State management of distribution channel development for small and medium-sized enterprises in Hanoi
ThS. Ngô Trường An
Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia Việt Nam
Email: tuongan222111@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh chuyển đổi số và kinh tế số phát triển nhanh, kênh phân phối của doanh nghiệp nhỏ và vừa đang chuyển dịch từ mô hình truyền thống sang mô hình đa kênh, hợp kênh và dựa trên nền tảng số. Sự thay đổi này vừa mở ra cơ hội mở rộng thị trường, giảm chi phí tiếp cận khách hàng, vừa đặt ra yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước về thể chế, hạ tầng số, thương mại điện tử, logistics, dữ liệu, nhân lực và bảo vệ người tiêu dùng. Bài viết phân tích cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với phát triển kênh phân phối của doanh nghiệp nhỏ và vừa; đánh giá thực trạng trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2022 – 2025; nhận diện những kết quả, hạn chế và nguyên nhân; từ đó, đề xuất các giải pháp đến năm 2030 theo hướng chuyển từ hỗ trợ riêng lẻ sang kiến tạo hệ sinh thái phân phối số, quản lý dựa trên dữ liệu và lấy kết quả phát triển của doanh nghiệp làm thước đo.
Từ khóa: Quản lý nhà nước, doanh nghiệp nhỏ và vừa, kênh phân phối, chuyển đổi số, thương mại điện tử, Hà Nội.
Abstract: Against the backdrop of digital transformation and the rapid growth of the digital economy, the distribution channels of small and medium-sized enterprises are shifting from traditional models to multichannel, omnichannel, and digital-platform-based models. This shift not only opens up opportunities for market expansion and reduces customer acquisition costs but also poses new challenges for government management regarding institutional frameworks, digital infrastructure, e-commerce, logistics, data, human resources, and consumer protection. This article analyzes the theoretical foundation for government management regarding the development of distribution channels for small and medium-sized enterprises; assesses the current situation in Hanoi during the 2022–2025 period; identifies achievements, limitations, and their underlying causes; and, based on this, proposes solutions through 2030 aimed at shifting from isolated support measures to building a digital distribution ecosystem, data-driven management, and using business development outcomes as the benchmark.
Keywords: Government regulation; small and medium-sized enterprises; distribution channels; digital transformation; e-commerce; Hanoi.
1. Đặt vấn đề
Doanh nghiệp nhỏ và vừa giữ vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội của thành phố Hà Nội. Theo UBND thành phố Hà Nội, tính đến hết năm 2024, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 98,2% tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập trên địa bàn thành phố, tạo việc làm cho 55,1% lao động và đóng góp trên 40% GDP của thành phố. Những con số này cho thấy khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa giữ vai trò quan trọng trong tạo việc làm, duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của Thủ đô (UBND thành phố Hà Nội, 2025). Quy mô lớn của khu vực này tạo ra nhu cầu rất lớn về phát triển thị trường, mở rộng mạng lưới phân phối và nâng cao khả năng tham gia chuỗi cung ứng.
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế số, phương thức phân phối hàng hóa và dịch vụ có sự thay đổi sâu sắc. Doanh nghiệp không còn phụ thuộc hoàn toàn vào cửa hàng vật lý, đại lý, nhà bán buôn hoặc nhà bán lẻ truyền thống mà có thể tiếp cận khách hàng thông qua website, sàn thương mại điện tử, mạng xã hội, livestream, ứng dụng di động và các nền tảng trung gian số. Điều này làm xuất hiện mô hình phân phối đa kênh và hợp kênh, trong đó các kênh bán hàng, thanh toán, logistics, chăm sóc khách hàng và dữ liệu được kết nối ngày càng chặt chẽ.
Quá trình này tạo cơ hội đáng kể cho doanh nghiệp nhỏ và vừa bởi doanh nghiệp có thể tiếp cận thị trường rộng hơn mà không nhất thiết phải đầu tư một hệ thống phân phối vật lý quy mô lớn. Tuy nhiên, chuyển đổi số kênh phân phối cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải có năng lực công nghệ, dữ liệu, nhân lực, tài chính và quản trị. Đây là những nguồn lực mà doanh nghiệp nhỏ và vừa thường có hạn chế hơn so với doanh nghiệp lớn.
