Phát triển năng lực làm việc trên môi trường số của công chức cấp xã tại TP. Hồ Chí Minh

ThS. Hoàng Hồng Nhung
Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại TP. Hồ Chí Minh
Email: nhunghh@apag.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh chuyển đổi số, cải cách hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu đối với cán bộ, công chức cấp xã đang thay đổi cả về phạm vi nhiệm vụ và phương thức thực thi công vụ. Khi cấp xã trực tiếp đảm nhận nhiều nhiệm vụ quản lý nhà nước hơn, năng lực làm việc trên môi trường số trở thành điều kiện thiết yếu để nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở. Bài viết làm rõ nội hàm và các thành tố của năng lực làm việc trên môi trường số; phân tích những yêu cầu mới và thực trạng tại TP. Hồ Chí Minh, tập trung vào tư duy số, khai thác dữ liệu, sử dụng nền tảng công nghệ, phối hợp công việc, an toàn thông tin và ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp phát triển năng lực số theo vị trí việc làm, gắn đào tạo, bồi dưỡng với yêu cầu thực thi công vụ và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Từ khóa: Năng lực số; môi trường số; công chức cấp xã; thực thi công vụ; TP. Hồ Chí Minh.

Abstract: In the context of digital transformation, administrative reform, and the operation of the two-tier local government model, the requirements for commune-level cadres and civil servants are changing significantly in terms of both their scope of responsibilities and methods of public duty performance. As commune-level authorities directly undertake more state management functions, the capacity to work effectively in a digital environment has become essential to improving the performance of local government. This paper clarifies the concept and key components of digital work capacity; examines emerging requirements and the current situation in Ho Chi Minh City, with particular attention to digital mindset, data utilization, digital platforms, work coordination, information security, and artificial intelligence applications. Based on these analyses, the paper proposes solutions to develop digital capacity by job position, linking training and professional development to public duty requirements and the quality of services provided to citizens and businesses.

Keywords: Digital competence; digital environment; commune-level civil servants; public duty performance; Ho Chi Minh City.

1. Đặt vấn đề

Chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong phương thức tổ chức và hoạt động của nền hành chính nhà nước, thúc đẩy quá trình chuyển từ phương thức quản lý truyền thống sang quản trị trên môi trường số, dựa trên nền tảng công nghệ, dữ liệu và kết nối liên thông. Chuyển đổi số trong khu vực công vì vậy không đơn thuần là ứng dụng công nghệ thông tin hay số hóa hồ sơ, quy trình nghiệp vụ, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy quản trị, phương thức điều hành, phối hợp công việc và cung ứng dịch vụ công. Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đã xác định phát triển Chính phủ số gắn với nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động, tăng cường xử lý công việc trên môi trường mạng và kết nối, chia sẻ dữ liệu. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương trên môi trường số, kết nối, vận hành thông suốt và khai thác hiệu quả tài nguyên số, dữ liệu số.

Trong bối cảnh vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu chuyển đổi phương thức làm việc càng trở nên cấp thiết đối với chính quyền cấp xã. Khi không còn cấp huyện trung gian, cấp xã trực tiếp đảm nhận nhiều chức năng, nhiệm vụ hơn; phạm vi quản lý, khối lượng công việc và yêu cầu giải quyết các vấn đề phát sinh tại cơ sở cũng gia tăng. Qua nghiên cứu cho thấy việc chuyển giao nhiệm vụ và hồ sơ chuyên môn về cấp xã làm tăng áp lực công việc, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong tổ chức thực thi nhiệm vụ. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức không chỉ đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ mà còn phải có khả năng thích ứng với quy trình số, khai thác dữ liệu, sử dụng các nền tảng công nghệ và phối hợp công việc trên môi trường số.

Đối với TP. Hồ Chí Minh, yêu cầu này có ý nghĩa đặc biệt trong điều kiện tổ chức và vận hành chính quyền cơ sở theo mô hình mới. Năng lực làm việc trên môi trường số của cán bộ, công chức cấp xã cần được nhìn nhận rộng hơn khả năng sử dụng máy tính hay thao tác trên các phần mềm nghiệp vụ. Đây là năng lực tổng hợp, bao gồm tư duy, kiến thức, kỹ năng và thái độ trong thực thi công vụ trên môi trường số; trong đó đáng chú ý là tư duy và khả năng thích ứng số, khai thác và quản trị dữ liệu, sử dụng công nghệ và nền tảng số, giao tiếp và phối hợp công việc, bảo đảm an toàn thông tin và khả năng giải quyết vấn đề bằng công nghệ.

Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu phải chuyển từ “trang bị kỹ năng sử dụng công nghệ” sang “phát triển năng lực thực thi công vụ trên môi trường số”, gắn với từng vị trí việc làm và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 22/4/2026 cũng xác định việc học tập, nâng cao kiến thức, kỹ năng số là nhiệm vụ thường xuyên, đồng thời hướng tới bồi dưỡng và đánh giá theo yêu cầu vị trí việc làm. Vì vậy, nghiên cứu phát triển năng lực làm việc trên môi trường số của cán bộ, công chức cấp xã tại TP. Hồ Chí Minh trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn, góp phần xác định những yêu cầu năng lực mới và đề xuất giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi công vụ, chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp trong môi trường hành chính số.

2. Khái quát về năng lực làm việc trên môi trường số của cán bộ, công chức cấp xã

Trong tiến trình chuyển đổi số nền hành chính, năng lực làm việc trên môi trường số của cán bộ, công chức cấp xã cần được tiếp cận theo nghĩa rộng, không chỉ giới hạn ở khả năng sử dụng máy tính, phần mềm hay các thiết bị công nghệ. Đây là tổng hợp kiến thức, kỹ năng, tư duy và thái độ cho phép cán bộ, công chức khai thác, sử dụng công nghệ và dữ liệu số để thực hiện nhiệm vụ, phối hợp công tác, giải quyết vấn đề và phục vụ người dân, doanh nghiệp một cách hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm. Cách tiếp cận này phù hợp với quan niệm năng lực số là một cấu trúc đa chiều, trong đó tư duy số giữ vai trò nền tảng để chuyển từ việc đơn thuần số hóa quy trình truyền thống sang phương thức làm việc và quản trị dựa trên dữ liệu.

Môi trường làm việc số của cán bộ, công chức cấp xã được hình thành từ sự kết hợp giữa hạ tầng công nghệ, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, các nền tảng số và quy trình nghiệp vụ điện tử phục vụ hoạt động quản lý nhà nước. Trong môi trường đó, cán bộ, công chức vừa là chủ thể sử dụng công nghệ, vừa trực tiếp tạo lập, cập nhật và khai thác dữ liệu, đồng thời là đầu mối tương tác với người dân trong quá trình cung ứng dịch vụ công. Vì vậy, năng lực làm việc số phải gắn chặt với hoạt động thực thi công vụ, thay vì chỉ được đánh giá thông qua trình độ tin học hoặc khả năng thao tác kỹ thuật.

Xét về cấu trúc, năng lực làm việc trên môi trường số của cán bộ, công chức cấp xã có thể khái quát thành một số nhóm cơ bản. Trước hết là năng lực nhận thức, tư duy số và khả năng thích ứng, thể hiện ở sự sẵn sàng đổi mới phương thức làm việc, lấy dữ liệu và nhu cầu phục vụ người dân làm cơ sở cho hoạt động công vụ. Tiếp đến là năng lực sử dụng công nghệ và các nền tảng số, bao gồm khả năng vận hành hệ thống quản lý văn bản, chữ ký số, hệ thống giải quyết thủ tục hành chính và các công cụ phục vụ phối hợp công việc. Năng lực khai thác và quản trị dữ liệu đòi hỏi cán bộ, công chức không chỉ thu thập, cập nhật dữ liệu bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống” mà còn biết khai thác dữ liệu phục vụ tham mưu và ra quyết định. Bên cạnh đó là năng lực giao tiếp, phối hợp và phục vụ trên môi trường số, đặc biệt trong hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị. Cuối cùng, năng lực bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin và giải quyết vấn đề trên môi trường số ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu.

