Developing modern productive forces in conjunction with digital transformation: an endogenous driving force for a new era of development
PGS.TS. Đỗ Thị Thùy Trang
Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Email: dtttrang-cb@hcmulaw.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn với chuyển đổi số trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào “kỷ nguyên phát triển mới”. Trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về lực lượng sản xuất và vai trò của đổi mới kỹ thuật, khoa học – công nghệ, bài viết luận giải chuyển đổi số không chỉ là xu thế công nghệ mà còn là động lực nội sinh quyết định đối với quá trình hiện đại hóa lực lượng sản xuất. Từ phân tích thực tiễn phát triển lực lượng sản suất trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ ở Việt Nam, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm đồng bộ chính sách, phát triển hạ tầng số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thúc đẩy mô hình hợp tác đa ngành, liên vùng, qua đó hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên số.
Từ khóa: Lực lượng sản xuất hiện đại; chuyển đổi số; động lực nội sinh; phát triển bền vững.
Abstract: This article analyzes the theoretical and practical foundations of developing modern productive forces in conjunction with digital transformation as Vietnam enters a “new era of development.” Building on the Marxist-Leninist theoretical foundation regarding productive forces and the role of technical innovation, science, and technology, the article argues that digital transformation is not merely a technological trend but also a decisive endogenous driving force for the modernization of productive forces. Based on an analysis of the practical development of productive forces amid Vietnam’s rapid digital transformation, the author proposes several solutions aimed at harmonizing policies, developing digital infrastructure, enhancing the quality of the workforce, and promoting multi-sectoral and inter-regional cooperation models, thereby realizing the goal of rapid and sustainable development in the digital era.
Keywords: Modern productive forces, digital transformation, endogenous drivers, sustainable development.
1. Đặt vấn đề
Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số là yêu cầu tất yếu nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI. Trong điều kiện cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, chuyển đổi số không chỉ là quá trình ứng dụng công nghệ vào sản xuất và quản trị mà còn là sự tái cấu trúc toàn diện phương thức sản xuất, tổ chức lao động và quan hệ kinh tế, qua đó phản ánh trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất. Trong thời đại số, các yếu tố của lực lượng sản xuất đang biến đổi sâu sắc, hình thành lực lượng sản xuất hiện đại dựa trên công nghệ tiên tiến, tri thức số và khả năng thích ứng linh hoạt. Chuyển đổi số góp phần hiện đại hóa công cụ lao động, nâng cao năng lực và kỹ năng số của người lao động, đồng thời thúc đẩy các mô hình sản xuất – kinh doanh theo hướng tự động hóa, tinh gọn và dữ liệu hóa, qua đó nâng cao năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Mặc dù Việt Nam đã sớm xác định vai trò chiến lược của chuyển đổi số thông qua nhiều chủ trương, chính sách quan trọng, song để quá trình này thực sự trở thành động lực nội sinh cho phát triển, cần đặt trong mối quan hệ biện chứng với việc nâng cao trình độ của tất cả các ý tố trong lực lượng sản xuất.
2. Cơ sở lý luận của việc phát triển lực lượng sản xuất gắn liền với chuyển đổi số
Theo chủ nghĩa duy vật lịch sử, lực lượng sản xuất là toàn bộ các yếu tố vật chất và con người tham gia vào quá trình sản xuất, bao gồm tư liệu sản xuất (công cụ, phương tiện, đối tượng lao động) và người lao động với kỹ năng, tri thức và năng lực sáng tạo nhất định. Sự phát triển của lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định sự vận động và biến đổi của phương thức sản xuất, từ đó tác động đến kiến trúc thượng tầng và toàn bộ đời sống xã hội (Viện Triết học, 2005, tr.29-30). Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, khi đạt đến độ chín muồi, sẽ trở thành động lực cơ bản thúc đẩy tiến trình cách mạng trong phương thức sản xuất và hệ thống xã hội.
