Promoting Vietnam’s goods exports to Brazil in the context of increased United States tariffs
TS. Nguyễn Minh Tuấn
Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Email: MtuanBthuy@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh Hoa Kỳ gia tăng các biện pháp bảo hộ thương mại, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu trở thành yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam. Brazil – với quy mô thị trường lớn và là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam tại khu vực Nam Mỹ, đang mở ra dư địa cho hàng hóa Việt Nam mở rộng thị phần. Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu vẫn chịu tác động của các rào cản về thuế quan, tiêu chuẩn kỹ thuật, thủ tục tiếp cận thị trường, logistics và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện điều kiện tiếp cận thị trường và nâng cao khả năng mở rộng xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang Brazil.
Từ khóa: Việt Nam; Brazil; Hoa Kỳ; xuất khẩu hàng hóa; gia tăng thuế quan.
Abstract: Against the backdrop of the United States’ increasing trade protectionism, diversifying export markets has become an urgent priority for Vietnam. Brazil, with its large market size and position as an important trading partner of Vietnam in South America, offers opportunities for Vietnamese goods to expand their market share. However, export activities continue to face barriers related to tariffs, technical standards, market access procedures, logistics, and firms’ competitiveness. Against this background, the article proposes several solutions to improve market access conditions and enhance the capacity to expand Vietnamese goods exports to Brazil.
Keywords: Vietnam; Brazil; United States; merchandise exports; tariff increases.
1. Đặt vấn đề
Chính sách gia tăng bảo hộ thương mại và điều chỉnh thuế nhập khẩu trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Donald Trump (Trump 2.0) đã tác động mạnh đến thương mại toàn cầu. Đối với Việt Nam, sau đàm phán, mức thuế chính thức mà Hoa Kỳ áp dụng là 20% cho nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam và 40% đối với hàng trung chuyển từ nước thứ ba. Đối với Brazil, Tổng thống Trump đã ký sắc lệnh tăng thêm 40% thuế, đưa tổng mức thuế đối với phần lớn hàng hóa của Brazil xuất khẩu sang Hoa Kỳ lên tới 50% (White House, 2025). Những thay đổi trong chính sách thương mại của Hoa Kỳ đang góp phần thúc đẩy các quốc gia đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và tăng cường quan hệ thương mại song phương. Trong bối cảnh đó, Brazil là một thị trường có tiềm năng đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.
Hiện nay, Việt Nam là đối tác thương mại số một của Brazil ở Đông Nam Á. Xét trên toàn cầu, Việt Nam đứng thứ 18 trong số 223 đối tác thương mại của Brazil, còn Brazil đứng thứ 27 trong số 152 đối tác thương mại của Việt Nam (OECD, 2025).
Trong bối cảnh dòng chảy thương mại quốc tế có nhiều thay đổi, cùng với quy mô thị trường và dư địa gia tăng thị phần tại Brazil, việc phân tích cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, mức độ phù hợp với nhu cầu nhập khẩu của Brazil và tiềm năng mở rộng thương mại song phương là cần thiết. Qua đó, bài viết nhận diện những nhóm hàng có tiềm năng mở rộng xuất khẩu và đề xuất một số giải pháp đối với cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp Việt Nam.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, kết hợp với cách tiếp cận từ lý thuyết quan hệ quốc tế, thương mại quốc tế và lý thuyết ưu đãi thuế quan đối với các nước đang phát triển (KS Sundara Raja, 1966). Nguồn dữ liệu bao gồm các tài liệu sơ cấp, thứ cấp và dữ liệu từ Trademap làm minh chứng. Bên cạnh đó, bài viết sử dụng phương pháp thống kê, mô tả và phân tích dữ liệu để làm rõ thực trạng, tính bổ sung và tương thích của các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Brazil từ giai đoạn 2019 – 2025.
Bài viết kết hợp sử dụng chỉ số bổ sung thương mại (TCI) và chỉ số tương thích thương mại (ICI) nhằm đánh giá sâu hơn cơ hội thương mại song phương trong tương lai.