Đặc thù của cấp xã là trực tiếp tiếp xúc với người dân, xử lý nhiều lĩnh vực quản lý và giải quyết số lượng lớn công việc phát sinh từ cơ sở. Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu này càng cao khi phạm vi nhiệm vụ và trách nhiệm của cấp xã được mở rộng. Do đó, phát triển năng lực làm việc trên môi trường số không chỉ góp phần nâng cao năng suất cá nhân của cán bộ, công chức mà còn tạo điều kiện đổi mới quy trình, tăng cường tính minh bạch, nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Năng lực này vì vậy cần được nhìn nhận là một thành tố thiết yếu của năng lực thực thi công vụ trong nền hành chính số, chứ không còn là kỹ năng bổ trợ riêng biệt.

3. Yêu cầu đối với năng lực làm việc trên môi trường số của cán bộ, công chức cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, gắn với quá trình chuyển đổi số và tổ chức lại phương thức quản trị địa phương, đang đặt ra những yêu cầu mới đối với năng lực thực thi công vụ của cán bộ, công chức cấp xã. Khi không còn cấp huyện trung gian, cấp xã đảm nhận nhiều nhiệm vụ hơn, phạm vi quản lý và khối lượng công việc gia tăng, đồng thời phải tăng cường phối hợp trực tiếp với cấp tỉnh, thành phố. Qua tình hình thực tiễn cho thấy, việc chuyển một khối lượng nhiệm vụ và hồ sơ chuyên môn từ cấp huyện về cấp xã có thể làm gia tăng áp lực công việc, trong khi năng lực chuyên sâu của công chức ở từng lĩnh vực chưa đồng đều. Trong điều kiện đó, năng lực làm việc trên môi trường số cần được nhìn nhận không chỉ là năng lực sử dụng công nghệ mà là khả năng kết hợp tư duy số, công nghệ, dữ liệu, phương thức phối hợp và trách nhiệm công vụ để giải quyết hiệu quả nhiệm vụ trong một mô hình quản trị mới. Có thể khái quát những yêu cầu chủ yếu trên các phương diện sau:

Thứ nhất, yêu cầu về tư duy số, khả năng thích ứng và đổi mới phương thức làm việc. Đây là yêu cầu nền tảng bởi chuyển đổi số trước hết là sự thay đổi về nhận thức và phương thức tổ chức công việc. Cán bộ, công chức cấp xã cần chuyển từ tư duy thực hiện công việc chủ yếu dựa trên hồ sơ giấy, quy trình tuần tự và kinh nghiệm sang tư duy quản trị trên nền tảng số, lấy dữ liệu và kết quả phục vụ làm cơ sở. Tư duy số còn thể hiện ở khả năng chủ động tiếp cận công nghệ mới, sẵn sàng điều chỉnh phương pháp làm việc và học tập thường xuyên. Nếu thiếu tư duy số, việc ứng dụng công nghệ có nguy cơ chỉ dừng ở chuyển một cách cơ học quy trình giấy sang máy tính, thay vì tạo ra sự thay đổi thực chất trong hoạt động quản trị. Vì vậy, yêu cầu quan trọng không phải chỉ là “làm việc bằng máy tính” mà phải từng bước hình thành phương thức làm việc số ngay từ đầu và xuyên suốt quy trình công vụ.

Thứ hai, yêu cầu về năng lực sử dụng và làm chủ các nền tảng, công cụ số trong thực thi công vụ. Trong mô hình hai cấp, khi khối lượng và tính chất công việc ở cấp xã gia tăng, công nghệ phải trở thành công cụ trực tiếp để nâng cao năng suất và giảm áp lực hành chính. Cán bộ, công chức cần sử dụng thành thạo hệ thống quản lý văn bản và điều hành, chữ ký số, hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và các nền tảng phối hợp công việc. Tuy nhiên, mức độ đáp ứng không nên chỉ được đo bằng khả năng thao tác phần mềm mà phải thể hiện ở khả năng hoàn thành nhiệm vụ công vụ trên môi trường số, cần xác định những kỹ năng thiết yếu gồm khai thác cơ sở dữ liệu dùng chung, xử lý hồ sơ điện tử, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, sử dụng nền tảng quản lý, điều hành và từng bước ứng dụng AI, công nghệ mới.