Trong bối cảnh hiện nay, dưới tác động sâu rộng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, khái niệm lực lượng sản xuất cần được tiếp cận một cách mở rộng hơn. “Nhân loại đang được chứng kiến những sự kiện thật sự nổi bật trong thời đại chúng ta đó là sự ra đời của lực lượng sản xuất thời kỳ kỹ thuật số, như: trí tuệ nhân tạo (AI), Internet kết nối vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây (Cloud Computing) và công nghệ chuỗi khối (Blockchain)” (Nguyễn Trọng Chuẩn, 2024). Dựa vào quan điểm của C.Mác, “tất cả công cụ lao động (như máy móc, đường sắt, điện báo, máy sợi con rọc di động…) đều là sản phẩm lao động của con người, do bàn tay con người tạo ra, đều là sức mạnh vật hóa của tri thức,… khoa học “như cái đòn bẩy mạnh mẽ của lịch sử, như một lực lượng cách mạng” (C.Mác & Ph.Ănghen, 1995, tr.497), có thể khẳng định ba thành tố cốt lõi cấu thành lực lượng sản xuất hiện đại; bao gồm: (1) Tư liệu sản xuất dựa trên công nghệ cao như: trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), chuỗi khối (Blockchain) và điện toán đám mây; (2) Nguồn nhân lực số có năng lực tư duy sáng tạo, kỹ năng công nghệ và khả năng thích ứng nhanh với sự biến đổi liên tục; (3) Tổ chức sản xuất linh hoạt, tích hợp số hóa ở mọi khâu từ sản xuất, quản trị đến phân phối.
Chuyển đổi số, xét về bản chất, là quá trình tích hợp công nghệ số vào tất cả lĩnh vực của nền kinh tế – xã hội nhằm tạo ra các giá trị mới, tối ưu hóa quy trình và nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh. Các công nghệ số và dòng dữ liệu quy mô lớn đang làm thay đổi một cách căn bản cách con người sống và làm việc, tương tác với nhau, tham gia vào nền kinh tế và kết nối với chính phủ (OECD, 2019). Từ góc nhìn triết học, chuyển đổi số chính là biểu hiện cụ thể của sự phát triển lực lượng sản xuất hiện đại trong điều kiện mới. Nó không chỉ làm thay đổi tư liệu sản xuất theo hướng số hóa và thông minh hóa mà còn định hình lại mô hình tổ chức sản xuất, phân công lao động và cơ chế phân phối giá trị. Theo Tô Lâm, “Đặc trưng của lực lượng sản xuất là sự kết hợp hài hòa giữa con người và trí tuệ nhân tạo; dữ liệu trở thành một tài nguyên, trở thành tư liệu sản xuất quan trọng; đồng thời quan hệ sản xuất cũng có những biến đổi sâu sắc, đặc biệt là trong hình thức sở hữu và phân phối tư liệu sản xuất số” (Tô Lâm, 2024).
Không chỉ ảnh hưởng đến công cụ và tổ chức sản xuất, chuyển đổi số còn tác động đến quan hệ sản xuất, nhất là về quyền sở hữu dữ liệu, phân phối tài nguyên số và cơ chế điều phối thị trường thông qua nền tảng số. Điều này đòi hỏi phải tái thiết mô hình quan hệ sản xuất để phù hợp với yêu cầu của lực lượng sản xuất mới. Đúng như dự báo của C.Mác khi cho rằng, quan hệ sản xuất phải tương thích với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nếu không sẽ trở thành xiềng xích kìm hãm sự phát triển, “quan hệ sản xuất vốn là hình thức thích ứng với lực lượng sản xuất (phù hợp), nhưng do mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất (yếu tố động) với quan hệ sản xuất (yếu tố ổn định tương đối) nên quan hệ sản xuất từ chỗ thích ứng với lực lượng sản xuất lại trở thành xiềng xích kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất (không phù hợp)” (Viện Triết học, 2005, tr.33-34).