Thực tế phát triển kinh tế Hà Nội cho thấy, quy mô thị trường và hệ thống dịch vụ hỗ trợ phân phối đang mở rộng nhanh. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2023 đạt 776,1 nghìn tỷ đồng, tăng 10,4% so với năm 2022 (Cục Thống kê thành phố Hà Nội, 2024); năm 2024 đạt 853,3 nghìn tỷ đồng, tăng 10,8% so với năm 2023 (Cục Thống kê thành phố Hà Nội, 2025); đến năm 2025 đạt 962,9 nghìn tỷ đồng, tăng 12,7% so với năm 2024 (Sở Tài chính thành phố Hà Nội, 2026).
Đồng thời, hệ thống vận tải, logistics và bưu chính chuyển phát tiếp tục tăng trưởng mạnh. Năm 2024, doanh thu hoạt động vận tải và bưu chính chuyển phát của Hà Nội đạt 223,9 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% so với năm 2023; trong đó doanh thu hoạt động hỗ trợ vận tải đạt 94,8 nghìn tỷ đồng (Cục Thống kê thành phố Hà Nội, 2025).
Năm 2025, doanh thu vận tải và bưu chính chuyển phát đạt 259,3 nghìn tỷ đồng, tăng 15,9%, trong đó dịch vụ kho bãi và hỗ trợ vận tải tăng 18,3%, cho thấy năng lực cung ứng các dịch vụ hậu cần và hỗ trợ lưu thông hàng hóa trên địa bàn tiếp tục được mở rộng (Sở Tài chính thành phố Hà Nội, 2026). Những thay đổi trên cho thấy, phát triển kênh phân phối của doanh nghiệp nhỏ và vừa không còn chỉ là vấn đề quản trị nội bộ của doanh nghiệp mà ngày càng phụ thuộc vào chất lượng môi trường kinh doanh, hạ tầng số, logistics, thương mại điện tử, thanh toán, dữ liệu và chính sách hỗ trợ của Nhà nước.
Đặc biệt, Hà Nội đã ban hành Kế hoạch số 232/KH-UBND ngày 18/6/2026 về chuyển đổi số các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2026 – 2030 (UBND thành phố Hà Nội, 2026), đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực chuyển đổi số, hỗ trợ doanh nghiệp lựa chọn giải pháp phù hợp và chuyển từ hỗ trợ theo hoạt động sang hỗ trợ theo kết quả. Đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục đổi mới quản lý nhà nước đối với phát triển kênh phân phối số của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Bài viết tiếp cận quản lý nhà nước đối với phát triển kênh phân phối theo hướng kiến tạo hệ sinh thái, trong đó Nhà nước không trực tiếp thay thế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà tập trung tạo lập môi trường thể chế, hạ tầng, dữ liệu, dịch vụ hỗ trợ và cơ chế liên kết để doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng phát triển các kênh phân phối hiện đại.
2. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với phát triển kênh phân phối của doanh nghiệp nhỏ và vừa
2.1. Phát triển kênh phân phối của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh chuyển đổi số
Kênh phân phối là hệ thống các tổ chức, cá nhân và phương thức tham gia vào quá trình đưa sản phẩm, dịch vụ từ doanh nghiệp đến khách hàng cuối cùng. Trong mô hình truyền thống, kênh phân phối có thể bao gồm nhà sản xuất, nhà bán buôn, nhà bán lẻ và người tiêu dùng.
Chuyển đổi số làm thay đổi cấu trúc của hệ thống này. Doanh nghiệp có thể đồng thời sử dụng cửa hàng vật lý, website, sàn thương mại điện tử, mạng xã hội, ứng dụng di động và các nền tảng bán hàng khác. Vì vậy, kênh phân phối hiện đại có xu hướng chuyển từ đơn kênh sang đa kênh và từ đa kênh sang hợp kênh.
Trong mô hình hợp kênh, khách hàng có thể bắt đầu quá trình mua hàng trên một nền tảng, thực hiện thanh toán trên một nền tảng khác và nhận hàng thông qua hệ thống logistics tích hợp. Dữ liệu về khách hàng, sản phẩm, tồn kho và đơn hàng được kết nối giữa các kênh. Do đó, có thể xem kênh phân phối số là một hệ thống gồm năm thành tố cơ bản: nền tảng số; dữ liệu khách hàng; hoạt động marketing và bán hàng; logistics – giao nhận; thanh toán và dịch vụ sau bán hàng.