Thứ ba, yêu cầu về năng lực khai thác, quản trị và sử dụng dữ liệu. Đây là một trong những năng lực có ý nghĩa ngày càng quan trọng đối với chính quyền cấp xã. Cán bộ, công chức ở cơ sở vừa là người trực tiếp tạo lập, cập nhật dữ liệu, vừa là chủ thể khai thác dữ liệu phục vụ quản lý và giải quyết công việc. Vì vậy, năng lực dữ liệu cần phát triển theo quá trình thu thập – kiểm tra – chuẩn hóa – cập nhật – chia sẻ – khai thác – phân tích – sử dụng. Yêu cầu đặt ra là chuyển từ “nhập dữ liệu theo yêu cầu” sang “làm việc dựa trên dữ liệu”, bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”.

Thứ tư, yêu cầu về năng lực phối hợp, liên thông và giải quyết công việc trên môi trường số. Việc giảm một cấp hành chính trung gian làm thay đổi đáng kể các mối quan hệ công tác. Cấp xã phải tăng cường trao đổi thông tin, phối hợp nghiệp vụ và kết nối dữ liệu trực tiếp với cấp thành phố cũng như giữa các cơ quan chuyên môn. Do đó, cán bộ, công chức cần có khả năng phối hợp đa chiều, xử lý hồ sơ liên thông và theo dõi toàn bộ tiến trình giải quyết công việc trên hệ thống. Năng lực này đòi hỏi chuyển từ tư duy “công việc của từng bộ phận” sang tư duy quy trình và trách nhiệm phối hợp, trong đó dữ liệu được chia sẻ đúng thẩm quyền và công việc được xử lý xuyên suốt, hạn chế tình trạng vừa xử lý hồ sơ giấy vừa cập nhật lại trên hệ thống. Đây cũng là điều kiện để công nghệ thực sự góp phần giảm tầng nấc, rút ngắn thời gian xử lý thay vì tạo thêm thao tác hành chính.

Thứ năm, yêu cầu về năng lực giao tiếp và phục vụ người dân, doanh nghiệp trên môi trường số. Đặc trưng quan trọng của cấp xã là trực tiếp tiếp xúc và giải quyết những nhu cầu hành chính thiết yếu của người dân. Do đó, công chức không chỉ phải có năng lực “làm việc nội bộ” trên môi trường số mà còn cần khả năng hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, hỗ trợ thực hiện giao dịch số, tiếp nhận và phản hồi kiến nghị qua các kênh số. Tư duy phục vụ trên môi trường số cần hướng tới giảm thời gian, chi phí và số lần người dân phải cung cấp lại thông tin. Việc hướng dẫn người dân thực hiện thủ tục trực tuyến vừa góp phần giảm áp lực tại bộ phận một cửa, vừa tăng tính minh bạch trong giải quyết công việc. Đối với TP. Hồ Chí Minh, đây là phương diện cần đặc biệt quan tâm bởi hiệu quả chuyển đổi số ở cấp cơ sở cuối cùng phải được phản ánh qua chất lượng và trải nghiệm của người dân, doanh nghiệp khi tiếp cận dịch vụ công.

Thứ sáu, yêu cầu về an toàn thông tin, đạo đức số, khả năng giải quyết vấn đề và thích ứng với công nghệ mới. Làm việc trên môi trường số đồng nghĩa với việc cán bộ, công chức thường xuyên tiếp cận dữ liệu công vụ và thông tin cá nhân của người dân. Vì vậy, năng lực quản lý tài khoản, nhận diện nguy cơ mất an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu và tuân thủ quy định khi chia sẻ thông tin phải trở thành một bộ phận của trách nhiệm công vụ. Đồng thời, sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo đặt ra yêu cầu mới về khả năng lựa chọn và sử dụng công cụ AI để hỗ trợ tìm kiếm, tổng hợp, phân tích thông tin, xử lý dữ liệu và soạn thảo; nhưng phải đi cùng năng lực kiểm chứng kết quả, bảo mật thông tin và trách nhiệm đối với sản phẩm cuối cùng.

Như vậy, yêu cầu đối với cán bộ, công chức cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang chuyển từ “biết sử dụng công nghệ” sang “có năng lực thực thi công vụ toàn diện trên môi trường số”. Các phương diện trên không tồn tại độc lập mà tạo thành một chuỗi năng lực có quan hệ chặt chẽ: tư duy số là nền tảng; công nghệ và dữ liệu là công cụ; phối hợp và giải quyết vấn đề là phương thức; an toàn, đạo đức và trách nhiệm công vụ là điều kiện; chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp là thước đo kết quả. Đây cũng là cơ sở quan trọng để nhận diện thực trạng, xác định khoảng trống năng lực và xây dựng các giải pháp phát triển năng lực làm việc trên môi trường số cho cán bộ, công chức cấp xã tại TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.