Từ góc độ chính sách phát triển, nhiều quốc gia trên thế giới đã xác định chuyển đổi số là động lực chiến lược để thúc đẩy năng suất và đổi mới mô hình tăng trưởng. Báo cáo của McKinsey (2022) cho thấy: các doanh nghiệp triển khai chuyển đổi số toàn diện có thể tăng năng suất lên 20 – 30% và giảm chi phí vận hành 15 – 25% (McKinsey & Company, 2022). Đối với Việt Nam, định hướng này đã được thể hiện rõ trong các văn kiện quan trọng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số, chính phủ số nhằm tạo đột phá trong nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.112). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng khẳng định, chuyển đổi số phải gắn liền với phát triển khoa học – công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và đổi mới sáng tạo như những trụ cột nền tảng của phát triển lực lượng sản xuất trong thời đại mới.
Như vậy, phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn với chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu lý luận mà còn là yêu cầu thực tiễn cấp thiết. Đây chính là nền tảng để Việt Nam thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, tự chủ và hội nhập sâu rộng, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mô hình phát triển với tốc độ và quy mô chưa từng có.
3. Chuyển đổi số như động lực nội sinh cho phát triển lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới
3.1. Từ chuyển đổi số đến động lực nội sinh của lực lượng sản xuất
Theo triết học Mác – Lênin, lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất và người lao động, phản ánh năng lực sản xuất hiện có của xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất định. Khi lực lượng sản xuất đạt đến trình độ mới, tất yếu đòi hỏi sự biến đổi về quan hệ sản xuất và toàn bộ kiến trúc xã hội (Viện Triết học, 2005, tr.29-33). Hiện nay, chuyển đổi số với tư cách là quá trình tích hợp công nghệ số vào toàn bộ hoạt động kinh tế – xã hội đang trở thành biểu hiện sinh động của sự phát triển lực lượng sản xuất ở một cấp độ mới; đó là dựa trên dữ liệu, tri thức và kết nối thông minh.
Khác với các cuộc cách mạng kỹ thuật trước đây chỉ thay đổi công cụ lao động hoặc phương pháp sản xuất đơn lẻ, chuyển đổi số tác động đồng thời lên mọi yếu tố của lực lượng sản xuất: tư liệu, người lao động, tổ chức sản xuất và môi trường thể chế – kỹ thuật. Do vậy, chuyển đổi số không chỉ là kết quả của tiến bộ công nghệ mà đã trở thành động lực nội sinh, thúc đẩy phát triển từ bên trong nền kinh tế, tạo ra khả năng “tự tăng trưởng” thông qua đổi mới và sáng tạo. Do đó, có thể khẳng định, chuyển đổi số chính là điều kiện tiên quyết để Việt Nam tạo ra những bước phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên số.
3.2. Chuyển đổi số hiện đại hóa tư liệu sản xuất
Tư liệu sản xuất là yếu tố vật chất cơ bản trong lực lượng sản xuất, bao gồm công cụ và phương tiện kỹ thuật phục vụ quá trình sản xuất. Trong đó, trình độ phát triển của công cụ lao động là tiêu chí trực tiếp đánh giá trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. C.Mác đã khẳng định “những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào” (C.Mác & Ăngghen, 1995, tr.269). Trong kỷ nguyên số, các công cụ sản xuất đã và đang được “giải vật thể hóa”, tức chuyển từ các thiết bị cơ học truyền thống sang các hệ thống kết nối, điều khiển bằng phần mềm, Big Data và AI.
Việc ứng dụng AI, IoT, Blockchain, Cloud Computing đã làm biến đổi hoàn toàn hình thức và hiệu quả của tư liệu sản xuất. Tại Việt Nam, các doanh nghiệp như: FPT, Viettel, Vinamilk đã triển khai các nhà máy thông minh sử dụng công nghệ MES (Manufacturing Execution System), cho phép giám sát và tối ưu hóa quá trình sản xuất theo thời gian thực. Theo một nghiên cứu khác, “sự chuyển biến này cho thấy lực lượng sản xuất đang vận động theo đúng quy luật phát triển biện chứng, tạo tiền đề làm nảy sinh và thúc đẩy mâu thuẫn với quan hệ sản xuất hiện hành, đòi hỏi phải được cải biến tương ứng để phù hợp với trình độ mới của lực lượng sản xuất” (Đặng Thị Hoài, 2023).