2.2. Quản lý nhà nước đối với phát triển kênh phân phối của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Quản lý nhà nước đối với phát triển kênh phân phối của DNNVV được hiểu là tổng thể các hoạt động của Nhà nước nhằm xây dựng và thực thi thể chế, tạo lập môi trường kinh doanh, phát triển hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ, thúc đẩy thị trường, kết nối chuỗi cung ứng, hỗ trợ chuyển đổi số và bảo đảm cạnh tranh lành mạnh trong quá trình phát triển các kênh phân phối của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Theo cách tiếp cận này, quản lý nhà nước gồm 8 nhóm nội dung chủ yếu: (1) Thể chế: hoàn thiện chính sách về thương mại, thương mại điện tử, giao dịch điện tử, dữ liệu, bảo vệ người tiêu dùng; (2) Chuyển đổi số: tư vấn, đào tạo, hỗ trợ công nghệ và nền tảng số; (3) Hạ tầng: hạ tầng số, logistics, kho bãi, giao nhận, thanh toán; (4) Thị trường: xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu, mở rộng thị trường; (5) Liên kết chuỗi: kết nối doanh nghiệp nhỏ và vừa với doanh nghiệp lớn, FDI, nhà phân phối và nền tảng; (6) Nhân lực: đào tạo kỹ năng số, thương mại điện tử, dữ liệu và marketing số; (7) Quản lý thị trường: kiểm tra, hậu kiểm, chống hàng giả, gian lận thương mại; (8) Dữ liệu: xây dựng cơ sở dữ liệu, chỉ số đánh giá và quản lý dựa trên dữ liệu.
2.3. Tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước đối với phát triển kênh phân phối của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Thứ nhất, tiêu chí về tính đầy đủ, đồng bộ và phù hợp của thể chế, chính sách.
Tiêu chí này được thể hiện ở mức độ đầy đủ của các quy định liên quan đến hoạt động phân phối hàng hóa, thương mại điện tử, kinh doanh trên nền tảng số, thanh toán điện tử, logistics, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quản lý dữ liệu và an toàn thông tin. Bên cạnh đó, cần đánh giá mức độ đồng bộ giữa chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa với chính sách chuyển đổi số, phát triển thương mại điện tử, logistics, đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế số; mức độ phù hợp của chính sách với quy mô, nguồn lực và đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa; tính minh bạch, ổn định và khả năng dự báo của chính sách; cũng như mức độ đơn giản, thuận tiện của các thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động phân phối.
Thứ hai, tiêu chí về khả năng tiếp cận và thụ hưởng chính sách.
Tiêu chí này được đánh giá thông qua mức độ nhận biết của doanh nghiệp nhỏ và vừa về các chính sách hỗ trợ phát triển kênh phân phối và chuyển đổi số; tỷ lệ doanh nghiệp tiếp cận được các chương trình tư vấn, đào tạo, hỗ trợ công nghệ, xúc tiến thương mại và kết nối thị trường; mức độ thuận tiện trong quá trình đăng ký và thụ hưởng chính sách; tính công bằng trong tiếp cận chính sách giữa các nhóm doanh nghiệp; cũng như mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với các dịch vụ hỗ trợ của cơ quan nhà nước. Trên thực tế, một chính sách dù được thiết kế tốt nhưng doanh nghiệp khó tiếp cận, thủ tục phức tạp hoặc thông tin không đầy đủ thì hiệu quả quản lý nhà nước vẫn bị hạn chế.
Thứ ba, tiêu chí về phát triển hạ tầng và hệ sinh thái hỗ trợ kênh phân phối số.
Tiêu chí này được thể hiện thông qua mức độ phát triển và khả năng tiếp cận hạ tầng số, mạng viễn thông, internet, nền tảng thương mại điện tử, hệ thống thanh toán điện tử, logistics, kho bãi, vận chuyển và giao nhận hàng hóa. Đồng thời, cần xem xét mức độ kết nối giữa các thành tố của hệ sinh thái phân phối số, bao gồm doanh nghiệp, nền tảng thương mại điện tử, đơn vị logistics, tổ chức thanh toán, cơ quan quản lý và khách hàng. Hiệu quả quản lý nhà nước càng cao khi doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng tiếp cận hạ tầng và dịch vụ số với chi phí hợp lý, thời gian giao dịch và giao hàng được rút ngắn, khả năng kết nối với khách hàng và đối tác được mở rộng, đồng thời giảm được các chi phí phát sinh trong quá trình phân phối.