4. Thực trạng năng lực làm việc trong môi trường số của cán bộ, công chức cấp xã tại TP. Hồ Chí Minh

Quá trình vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp gắn với đẩy mạnh chuyển đổi số đã tạo ra những thay đổi đáng kể đối với tổ chức và phương thức thực thi công vụ tại cấp xã ở TP. Hồ Chí Minh. Sau hơn một năm triển khai mô hình mới, Thành phố đã tổ chức lại bộ máy theo hướng tinh gọn, đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và xác định vị trí việc làm cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

Theo báo cáo Sở Nội vụ, sau sáp nhập Thành phố có 50.000 cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan hành chính. Toàn Thành phố đã tiếp nhận hơn 2,15 triệu hồ sơ thủ tục hành chính trong 7 tháng đầu 2026, tỷ lệ giải quyết đạt trên 92% và gần 99% hồ sơ giải quyết đúng hạn hoặc trước hạn. Các địa phương điển hình đã số hóa tỷ lệ lớn hồ sơ hành chính; ví dụ, phường Tân Thuận (quận 7) số hóa 80–100% hồ sơ các lĩnh vực hộ tịch, đất đai, kinh tế. Hầu hết (167/168) xã, phường, đặc khu đã tổ chức thành 3 phòng chuyên môn và 1 Trung tâm phục vụ hành chính công (theo quy định mới), giúp chuẩn hóa hoạt động. Thành phố cũng đã giảm 65% cơ quan chuyên môn cấp thành phố để tập trung đầu mối, đồng thời phân cấp 1.008 nhiệm vụ cho địa phương (trong đó 108 nhiệm vụ giao cho cấp xã), gia tăng phạm vi và tính chất nhiệm vụ được thực hiện tại cấp cơ sở (Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2026).

Nhiều địa phương đã phát huy tích cực tính năng nền tảng số và quy trình điện tử. Tại phường Phú Định (TP. Thủ Đức), sau khi sáp nhập, dù quy mô dân số tăng gấp đôi và biên chế giảm, phường đã chủ động sắp xếp bộ máy, chuyển từ cơ chế “thảo luận tập thể” sang “chế độ thủ trưởng” để rút ngắn thời gian xử lý công việc. Kết quả là 7 tháng đầu năm 2026 phường tiếp nhận 25.973 hồ sơ, đạt 100% hồ sơ giải quyết đúng hạn, và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp đạt 100%. Cả ba phường Phú Định, Tân Thuận, Bình Thạnh đều ghi nhận 100% công dân hài lòng, phản ánh bước tiến trong cung cấp dịch vụ công và độ tin cậy của chính quyền số. Ngoài ra, Thành phố đã hoàn thiện Nền tảng Quản lý Chính quyền số (giai đoạn 1), tích hợp các chức năng tác vụ, nhắc việc, giao việc tức thì giữa 168 phường/xã với Thành ủy, UBND thành phố, giúp giảm độ trễ xử lý và minh bạch hóa quy trình (Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2026).

Về nhiệm vụ phục vụ công dân ngày cũng ngày càng được số hóa. Tại phường Bình Thạnh, Trung tâm phục vụ hành chính công bố trí “Bình dân học vụ số” với máy tính và cán bộ hướng dẫn tại chỗ, giúp người lớn tuổi và người chưa rành công nghệ thao tác hồ sơ trực tuyến; phường còn phát triển Mini App trên Zalo để tra cứu và đặt lịch làm thủ tục. Hệ thống này giúp rút ngắn thời gian xử lý, giảm tải cho bộ phận tiếp nhận và nâng cao trải nghiệm của người dân. Tương tự, phường Tân Thuận tổ chức cán bộ, tình nguyện viên hướng dẫn kỹ thuật (cầm tay chỉ việc) ngay tại quầy để hỗ trợ người dân thao tác trực tiếp trên điện thoại thông minh. Nhờ đó, Tân Thuận cũng đạt 100% hồ sơ đúng hạn và không có khiếu nại tiêu cực nào từ người dân. Các ví dụ này cho thấy chuyển đổi số đã bắt đầu chuyển đổi phương thức tiếp cận công dân, song đòi hỏi sự liên tục trong nỗ lực tập huấn và hỗ trợ cán bộ để đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau.

