang với khả năng tiếp cận công nghệ. Gói đầu tư cần tính đến nhân lực vận hành, dữ liệu, bảo trì, quản trị quy trình và chi phí sau đầu tư. Đào tạo phải gắn với thiết bị, nền tảng hoặc quy trình mà doanh nghiệp sử dụng; tư vấn cần tiếp tục hỗ trợ điều chỉnh sau khi lắp đặt. Nếu doanh nghiệp không duy trì được giải pháp sau khi kết thúc tài trợ, chương trình chưa tạo ra năng lực tự thân.

Thứ ba, đưa liên kết thị trường vào chính sách công nghệ. Doanh nghiệp đổi mới để bán được hàng, giảm lỗi, đáp ứng yêu cầu của người mua hoặc mở kênh phân phối. Tỉnh cần kết nối doanh nghiệp với nhà mua hàng, hệ thống bán lẻ, thương mại điện tử, tổ chức tiêu chuẩn và dịch vụ logistics. Đối với nông nghiệp, các khâu vùng nguyên liệu, chế biến, kiểm nghiệm, thương hiệu, truy xuất và tiêu thụ phải được tổ chức thành chuỗi.

Thứ tư, xây dựng tổ chức trung gian có trách nhiệm và chất lượng. Trung tâm hỗ trợ, hiệp hội, cơ sở nghiên cứu và đơn vị tư vấn cần thực hiện chức năng cụ thể: chẩn đoán, môi giới công nghệ, kiểm chứng, đào tạo, thử nghiệm, chứng nhận và kết nối vốn, thị trường. Các tổ chức này cần được đánh giá bằng số bài toán được giải quyết, mức độ hài lòng của doanh nghiệp và khả năng duy trì kết quả, không chỉ bằng số sự kiện tổ chức.

4.3. Định hướng chính sách và tổ chức thực hiện tại tỉnh Hưng Yên

Một là, lập bản đồ nhu cầu đổi mới của doanh nghiệp nhỏ và vừa theo ngành, quy mô, địa bàn và mức độ sẵn sàng. Bản đồ phải thể hiện được các bài toán về công nghệ, chất lượng, nhân lực, quản trị, dữ liệu và thị trường, không chỉ liệt kê doanh nghiệp. Có thể kết hợp khảo sát diện rộng để phân tầng với chẩn đoán sâu tại chỗ để hiểu nguyên nhân. Dữ liệu cần được cập nhật thường xuyên và bảo đảm bí mật kinh doanh.

Hai là, thiết kế gói hỗ trợ theo các chặng đổi mới: tư vấn và kiểm toán công nghệ, quy trình hoặc chuyển đổi số; thử nghiệm quy mô nhỏ, đo lường hiệu quả và điều chỉnh; đầu tư mở rộng, đào tạo, tiêu chuẩn hóa và kết nối khách hàng; cuối cùng là đánh giá, duy trì hoặc nhân rộng. Cấu trúc này tập trung ngân sách vào những rủi ro và chi phí mà doanh nghiệp khó tự gánh, đồng thời giữ doanh nghiệp ở vị trí chịu trách nhiệm chính về quyết định đầu tư kinh doanh.

Ba là, phát triển chương trình nâng cấp nhà cung ứng trong những ngành có khả năng hình thành liên kết sản xuất. Cơ quan quản lý và hiệp hội cần cùng doanh nghiệp đầu chuỗi công bố nhu cầu, tiêu chuẩn, quy trình đánh giá và cơ hội thử nghiệm. Doanh nghiệp nhỏ được hỗ trợ xác định khoảng cách, cải thiện quy trình, đo kiểm, chứng nhận và nâng cao kỹ năng. Bên mua cần cam kết đánh giá nhà cung ứng sau nâng cấp; nếu không, doanh nghiệp có thể đầu tư mà vẫn không tiếp cận được chuỗi cung ứng.

Bốn là, đối với nông nghiệp, chế biến và sản phẩm địa phương, tập trung vào các khâu có khả năng thương mại hóa: bảo quản sau thu hoạch, chế biến sâu, kiểm soát chất lượng, tiết kiệm năng lượng, tận dụng phụ phẩm, truy xuất nguồn gốc, bao bì và bán hàng. Hỗ trợ cần gắn doanh nghiệp với hợp tác xã, vùng nguyên liệu và tiêu chuẩn thị trường. Thay vì tài trợ dàn trải, tỉnh có thể lựa chọn một số chuỗi sản phẩm để kết nối nghiên cứu ứng dụng, thử nghiệm, chứng nhận và giao dịch.