Thứ tư, tiêu chí về mức độ thúc đẩy chuyển đổi và phát triển kênh phân phối số.
Tiêu chí này phản ánh mức độ các chính sách và chương trình của Nhà nước thúc đẩy doanh nghiệp chuyển từ phương thức phân phối truyền thống sang các mô hình phân phối đa kênh, hợp kênh và phân phối dựa trên nền tảng số. Các nội dung cần xem xét bao gồm tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa có website hoặc cửa hàng trực tuyến, mức độ tham gia các sàn thương mại điện tử, mức độ sử dụng mạng xã hội để bán hàng, khả năng tích hợp giữa các kênh bán hàng trực tiếp và trực tuyến, mức độ sử dụng phần mềm quản trị bán hàng, CRM, ERP và các công cụ phân tích dữ liệu khách hàng. Trong giai đoạn hiện nay, tiêu chí này cũng cần xem xét mức độ ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dự báo nhu cầu, phân tích hành vi khách hàng, cá nhân hóa hoạt động marketing, quản trị tồn kho và hỗ trợ chăm sóc khách hàng. Quản lý nhà nước được xem là có hiệu quả khi các chính sách hỗ trợ thực sự tạo ra sự thay đổi về năng lực và hành vi ứng dụng công nghệ của doanh nghiệp, thay vì chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin hoặc tổ chức đào tạo.
Thứ năm, tiêu chí về hiệu quả xúc tiến thương mại, kết nối thị trường và liên kết chuỗi phân phối
Hiệu quả quản lý nhà nước cần được đánh giá thông qua khả năng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia các chương trình xúc tiến thương mại, kết nối cung – cầu, hội chợ và triển lãm trực tiếp cũng như trực tuyến; hỗ trợ xây dựng thương hiệu và quảng bá sản phẩm trên môi trường số; mở rộng thị trường ngoài địa bàn Hà Nội và thị trường quốc tế; kết nối với doanh nghiệp đầu chuỗi và các hệ thống phân phối hiện đại. Quan trọng hơn, hiệu quả của hoạt động xúc tiến thương mại cần được đánh giá thông qua những kết quả thực tế mà doanh nghiệp đạt được, chẳng hạn như số lượng khách hàng và đối tác mới, số hợp đồng được ký kết, doanh thu từ thị trường mới và khả năng duy trì quan hệ kinh doanh sau các chương trình hỗ trợ.
Thứ sáu, tiêu chí về phát triển nguồn nhân lực và năng lực số phục vụ quản trị kênh phân phối.
Tiêu chí này được thể hiện thông qua mức độ Nhà nước hỗ trợ đào tạo, tư vấn và phát triển kỹ năng số cho doanh nghiệp và người lao động; mức độ phù hợp của nội dung đào tạo với nhu cầu thực tế; khả năng của doanh nghiệp trong sử dụng thương mại điện tử, marketing số, quản trị dữ liệu khách hàng, quản trị logistics và chuỗi cung ứng; cũng như năng lực sử dụng các công cụ phân tích dữ liệu và trí tuệ nhân tạo. Bên cạnh số lượng doanh nghiệp và người lao động được đào tạo, cần đặc biệt quan tâm đến tỷ lệ doanh nghiệp thực sự áp dụng kiến thức và kỹ năng sau đào tạo vào hoạt động kinh doanh. Đây là cơ sở để chuyển đánh giá từ chỉ tiêu “đầu ra” của chương trình hỗ trợ sang đánh giá “kết quả” và “tác động” của chính sách.
Thứ bảy, tiêu chí về hiệu lực kiểm tra, giám sát và điều tiết thị trường phân phối.
Sự phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử và các kênh phân phối số làm xuất hiện những vấn đề mới liên quan đến hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, cạnh tranh không lành mạnh, thông tin sai lệch và bảo vệ dữ liệu của khách hàng. Vì vậy, hiệu quả quản lý nhà nước cần được đánh giá thông qua năng lực kiểm tra, giám sát và xử lý các hành vi vi phạm trên cả thị trường truyền thống và môi trường số. Các nội dung cần xem xét gồm khả năng phát hiện vi phạm, mức độ phối hợp giữa các cơ quan quản lý, thời gian xử lý, tính minh bạch của quá trình kiểm tra và xử lý, mức độ ứng dụng dữ liệu và công nghệ trong giám sát thị trường, cũng như hiệu quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và người tiêu dùng. Trong bối cảnh chuyển đổi số, quản lý nhà nước cần từng bước chuyển từ phương thức tiền kiểm mang tính thủ công sang hậu kiểm dựa trên dữ liệu, quản lý theo mức độ rủi ro và tăng cường ứng dụng công nghệ trong giám sát thị trường.