Thành phố đã chỉ đạo mạnh mẽ việc phổ cập và đào tạo kỹ năng số cho đội ngũ tại địa phương. Chỉ thị 14/CT-TTg yêu cầu đến hết năm 2026, 100% cán bộ, công chức, viên chức có hiểu biết cơ bản về chuyển đổi số, kỹ năng số và sử dụng tốt các nền tảng, dịch vụ số. Trong thực tế, UBND TP.HCM đã giao các sở, ngành, UBND cấp xã rà soát và lập danh sách những công chức chưa đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm mới để bồi dưỡng kịp thời. Kế hoạch 400/KH-UBND ngày 24/7/2026 xác định lộ trình: đến hết 2028, 100% công chức cấp xã chưa đủ năng lực chuyên môn phải được cử đi bồi dưỡng; đến 2031, 100% được cập nhật kiến thức, kỹ năng mới nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp. Yêu cầu 100% cán bộ cấp xã có kiến thức, kỹ năng số trước 31/12/2026 đã được ban hành…

Tuy nhiên, các báo cáo cũng chỉ ra những khoảng trống: việc phải ra “tối hậu thư” và rà soát cho thấy, thực tế năng lực số của công chức cấp xã chưa đồng đều. Trước đây chỉ tiêu chủ yếu là số lượng tham gia đào tạo hay chứng chỉ tin học thì nay, đối với năng lực số, yêu cầu đặt ra là cán bộ, công chức phải có hiểu biết về chuyển đổi số, kiến thức và kỹ năng số, sử dụng tốt các nền tảng, dịch vụ số phục vụ công việc. Những định hướng này cho thấy năng lực làm việc trên môi trường số đang từng bước được xác định là một bộ phận thiết yếu của năng lực thực thi công vụ, thay vì chỉ là kỹ năng hỗ trợ.

Một là, yêu cầu của vị trí việc làm mới đang tạo áp lực nâng cao năng lực đối với đội ngũ cấp xã. Phân cấp, phân quyền mạnh hơn, địa bàn quản lý lớn và khối lượng công việc gia tăng đòi hỏi công chức phải có khả năng xử lý công việc nhanh, chính xác và chủ động hơn. Thành phố cũng ghi nhận áp lực công việc tại các địa bàn đông dân cư, vấn đề biên chế và sự chưa đồng bộ trong chia sẻ dữ liệu giữa các ngành, các cấp.

Hai là, cần chuyển từ năng lực thao tác công nghệ sang năng lực khai thác và quản trị dữ liệu. Công chức không chỉ thực hiện nhập liệu, số hóa hồ sơ mà cần biết kiểm tra, chuẩn hóa, chia sẻ, phân tích và sử dụng dữ liệu phục vụ tham mưu, quản lý và ra quyết định. Trong mô hình hai cấp, khi cấp xã phải phối hợp trực tiếp nhiều hơn với cấp Thành phố, chất lượng dữ liệu và khả năng liên thông, khai thác dữ liệu càng có ý nghĩa quyết định.

Ba là, năng lực số giữa các vị trí việc làm và các địa phương có thể không đồng đều. Do đặc điểm nhiệm vụ, kinh nghiệm, trình độ và điều kiện tổ chức công việc khác nhau, việc phát triển năng lực không nên thực hiện theo một chương trình đồng nhất mà cần dựa trên khoảng trống năng lực của từng nhóm vị trí việc làm.

Bốn là, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo và các công nghệ mới đang tạo thêm yêu cầu đối với cán bộ, công chức. Bộ Chỉ số đánh giá chuyển đổi số năm 2026 của Thành phố đã đưa AI và “Bình dân học vụ số” vào nội dung đánh giá, cho thấy yêu cầu năng lực đang chuyển từ sử dụng các phần mềm hành chính thông thường sang khả năng khai thác dữ liệu, sử dụng công nghệ mới và học tập số thường xuyên.