Năm là, đổi mới vai trò của tổ chức trung gian và cơ sở nghiên cứu. Tỉnh có thể lập đầu mối tiếp nhận nhu cầu công nghệ, còn năng lực chuyên môn dựa vào mạng lưới chuyên gia, viện, trường, trung tâm thử nghiệm, đơn vị tư vấn và nhà cung cấp đủ năng lực. Cần có quy trình ghép nối công khai, thẩm định độc lập và cơ chế công bố xung đột lợi ích khi đơn vị tư vấn đồng thời là bên bán thiết bị. Hoạt động nghiên cứu phải xuất phát từ nhu cầu sử dụng và khả năng thương mại hóa.

Sáu là, hỗ trợ chuyển đổi số theo hướng thực chất. Trước khi lựa chọn nền tảng, cần đánh giá mức độ sẵn sàng, dữ liệu, quy trình, khả năng tích hợp, an toàn thông tin, chi phí thuê bao và khả năng chuyển đổi nhà cung cấp. Ưu tiên các bài toán có lợi ích đo lường được như quản trị đơn hàng, kho, chất lượng, truy xuất, bán hàng và kế toán. Mô hình dịch vụ chuyên gia dùng chung có thể giảm chi phí cho doanh nghiệp siêu nhỏ.

Bảy là, thiết kế công cụ tài chính theo đặc điểm rủi ro. Hỗ trợ không hoàn lại phù hợp với tư vấn, đào tạo, thử nghiệm và những nhiệm vụ có lợi ích lan tỏa; đầu tư thiết bị hoặc mở rộng quy mô cần xem xét các kênh tín dụng, bảo lãnh, cho thuê tài chính và vốn tư nhân. Mỗi công cụ phải xác định rõ đối tượng, mức hỗ trợ, tỷ lệ đối ứng, điều kiện hoàn trả, tiêu chí nghiệm thu và cơ chế thu hồi khi sử dụng sai mục đích.

Tám là, nâng cao chất lượng đánh giá bằng cách tách ba lớp chỉ số: đầu vào và hoạt động; đầu ra hỗ trợ; kết quả tại doanh nghiệp. Có thể theo dõi tỷ lệ lỗi, thời gian sản xuất, chi phí năng lượng, năng suất lao động, doanh thu từ sản phẩm mới, tiêu chuẩn đạt được, hợp đồng hoặc khách hàng mới và khả năng duy trì sau một năm. Chỉ số phải phù hợp với từng hình thức hỗ trợ. Khi có điều kiện, cần so sánh nhóm doanh nghiệp tham gia với nhóm tương đồng không tham gia để ước lượng tác động.

Về tổ chức thực hiện, cần giao một đầu mối điều phối liên ngành chịu trách nhiệm tổng hợp nhu cầu, phối hợp ngân sách, kết nối tổ chức hỗ trợ và báo cáo kết quả. Các sở, ngành quản lý chuyên môn theo chức năng nhưng sử dụng chung quy trình tiếp nhận, chẩn đoán, lựa chọn hỗ trợ và theo dõi doanh nghiệp. Chính quyền cấp cơ sở phát hiện nhu cầu, cung cấp thông tin và hỗ trợ thủ tục; không giao nhiệm vụ đánh giá công nghệ chuyên sâu khi chưa đủ năng lực. Hiệp hội doanh nghiệp tham gia phản biện tiêu chí, huy động doanh nghiệp lớn và phản hồi về khả năng tiếp cận chính sách.

5. Kết luận

Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là quá trình nâng cấp năng lực sản xuất, quản trị và tiếp cận thị trường, chứ không đơn thuần là mua sắm công nghệ. Cốt lõi là giúp doanh nghiệp nhận diện đúng vấn đề, lựa chọn giải pháp phù hợp, hấp thụ và làm chủ giải pháp, rồi chuyển hóa đổi mới thành kết quả kinh tế có thể kiểm chứng. Chính sách phải gắn công nghệ với con người, quy trình, tài chính và thị trường.