3.3. Chuyển đổi số nâng cao vai trò người lao động – chủ thể trung tâm của sản xuất
Người lao động là yếu tố mang tính xã hội và là chủ thể sáng tạo trong lực lượng sản xuất. Nền kinh tế số đã đặt ra yêu cầu đặt ra đốivới người lao động không chỉ có thao tác kỹ thuật, mà còn phải có năng lực tương tác với hệ thống số, khai thác dữ liệu, và thích ứng với môi trường sản xuất phi vật thể.
Theo Economist Impact (2023), 44% kỹ năng cốt lõi của người lao động sẽ thay đổi trong vòng 5 năm tới; trong đó, các kỹ năng như tư duy phản biện, sáng tạo, học tập liên tục và công nghệ số là trụ cột. Khảo sát tại Việt Nam cho thấy chỉ khoảng 23% người lao động hiện có kỹ năng số tối thiểu, tạo ra khoảng cách lớn giữa yêu cầu và thực tế (Economist Impact, 2023). Do đó, chuyển đổi số là một đòi hỏi tất yếu; bởi đó là quá trình đồng thời phát triển công cụ sản xuất và người lao động. Việc phát triển năng lực số cho người lao động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất hiện đại mà còn là yếu tố quyết định nội sinh hóa tiến trình phát triển của đất nước.
3.4. Chuyển đổi số tái cấu trúc mô hình tổ chức sản xuất
Nếu tư liệu sản xuất và người lao động là yếu tố nội dung thì tổ chức sản xuất là hình thức biểu hiện của lực lượng sản xuất. Trong nền sản xuất truyền thống, tổ chức sản xuất tuân theo cấu trúc tuyến tính, tập trung. Nhưng chuyển đổi số đang thay thế mô hình này bằng mạng lưới phân tán, kết nối thời gian thực và linh hoạt cao.
Tại Việt Nam, hơn 45% doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đã áp dụng mô hình tổ chức dựa trên nền tảng số từ quản lý nhân sự, marketing, đến vận hành chuỗi cung ứng (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2023). Mô hình sản xuất nền tảng (platform-based production) cho phép doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí, tăng khả năng mở rộng và thích ứng nhanh với thị trường. Mô hình tổ chức trong nền sản xuất số không còn giới hạn trong không gian vật lý, mà mở rộng thành “hệ sinh thái liên kết” giữa các tác nhân, vận hành thông qua dữ liệu, thuật toán và tiêu chuẩn chia sẻ. Đó là tổ chức mang tính “mềm hóa”, phản ánh đúng bản chất linh hoạt của lực lượng sản xuất hiện đại.
3.5. Hạ tầng số và thể chế số – điều kiện cho động lực nội sinh phát huy hiệu quả
Chuyển đổi số chỉ trở thành động lực nội sinh khi có hệ điều kiện hạ tầng và thể chế tương thích. Hạ tầng số là cơ sở kỹ thuật của nền sản xuất mới, bao gồm: mạng truyền dẫn, trung tâm dữ liệu, nền tảng điện toán đám mây và các hệ thống an toàn, bảo mật số. Thể chế số là khung pháp lý, chính sách cho sản xuất số vận hành, gồm: quyền sở hữu dữ liệu, giao dịch tài sản số, sandbox thử nghiệm công nghệ. Tính đến tháng 02/2026, Việt Nam đã triển khai gần 40.000 trạm 5G, phủ sóng hơn 90% dân số với gần 23 triệu thuê bao 5G, cho thấy hạ tầng số tiếp tục được mở rộng mạnh mẽ (Du Lam, 2026). Hiện nay, các bộ, ngành và địa phương tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, hoàn thiện cơ chế chia sẻ dữ liệu và phát triển hạ tầng số phục vụ quản lý, điều hành (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2024). Như vậy, có thể thấy hạ tầng số và thể chế số là điều kiện vận hành cơ bản để lực lượng sản xuất hiện đại hình thành và phát triển. Nếu không đồng bộ, động lực sẽ trở nên rời rạc và thiếu khả năng bền vững; như Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng từng nhấn mạnh, “muốn phát triển cái gì cũng phải cần thể chế cho nó, cần có hạ tầng cho nó và nhân lực cho nó” (Nguyễn Mạnh Hùng, 2023).