Năm là, năng lực làm việc số phải gắn với năng lực phục vụ người dân trên môi trường số. Thực tế tại một số phường cho thấy cán bộ, công chức và lực lượng hỗ trợ vẫn phải trực tiếp hướng dẫn người dân thực hiện hồ sơ trực tuyến, nhất là đối với người cao tuổi hoặc người chưa thành thạo công nghệ. Vì vậy, công chức cấp xã vừa phải là người sử dụng thành thạo công nghệ, vừa phải có khả năng hỗ trợ người dân tiếp cận chính quyền số.

Nhìn chung, TP. Hồ Chí Minh đã tạo lập những điều kiện quan trọng để chuyển hoạt động của chính quyền cấp xã sang môi trường số và bước đầu đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn hiện nay đã vượt khỏi phạm vi “biết sử dụng công nghệ”, hướng tới năng lực tích hợp tư duy số, công nghệ, dữ liệu, khả năng phối hợp, AI, an toàn thông tin và tinh thần phục vụ vào toàn bộ quá trình thực thi công vụ. Khoảng cách giữa yêu cầu đó với năng lực thực tế của từng vị trí việc làm chính là vấn đề cần tiếp tục đánh giá và là cơ sở để xây dựng các giải pháp phát triển năng lực làm việc trên môi trường số cho cán bộ, công chức cấp xã TP. Hồ Chí Minh trong thời gian tới.

5. Một số giải pháp

Từ thực trạng cho thấy, vấn đề đặt ra đối với cán bộ, công chức cấp xã tại TP. Hồ Chí Minh hiện nay không còn dừng ở khả năng sử dụng công nghệ mà là mức độ đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm trong điều kiện khối lượng nhiệm vụ gia tăng, phân cấp mạnh hơn và phương thức quản trị ngày càng dựa trên dữ liệu. Vì vậy, nâng cao năng lực làm việc trên môi trường số cần được triển khai đồng bộ và gắn trực tiếp với những khoảng trống năng lực đã được nhận diện.

Thứ nhất, xây dựng và áp dụng khung năng lực làm việc số theo vị trí việc làm, xác định rõ các nhóm năng lực về tư duy số, công nghệ, dữ liệu, phối hợp số, an toàn thông tin và ứng dụng AI; trên cơ sở đó đánh giá khoảng cách giữa năng lực hiện có với yêu cầu của từng vị trí để bố trí, sử dụng và bồi dưỡng phù hợp.

Thứ hai, đổi mới đào tạo, bồi dưỡng theo hướng thực chất và dựa trên công việc.Chuyển từ đào tạo chủ yếu về kiến thức, thao tác phần mềm sang thực hành giải quyết tình huống công vụ số như xử lý hồ sơ điện tử, khai thác dữ liệu, phối hợp liên thông, sử dụng AI và xử lý rủi ro an toàn thông tin. Việc bồi dưỡng cần được thực hiện thường xuyên, kết hợp tự học với đào tạo tại vị trí việc làm.

Thứ ba, coi năng lực dữ liệu và ứng dụng AI là những năng lực cần được ưu tiên phát triển, giúp công chức chuyển từ nhập liệu, số hóa hồ sơ sang khai thác, phân tích và sử dụng dữ liệu phục vụ tham mưu, quản lý và giải quyết công việc.

Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện môi trường làm việc số và tăng cường liên thông dữ liệu, hạn chế tình trạng xử lý song song hồ sơ giấy và điện tử, tạo điều kiện để công chức hình thành phương thức làm việc số ngay trong thực tiễn công vụ.

Thứ năm, đổi mới đánh giá năng lực theo kết quả thực thi nhiệm vụ, lấy khả năng xử lý công việc nhanh, chính xác, an toàn, phối hợp hiệu quả và mức độ thuận tiện của người dân, doanh nghiệp làm thước đo. Qua đó, phát triển năng lực số được chuyển từ mục tiêu “biết và sử dụng công nghệ” sang “tạo ra hiệu quả công vụ bằng công nghệ và dữ liệu”, phù hợp với yêu cầu vận hành chính quyền địa phương hai cấp tại TP. Hồ Chí Minh.