Đối với Hưng Yên, yêu cầu đặt ra là gắn các định hướng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với một cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có đầu mối, có phân tầng, có dữ liệu và có trách nhiệm đến cùng. Chính sách cần ưu tiên bài toán cụ thể, kết nối doanh nghiệp với tổ chức trung gian và thị trường, phát triển năng lực hấp thụ, rồi đánh giá bằng các chỉ số về năng suất, chất lượng, chi phí, doanh thu, tiêu chuẩn và khả năng duy trì đổi mới. Dữ liệu phải được chuẩn hóa theo địa giới và cơ cấu kinh tế hiện nay. Chính sách chỉ thực sự thành công khi doanh nghiệp duy trì được năng lực đổi mới, nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và đóng góp vào tăng trưởng bền vững của địa phương.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024, về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025, về phát triển kinh tế tư nhân.
Chính phủ (2025a). Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025, về việc sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị.
Chính phủ (2026). Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 14/01/2026, sửa đổi, bổ sung, cập nhật Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025.
Chính phủ (2025b). Nghị định số 268/2025/NĐ-CP, ngày 14/10/2025, quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về đổi mới sáng tạo.
Cổng Thông tin điện tử tỉnh Hưng Yên (2026). Hưng Yên: Định hướng phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo theo hướng mở, tăng cường liên kết Nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp”. https://hungyen.gov.vn/hung-yen-dinh-huong-phat-trien-he-sinh-thai-doi-moi-sang-tao-theo-huong-mo-tang-cuong-lien-ket-nha-n-c285601.html.
HĐND tỉnh Hưng Yên (2025). Nghị quyết số 821/NQ-HĐND ngày 31/12/2025, về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2026 – 2030 tỉnh Hưng Yên.
OECD/Eurostat (2018). Oslo Manual 2018: Guidelines for Collecting, Reporting and Using Data on Innovation. 4th Edition, OECD Publishing, Paris/Eurostat, Luxembourg, p. 20, https://doi.org/10.1787/9789264304604-en.
Quốc hội (2017). Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017.
Quốc hội (2025). Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025.
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Ninh (2026). Kế hoạch số 62/KH-SKHCN ngày 27/02/2026, về hỗ trợ áp dụng tiêu chuẩn, công cụ quản lý tiên tiến, công bố hợp chuẩn và truy xuất nguồn gốc.
Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh (2026). Quảng Ninh: Triển khai xây dựng danh mục nhu cầu công nghệ và đánh giá trình độ công nghệ doanh nghiệp”. https://quangninh.gov.vn/So/sokhoahoccongnghe/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=9744.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 25/5/2026, phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 – 2035.
UBND tỉnh Bắc Ninh (2026). Kế hoạch số 176/KH-UBND ngày 15/5/2026, triển khai Đề án chuyển đổi số các doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026 – 2030 trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
UBND tỉnh Đồng Tháp (2026a). Kế hoạch số 572/KH-UBND ngày 04/5/2026, triển khai Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026 – 2030, định hướng đến năm 2045.
UBND tỉnh Đồng Tháp (2026b). Kế hoạch số 636/KH-UBND ngày 12/5/2026, về hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh năm 2026.
UBND tỉnh Hưng Yên (2026a). Kế hoạch số 277/KH-UBND ngày 13/7/2026 phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 5 năm giai đoạn 2026 – 2030.
UBND tỉnh Hưng Yên (2026b). Kế hoạch số 294/KH-UBND ngày 27/7/2026, về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026 – 2030, https://hungyen.gov.vn/ke-hoach-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-tinh-hung-yen-giai-doan-202-c287338.html.
Việt Hùng (20/5/2026). Bắc Ninh thúc đẩy 15.000 doanh nghiệp chuyển đổi số đến 2030. Bnews – Thông tấn xã Việt Nam. https://bnews.vn/bac-ninh-thuc-day-15-000-doanh-nghiep-chuyen-doi-so-den-2030/421828.html.
Wesley M. Cohen, Daniel A. Levinthal (1990). “Absorptive Capacity: A New Perspective on Learning and Innovation”. Administrative Science Quarterly, Vol. 35, No. 1, 1990, p. 128, https://doi.org/10.2307/2393553.