Thứ tám, tiêu chí về kết quả và tác động của quản lý nhà nước đối với hoạt động phân phối
Đây là nhóm tiêu chí phản ánh trực tiếp nhất hiệu quả cuối cùng của quản lý nhà nước. Hiệu quả có thể được đánh giá thông qua mức độ mở rộng thị trường của doanh nghiệp, tốc độ tăng doanh thu từ các kênh phân phối, tỷ trọng doanh thu từ kênh trực tuyến, khả năng tiếp cận khách hàng mới, mức giảm chi phí phân phối, chi phí marketing và chi phí giao dịch, mức độ cải thiện năng suất lao động, khả năng tham gia chuỗi cung ứng và mức độ nâng cao năng lực cạnh tranh. Đồng thời, cần xem xét các kết quả liên quan đến trải nghiệm khách hàng như thời gian phản hồi, chất lượng dịch vụ, mức độ hài lòng và khả năng duy trì khách hàng. Về dài hạn, hiệu quả quản lý nhà nước còn được phản ánh qua khả năng duy trì và mở rộng các kênh phân phối số, năng lực đổi mới mô hình kinh doanh và khả năng thích ứng của doanh nghiệp nhỏ và vừa trước những thay đổi của thị trường và công nghệ.
Như vậy, tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước đối với phát triển kênh phân phối của doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được tiếp cận theo một chuỗi logic từ đầu vào, quá trình quản lý, đầu ra, kết quả đến tác động. Theo đó, đầu vào bao gồm thể chế, nguồn lực, hạ tầng và các chương trình hỗ trợ; quá trình quản lý thể hiện ở việc tổ chức thực hiện chính sách, cung cấp dịch vụ công, hỗ trợ chuyển đổi số, xúc tiến thương mại, kết nối thị trường và kiểm tra, giám sát; đầu ra thể hiện ở số lượng và mức độ doanh nghiệp nhỏ và vừa được tiếp cận, thụ hưởng chính sách; kết quả thể hiện ở mức độ chuyển đổi và phát triển kênh phân phối số; còn tác động cuối cùng được phản ánh qua khả năng mở rộng thị trường, tăng doanh thu, giảm chi phí, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cách tiếp cận này giúp tránh tình trạng đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước chỉ dựa vào số lượng văn bản, chương trình hoặc doanh nghiệp được hỗ trợ mà hướng tới đánh giá những thay đổi thực chất mà chính sách và hoạt động quản lý nhà nước tạo ra đối với doanh nghiệp.
3. Thực trạng quản lý nhà nước đối với phát triển kênh phân phối của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội
Một là, về quy mô thị trường và doanh nghiệp tạo nền tảng cho phát triển kênh phân phối
Giai đoạn 2022 – 2025 chứng kiến sự phục hồi và tăng trưởng khá mạnh của thương mại, dịch vụ và hoạt động doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội.
Bảng 1. Một số chỉ tiêu phản ánh quy mô thị trường Hà Nội giai đoạn 2022–2025
| Năm | Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng | Mức tăng |
| 2022 | tăng 25,2% so với 2021 | 25,2% |
| 2023 | 776,1 nghìn tỷ đồng | 10,4% |
| 2024 | 853,3 nghìn tỷ đồng | 10,8% |
| 2025 | 962,9 nghìn tỷ đồng | 12,7% |
Số liệu cho thấy, quy mô thị trường bán lẻ và dịch vụ của Hà Nội liên tục mở rộng sau giai đoạn phục hồi năm 2022. Đây là điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp nhỏ và vừa mở rộng hệ thống phân phối, đặc biệt là các mô hình phân phối kết hợp trực tiếp và trực tuyến. Sự phát triển về số lượng doanh nghiệp cho thấy quy mô và mức độ sôi động của khu vực doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội ngày càng được mở rộng. Năm 2022, thành phố có khoảng 29,6 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 23% so với năm trước; năm 2023, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt 31,4 nghìn doanh nghiệp, tăng 6,3% so với năm 2022 (Cục Thống kê thành phố Hà Nội, 2024).