Như vậy có thể khẳng định, chuyển đổi số khi gắn với các yếu tố cốt lõi như: tư liệu lao động, con người, mô hình tổ chức, hạ tầng và thể chế sẽ không chỉ là tiến trình kỹ thuật mà thực sự trở thành động lực nội sinh thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Đây chính là nền tảng lý luận và thực tiễn để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng “vươn mình” trong kỷ nguyên mới, dựa vào sức mạnh sáng tạo, tri thức và khả năng phát triển từ bên trong nền kinh tế quốc gia.
4. Giải pháp phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn với chuyển đổi số
Thứ nhất, đổi mới tư duy và tầm nhìn chiến lược về lực lượng sản xuất trong thời đại số
Cần phải thay đổi cách tiếp cận trong hoạch định chính sách, chiến lược phát triển ngành, lĩnh vực và địa phương. Tư duy “từ trên xuống”, tách rời giữa công nghệ và sản xuất cần được thay thế bằng tư duy hệ sinh thái, liên ngành, lấy đổi mới sáng tạo và dữ liệu làm trọng tâm. Bên cạnh đó, cần hình thành một hệ thống lý luận hiện đại, có tính cập nhật về mô hình lực lượng sản xuất trong nền kinh tế số, đặc biệt là vai trò của tài sản vô hình, BigData, AI và tài sản trí tuệ. Việc xây dựng tầm nhìn quốc gia về phát triển lực lượng sản xuất hiện đại đến năm 2045, gắn chặt với chuyển đổi số là cần thiết để thống nhất định hướng phát triển giữa các cấp chính quyền, doanh nghiệp và người dân, bảo đảm tính kế thừa, linh hoạt và chủ động.
Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực số
Trong mô hình sản xuất hiện đại, nguồn nhân lực không chỉ là người sử dụng công cụ mà còn là người sáng tạo ra công cụ, tổ chức sản xuất và làm chủ tri thức. Chuyển đổi số làm gia tăng vai trò của lao động trí tuệ, buộc người lao động không ngừng học tập, cập nhật công nghệ và thích nghi với những biến động nhanh chóng của thị trường. Do đó, phát triển nguồn nhân lực số là yêu cầu tiên quyết để bảo đảm sức mạnh nội sinh cho tiến trình phát triển lực lượng sản xuất.
Việt Nam cần một chiến lược quốc gia về đào tạo kỹ năng số cho toàn dân; bao gồm: kỹ năng cơ bản (sử dụng thiết bị, phần mềm, dữ liệu), kỹ năng trung cấp (lập trình, phân tích dữ liệu, điều hành hệ thống số) và kỹ năng nâng cao (phát triển AI, an toàn mạng, điều hành mô hình tổ chức nền tảng). Hệ thống giáo dục phải tích hợp kỹ năng số vào từ cấp phổ thông đến đại học và đào tạo nghề. Các chương trình đào tạo cần dịch chuyển từ mô hình truyền thống sang mô hình “học tập linh hoạt”, cá nhân hóa và tích hợp học tập suốt đời.
Doanh nghiệp cần được trao vai trò chủ động trong phát triển nhân lực thông qua cơ chế đặt hàng đào tạo, học kỳ doanh nghiệp và khuyến khích xây dựng các trung tâm đào tạo nội bộ. Đặc biệt, khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa, nơi lực lượng lao động chiếm tỷ trọng lớn nhưng cơ hội tiếp cận chuyển đổi số còn hạn chế cần được hỗ trợ tiếp cận kỹ năng số bằng các mô hình học tập cộng đồng, học qua di động, hoặc học qua mô hình hợp tác xã số.