6. Kết luận

Chuyển đổi số và việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang đặt ra những yêu cầu mới đối với năng lực thực thi công vụ của cán bộ, công chức cấp xã tại TP. Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh nhiệm vụ, trách nhiệm và khối lượng công việc ở cấp cơ sở ngày càng gia tăng, kỹ năng số không còn là kỹ năng hỗ trợ mà trở thành một thành tố thiết yếu của năng lực thực thi công vụ trên môi trường số.

Phát triển kỹ năng số vì vậy, cần được tiếp cận toàn diện, bao gồm tư duy và khả năng thích ứng số; sử dụng công nghệ, nền tảng số; khai thác và quản trị dữ liệu; giao tiếp, phối hợp và giải quyết công việc trực tuyến; bảo đảm an toàn thông tin; đồng thời từng bước nâng cao khả năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động công vụ. Trọng tâm không chỉ là giúp cán bộ, công chức biết sử dụng công nghệ mà phải hướng đến khả năng vận dụng công nghệ và dữ liệu để giải quyết công việc hiệu quả, chính xác, an toàn và có trách nhiệm. Do đó, Thành phố cần gắn phát triển kỹ năng số với vị trí việc làm; đánh giá đúng khoảng trống năng lực; đổi mới đào tạo, bồi dưỡng theo tình huống công vụ; xây dựng môi trường làm việc số và đánh giá kỹ năng thông qua kết quả thực hiện nhiệm vụ. Phát triển kỹ năng số cho cán bộ, công chức cấp xã chính là điều kiện để chuyển hóa công nghệ và dữ liệu thành hiệu quả quản trị, góp phần xây dựng chính quyền cơ sở chuyên nghiệp, hiện đại, liên thông và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Hội đồng Nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2026). TP. Hồ Chí Minh số hóa hành chính, gần dân hơn từng ngày. https://hdnd.hochiminhcity.gov.vn/tin-tuc/tin-hoat-dong-hdnd-cap-xa/tphcm-so-hoa-hanh-chinh-gan-dan-hon-tung-ngay
Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh (2026). TP. Hồ Chí Minh ban hành Bộ chỉ số chuyển đổi số mới: AI và “Bình dân học vụ số” trở thành thước đo năng lực địa phương. https://dost.hochiminhcity.gov.vn/chuyen-doi-so/tphcm-ban-hanh-bo-chi-so-chuyen-doi-so-moi-ai-va-binh-dan-hoc-vu-so-tro-thanh-thuoc-do-nang-luc-di-phuong/
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 700/QĐ-TTg ngày 20/4/2026 phê duyệt Đề án tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc khu đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương 2 cấp giai đoạn 2026–2031.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 22/4/2026 về đẩy mạnh bồi dưỡng và đánh giá kiến thức, kỹ năng số đối với cán bộ, công chức, viên chức.
Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2025). Kế hoạch số 97/KH-UBND ngày 22/9/2025 về triển khai phong trào “Bình dân học vụ số” tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2025–2026.
Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2026). Quyết định số 3336/QĐ-UBND ngày 05/6/2026 về ban hành Bộ Chỉ số đánh giá chuyển đổi số của TP. Hồ Chí Minh.
Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2026). Kế hoạch số 400/KH-UBND ngày 24/7/2026 về bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc khu đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương 2 cấp giai đoạn 2026–2031 trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2026). Báo cáo công tác cải cách hành chính năm 2025 của TP. Hồ Chí Minh. http://caicachhanhchinh.gov.vn/tin-tuc/thanh-pho-ho-chi-minh-ket-qua-cai-cach-hanh-chinh-nam-2025
Đỗ Thị Thanh Nga (2026). Những yêu cầu mới về năng lực số của công chức cấp xã trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam. Tạp chí Tổ chức nhà nước và Lao động. https://tcnnld.vn/news/detail/72359/Nhung-yeu-cau-moi-ve-nang-luc-so-cua-cong-chuc-cap-xa-trong-boi-canh-thuc-hien-chinh-quyen-dia-phuong-02-cap-o-Viet-Nam.html
Thiều Huy Thuật (2026). Một số giải pháp nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Đắk Lắk. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/05/05/mot-so-giai-phap-nang-cao-nang-luc-so-cho-doi-ngu-can-bo-cong-chuc-cap-xa-tinh-dak-lak/