Năm 2024, thành phố cấp giấy chứng nhận cho 29,4 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 7,2% so với năm 2023 (Cục Thống kê thành phố Hà Nội, 2025). Sang năm 2025, số doanh nghiệp thành lập mới phục hồi lên 32,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 13%; tổng số doanh nghiệp đăng ký trên địa bàn đạt 427.147 doanh nghiệp, trong đó có 226.458 doanh nghiệp đang hoạt động (Sở Tài chính thành phố Hà Nội, 2026). Điều này đặt ra một yêu cầu quan trọng đối với quản lý nhà nước: chính sách hỗ trợ phân phối số phải có khả năng tiếp cận số lượng lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng đồng thời phải phù hợp với sự khác biệt rất lớn về ngành nghề, quy mô, trình độ công nghệ và năng lực quản trị.
Hai là, hệ thống logistics và dịch vụ hỗ trợ phân phối ngày càng phát triển.
Bảng 2. Một số chỉ tiêu về logistics, vận tải và bưu chính của Hà Nội
| Chỉ tiêu | 2024 | 2025 |
| Tổng doanh thu vận tải và bưu chính chuyển phát | 223,9 nghìn tỷ đồng | 259,3 nghìn tỷ đồng |
| Mức tăng | 15,1% | 15,9% |
| Doanh thu hỗ trợ vận tải | 94,8 nghìn tỷ đồng | tăng 18,3%* |
| Doanh thu bưu chính chuyển phát | 13,5 nghìn tỷ đồng | tăng 15,3%* |
Sự phát triển của logistics tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa mở rộng phạm vi phục vụ khách hàng mà không cần tự đầu tư toàn bộ hệ thống kho vận. Tuy nhiên, thách thức đặt ra là làm thế nào để doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tiếp cận dịch vụ logistics với chi phí phù hợp và chất lượng ổn định. Vì vậy, quản lý nhà nước không chỉ cần quan tâm đến quy mô hạ tầng logistics mà còn phải quan tâm đến khả năng tiếp cận logistics của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Ba là, thương mại điện tử trở thành một cấu phần của hệ thống phân phối.
Một biểu hiện rõ nét của chuyển đổi số kênh phân phối là sự gia tăng nhanh của thương mại điện tử. Hà Nội đã triển khai nhiều hoạt động nhằm hỗ trợ thương mại điện tử và tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh trên nền tảng số. Đáng chú ý, công tác quản lý thương mại điện tử của Thành phố đã bước đầu dựa trên dữ liệu. Đến tháng 6/2024, Cục Thuế thành phố Hà Nội đã định danh và tổng hợp dữ liệu về 418 doanh nghiệp sở hữu sàn thương mại điện tử và 668 chủ thể kinh doanh sản phẩm, nội dung số. Trên cơ sở dữ liệu từ ba sàn thương mại điện tử lớn là Shopee, Tiki và Lazada, Cục Thuế Hà Nội đã tổng hợp, chuẩn hóa dữ liệu của trên 366.857 shop, tương ứng với 197.848 mã số thuế của tổ chức, cá nhân và hộ kinh doanh (Cổng thông tin điện tử thành phố Hà Nội, 6/2024) Số liệu này có ý nghĩa không chỉ đối với quản lý thuế mà còn cho thấy tiềm năng hình thành hệ thống dữ liệu về hoạt động phân phối số. Nếu được kết nối và khai thác phù hợp, dữ liệu có thể hỗ trợ Nhà nước nhận diện quy mô thị trường, nhóm ngành phát triển nhanh, hành vi kinh doanh và những vấn đề phát sinh trên môi trường số.
Bốn là, chính sách chuyển đổi số doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo cơ sở mới cho phát triển kênh phân phối.
Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội xác định mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đánh giá mức độ sẵn sàng, thử nghiệm và ứng dụng giải pháp số, tư vấn, đào tạo và nâng cao năng lực số. Đáng chú ý, thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 hỗ trợ ít nhất 120.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua các hoạt động đánh giá mức độ sẵn sàng, thử nghiệm và ứng dụng giải pháp số, tư vấn và đào tạo; đồng thời, phát triển mạng lưới ít nhất 125 tổ chức, cá nhân tư vấn chuyển đổi số (UBND thành phố Hà Nội, 2026).