Thứ ba, đồng bộ hóa thể chế
Việt Nam cần đẩy nhanh việc xây dựng khung pháp lý về dữ liệu, tài sản số, AI và hợp đồng điện tử để các yếu tố sản xuất mới có cơ sở tồn tại và lưu thông hợp pháp. Cần đặc biệt quan tâm tới vấn đề sở hữu dữ liệu không chỉ dưới góc độ cá nhân mà cả ở cấp doanh nghiệp và quốc gia vì đây là yếu tố quan trọng của “tài sản sản xuất” trong nền kinh tế số. Đồng thời, nên mở rộng các chương trình “sandbox” chính sách, cho phép doanh nghiệp thử nghiệm công nghệ mới trong môi trường kiểm soát rủi ro, nhất là trong các lĩnh vực có tốc độ đổi mới cao như công nghiệp số, nông nghiệp số, tài chính công nghệ và giáo dục trực tuyến.
Ngoài ra, thể chế không chỉ là luật pháp mà còn bao gồm cả năng lực điều hành. Do đó, các cơ quan công quyền cần được số hóa, vận hành trên nền tảng dữ liệu và quy trình điện tử, nhằm giảm thiểu độ trễ, nâng cao minh bạch và tăng hiệu quả trong việc hỗ trợ doanh nghiệp triển khai sản xuất số.
Thứ tư, đầu tư chiến lược vào hạ tầng số và công nghệ lõi
Cần có chiến lược đầu tư hạ tầng số quốc gia theo hướng: kết nối tốc độ cao – năng lực xử lý lớn – bảo mật cấp quốc gia. Đầu tư công cần đi trước, đóng vai trò dẫn dắt, sau đó huy động vốn tư nhân và quốc tế để mở rộng quy mô. Việt Nam cũng cần đẩy mạnh việc làm chủ công nghệ về AI, vi mạch, cảm biến, và điều khiển tự động, những thành phần không thể thiếu trong chuỗi giá trị sản xuất hiện đại. Đặc biệt, cần phát triển các khu sản xuất thông minh, liên kết chặt chẽ giữa công nghệ – sản xuất – dịch vụ – quản trị, gắn với đặc điểm vùng, miền, ngành, nghề.
Thứ năm, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, liên kết Nhà nước – doanh nghiệp – viện – trường – cộng đồng
Chuyển đổi số không thể diễn ra hiệu quả nếu thiếu môi trường hợp tác đa chiều. Để lực lượng sản xuất phát triển nhanh và bền vững, Việt Nam cần xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mở, nơi mọi chủ thể đều có vai trò và lợi ích.
Nhà nước cần chuyển vai trò từ “quản lý” sang “kiến tạo, dẫn dắt” thông qua thiết kế chính sách thuận lợi, cung cấp dữ liệu công, hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm đổi mới, đầu tư vào công nghệ, triển khai mô hình tổ chức linh hoạt và chia sẻ công nghệ qua liên kết ngành. Các viện nghiên cứu, trường đại học cần chủ động cung cấp nền tảng tri thức, công nghệ và nhân lực, đồng thời tham gia vào mô hình hợp tác nghiên cứu, sản xuất theo đơn đặt hàng.
Cộng đồng, nhất là người dân và người tiêu dùng số cần được coi là một mắt xích của hệ sinh thái. Khi người dân hiểu, ủng hộ và sử dụng các sản phẩm số, họ trở thành lực lượng thử nghiệm, góp ý và lan tỏa chuyển đổi số, từ đó tạo lực đẩy xã hội cho lực lượng sản xuất hiện đại hình thành.