Nếu được gắn trực tiếp với phát triển kênh phân phối, các mục tiêu này có thể tạo tác động lớn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua việc hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng website, quản trị khách hàng, thương mại điện tử, dữ liệu, thanh toán số, logistics số và ứng dụng AI.
Năm là, những hạn chế chủ yếu.
Hiện nay, còn có mốt số hạn chế, đó là: Chính sách còn có xu hướng phân tách theo lĩnh vực.Chuyển đổi số, thương mại điện tử, logistics, xúc tiến thương mại và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được triển khai thông qua nhiều chương trình khác nhau, trong khi trên thực tế doanh nghiệp cần một chuỗi hỗ trợ tích hợp.
Khoảng cách giữa “có kênh số” và “vận hành kênh số hiệu quả”. Việc có website hoặc tài khoản trên sàn thương mại điện tử chưa đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có năng lực quản trị dữ liệu, tồn kho, khách hàng và logistics.
Năng lực nhân lực số còn là điểm nghẽn.Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhu cầu ứng dụng công nghệ nhưng chưa có nhân sự đủ năng lực lựa chọn, triển khai và khai thác công nghệ.
Liên kết chuỗi còn hạn chế. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có số lượng lớn nhưng khả năng trở thành nhà cung ứng hoặc đối tác phân phối của doanh nghiệp lớn, tập đoàn và hệ thống bán lẻ hiện đại chưa tương xứng với tiềm năng.
Dữ liệu quản lý chưa được khai thác đầy đủ cho hoạch định chính sách. Trong khi Hà Nội đã có dữ liệu đáng kể về đăng ký doanh nghiệp, thương mại điện tử và thuế, việc kết nối dữ liệu để đánh giá sự phát triển kênh phân phối của doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn cần tiếp tục hoàn thiện.
4. Một số giải pháp
Thứ nhất, đổi mới thể chế theo hướng quản lý hệ sinh thái phân phối.
Hà Nội cần rà soát và tích hợp các chính sách liên quan đến doanh nghiệp nhỏ và vừa, thương mại điện tử, chuyển đổi số, logistics, xúc tiến thương mại và bảo vệ người tiêu dùng.
Trọng tâm chính sách cần chuyển từ hỗ trợ từng hoạt động sang hỗ trợ toàn bộ hành trình phân phối của doanh nghiệp, từ tiếp cận khách hàng, bán hàng, thanh toán, kho vận đến chăm sóc sau bán hàng.
Thứ hai, hình thành hệ sinh thái phân phối số của Hà Nội.
Thành phố cần đóng vai trò kết nối giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa với các nền tảng thương mại điện tử, ngân hàng, doanh nghiệp fintech, logistics, công nghệ, bán lẻ hiện đại, hiệp hội doanh nghiệp và tổ chức tư vấn. Có thể nghiên cứu xây dựng chương trình “Hệ sinh thái phân phối số Hà Nội”, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa được tiếp cận các gói dịch vụ dùng chung về thương mại điện tử, CRM, logistics, thanh toán và phân tích dữ liệu.
Thứ ba, hỗ trợ chuyển đổi từ đa kênh sang hợp kênh.
Chính sách hỗ trợ cần hướng đến kết quả cuối cùng là nâng cao hiệu quả phân phối chứ không chỉ số lượng doanh nghiệp tham gia chuyển đổi số. Doanh nghiệp cần được hỗ trợ tích hợp cửa hàng vật lý, website, sàn thương mại điện tử, mạng xã hội, kho hàng, thanh toán và chăm sóc khách hàng thành một hệ thống thống nhất.
Thứ tư, phát triển logistics dùng chung cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Thành phố cần khuyến khích phát triển các trung tâm logistics, kho hàng và dịch vụ giao nhận dùng chung. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, mô hình này giúp giảm chi phí đầu tư cố định, đồng thời cho phép doanh nghiệp tiếp cận công nghệ quản lý kho, theo dõi đơn hàng và tối ưu giao nhận.
Thứ năm, phát triển nhân lực quản trị kênh phân phối số.
Chương trình đào tạo cần chuyển từ đào tạo kỹ năng số chung sang đào tạo theo nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp. Các nội dung ưu tiên gồm: thương mại điện tử, digital marketing, CRM, phân tích dữ liệu khách hàng, quản trị sàn, quản trị logistics, thanh toán số và ứng dụng AI.
Thứ sáu, xây dựng hệ thống dữ liệu và quản lý bằng AI.
Hà Nội cần từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu về phát triển kênh phân phối của doanh nghiệp nhỏ và vừa, trên cơ sở kết nối phù hợp các nguồn dữ liệu doanh nghiệp, thương mại, logistics, thương mại điện tử và xúc tiến thương mại. AI có thể được sử dụng để phân tích xu hướng thị trường, nhận diện nhóm doanh nghiệp cần hỗ trợ, phát hiện rủi ro và đánh giá hiệu quả chương trình.
5. Bộ chỉ số đề xuất đánh giá hiệu quả chính sách
Để khắc phục tình trạng đánh giá chính sách chủ yếu dựa trên số lượng hoạt động được tổ chức, Hà Nội nên xây dựng bộ chỉ số theo bốn cấp độ.
Cấp độ 1 – đầu vào: ngân sách, số chuyên gia, số chương trình, số nền tảng và nguồn lực hỗ trợ.
Cấp độ 2 – đầu ra: số doanh nghiệp được đào tạo, số doanh nghiệp được tư vấn, số doanh nghiệp tham gia nền tảng số.
Cấp độ 3 – kết quả: tỷ lệ doanh nghiệp có doanh thu từ kênh số, tỷ lệ sử dụng CRM, tỷ lệ tích hợp thanh toán số, tỷ lệ ứng dụng AI, tỷ lệ tham gia chuỗi cung ứng.
Cấp độ 4 – tác động: tăng doanh thu, giảm chi phí phân phối, mở rộng thị trường, tăng năng suất và nâng cao khả năng cạnh tranh.
Có thể khái quát mô hình đánh giá như sau: Chính sách → Hỗ trợ → Chuyển đổi số → Phát triển kênh phân phối → Mở rộng thị trường → Nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây cũng là cách tiếp cận phù hợp với định hướng của Hà Nội trong việc chuyển từ hỗ trợ theo hoạt động sang hỗ trợ theo kết quả.
6. Kết luận
Phát triển kênh phân phối của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh chuyển đổi số là một quá trình có tính hệ thống, liên quan đồng thời đến năng lực của doanh nghiệp, chất lượng thể chế, hạ tầng số, thương mại điện tử, logistics, thanh toán, dữ liệu, nhân lực và mức độ liên kết thị trường. Thực tiễn Hà Nội giai đoạn 2022 – 2025 cho thấy, quy mô thị trường bán lẻ và dịch vụ tiếp tục mở rộng, số lượng doanh nghiệp tăng, hệ thống logistics và bưu chính chuyển phát phát triển nhanh, đồng thời thương mại điện tử ngày càng trở thành một cấu phần quan trọng của hoạt động phân phối.
Tuy nhiên, thách thức hiện nay không còn đơn thuần là “đưa doanh nghiệp nhỏ và vừa lên môi trường số”, mà là làm thế nào để doanh nghiệp vận hành kênh phân phối số hiệu quả, tích hợp và có khả năng mở rộng. Do đó, quản lý nhà nước của Hà Nội cần chuyển từ tư duy “hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ” sang tư duy “kiến tạo hệ sinh thái phân phối số”. Trong đó, Nhà nước tập trung vào sáu nhiệm vụ trọng tâm: hoàn thiện thể chế; xây dựng hệ sinh thái phân phối số; hỗ trợ mô hình đa kênh và hợp kênh; phát triển logistics dùng chung; phát triển nhân lực; xây dựng hệ thống dữ liệu và quản trị bằng AI. Nếu thực hiện đồng bộ, các chính sách này không chỉ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa mở rộng kênh bán hàng mà còn góp phần hình thành hệ thống phân phối hiện đại, minh bạch, có khả năng kết nối với các chuỗi cung ứng lớn và phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế số của Thủ đô đến năm 2030.
Tài liệu tham khảo:
Cục Thống kê thành phố Hà Nội (2024). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội thành phố Hà Nội năm 2023.
Cục Thống kê thành phố Hà Nội (2025). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2024.
Cổng thông tin điện tử thành phố Hà Nội (tháng 6/2024). Hà Nội tăng cường quản lý thương mại điện tử, chống thất thu thuế.
Sở Tài chính thành phố Hà Nội (2026). Tình hình phát triển kinh tế – xã hội tháng 12 năm 2025 của thành phố Hà Nội.
UBND thành phố Hà Nội (2025). Kế hoạch số 232/KH-UBND ngày 18/6/2026 về chuyển đổi số doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026 – 2030.