5. Kết luận
Chuyển đổi số đang trở thành động lực nội sinh quan trọng trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam. Quá trình này không chỉ góp phần hiện đại hóa tư liệu lao động, nâng cao vai trò người lao động mà còn định hình lại mô hình tổ chức sản xuất, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện thể chế và hạ tầng số. Đây là cơ sở để nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất và năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Để phát huy đầy đủ vai trò của chuyển đổi số, cần triển khai đồng bộ các giải pháp mang tính chiến lược: đổi mới tư duy phát triển; phát triển nguồn nhân lực số chất lượng cao; xây dựng thể chế linh hoạt, thích ứng với công nghệ; đầu tư hạ tầng kỹ thuật số; và thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo liên kết nhiều chủ thể. Khi được thực hiện hiệu quả, những yếu tố này sẽ giúp chuyển đổi số thực sự trở thành động lực nội sinh cho phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, góp phần hiện thực hóa khát vọng vươn mình mạnh mẽ và bền vững của Việt Nam trong kỷ nguyên số.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2023). Báo cáo Đổi mới sáng tạo và Đầu tư công nghệ Việt Nam 2023. Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC). https://nic.gov.vn/img/wpuploads/2023/03/VIE_Vietnam-Innovation-Tech-Investment-Report-2023-1.pdf
Bộ Thông tin và Truyền thông (2024). Báo cáo chuyển đổi số quốc gia thường kỳ tháng 8 năm 2024, https://mst.gov.vn/bao-cao-chuyen-doi-so-quoc-gia-thuong-ky-thang-8-nam-2024-197240924110650509.htm.
Các Mác và Ph. Ăngghen (1995). Toàn tập (Tập 19). H. Nxb Chính trị quốc gia.
Các Mác và Ph. Ăngghen (1995). Toàn tập (Tập 23). H. Nxb Chính trị quốc gia.
Nguyễn Trọng Chuẩn (2024). Lực lượng sản xuất mới trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tạp chí Triết học, số 11 (395), tháng 11/2024.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). H. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đặng Thị Hoài (2023). Lực lượng sản xuất trong giai đoạn phát triển kinh tế số ở Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/03/30/luc-luong-san-xuat-trong-giai-doan-phat-trien-kinh-te-so-o-viet-nam/
Economist Impact (2023). Bridging the skills gap: Fuelling careers and the economy in Vietnam, https://impact.economist.com/perspectives/talent-education/bridging-skills-gap-fuelling-careers-and-economy-vietnam
McKinsey & Company (2022). Tech trends outlook 2022. McKinsey Digital, https://www.mckinsey.com/~/media/mckinsey/business%20functions/mckinsey%20digital/our%20insights/the%20top%20trends%20in%20tech%202022/mckinsey-tech-trends-outlook-2022-full-report.pdf
Nguyễn Mạnh Hùng (2023). Chuyển đổi số cần có thể chế số, hạ tầng số và cán bộ số. https://mst.gov.vn/chuyen-doi-so-thi-can-the-che-so-ha-tang-so-va-can-bo-so-197241101160800386.htm
OECD (2019). Going Digital: Shaping Policies, Improving Lives. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/9789264312012-en
Phạm Văn Toàn (2023). Giải pháp chuyển đổi số trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam. https://tapchicongthuong.vn/giai-phap-chuyen-doi-so-trong-cac-doanh-nghiep-nho-va-vua-o-viet-nam-133175.htm
Tô Lâm (2024). Chuyển đổi số – động lực quan trọng phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/chuyen-doi-so-dong-luc-quan-trong-phat-trien-luc-luong-san-xuat-hoan-thien-quan-he-san-xuat-dua-dat-nuoc-buoc-vao-ky-nguyen-moi
Viện Triết học – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2005). Giáo trình triết học Mác – Lênin. H. Nxb Lý luận chính trị.
Du Lam (2026). Việt Nam phủ sóng 5G đến 90% dân số với gần 23 triệu thuê bao, https://vietnamnet.vn/viet-nam-phu-song-5g-den-90-dan-so-voi-gan-23-trieu-thue-bao-2499958.html.