Chỉ số TCI được tính theo công thức:

Trong đó: TCI là chỉ số bổ sung thương mại; Xi: tỷ trọng xuất khẩu của sản phẩm i trong tổng xuất khẩu của quốc gia xuất khẩu; Mi: Tỷ trọng nhập khẩu của sản phẩm i trong tổng nhập khẩu của quốc gia nhập khẩu. Chỉ số ICI được tính theo công thức sau:

Trong đó: ICI là chỉ số tương thích thương mại; Xi: tỷ trọng xuất khẩu của sản phẩm i trong tổng xuất khẩu của quốc gia xuất khẩu; Mi: tỷ trọng nhập khẩu của sản phẩm i trong tổng nhập khẩu của quốc gia nhập khẩu
TCI/ICI = 100: xuất khẩu và nhập khẩu giữa hai quốc gia hoàn toàn bổ sung/tương thích với nhau.
TCI/ICI = 0: cơ cấu thương mại hàng hoá giữa hai quốc gia không có tính bổ sung/tương thích với nhau
Bộ số liệu được phân loại thành bốn mức độ: từ 0 – 25: nhóm thấp; từ 26 – 50: nhóm trung bình thấp; từ 51 – 75: nhóm trung bình cao; từ 76 – 100: nhóm cao.
Bộ số liệu dùng để tính toán chỉ số TCI và ICI trong bài viết được thu thập từ nguồn dữ liệu do Trade Map (cơ sở dữ liệu do International Trade Centre – ITC) làm cơ sở để đánh giá. Chỉ số ICI được áp dụng cho các mặt hàng xuất khẩu sang Brazil vượt trên 100 triệu USD.
Bộ số liệu được thu thập từ năm 2019 nhằm cập nhật tình hình thực tế và làm nổi bật những biến động thương mại giữa hai nước trong vài năm trở lại đây.
3. Thực trạng thương mại giữa Brazil và Việt Nam
Đại dịch Covid -19 đã làm gián đoạn thương mại hàng hóa Việt Nam – Brazil. Năm 2020, xuất khẩu của Việt Nam sang Brazil giảm 15,1% so với năm 2019. Năm 2021, xuất khẩu phục hồi mạnh, tăng 24,3% so với 2020 và cao hơn 5,58% so với năm 2019. Năm 2022, xuất khẩu giảm nhẹ 1,3%, trước khi phục hồi và duy trì mức tăng trưởng dương năm 2023 với 9%; năm 2024 với 6,6% (Trademap.org, 11/9/2024); và 2 tháng đầu năm 2025, kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều giữa Việt Nam và Brazil đạt 1,44 tỷ USD; trong đó, xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang Brazil đạt 0,39 tỷ USD, hàng hóa nhập khẩu từ Brazil về Việt Nam đạt 1,05 tỷ USD (Nhật Khôi, 2025).
Bảng 1. Thương mại hàng hoá Việt Nam – Brazil từ năm 2019 – 2024
Đơn vị: triệu USD, %
| Năm | Xuất khẩu của Việt Nam sang Brazil | Nhập khẩu hàng hoá Brazil vào Việt Nam | ||
| Giá trị | Tăng trưởng | Giá trị | Tăng trưởng | |
| 2019 | 2.147,86 | – | 2.037,60 | – |
| 2020 | 1.824,20 | -15,1 | 2.264,22 | 11,1 |
| 2021 | 2.266,96 | 24,3 | 2.619,90 | 15,7 |
| 2022 | 2.237,28 | -1,3 | 3.435,67 | 31,1 |
| 2023 | 2.437,59 | 9,0 | 3.722,44 | 8,3 |
| 2024 | 2.597,73 | 6,6 | 4.057,77 | 9,0 |
Nhìn chung, thương mại hàng hóa Việt Nam – Brazil có xu hướng mở rộng sau đại dịch, nhưng cán cân thương mại vẫn nghiêng về phía Brazil. Trong giai đoạn 2020 – 2024, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Brazil liên tục cao hơn kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này. Đáng chú ý, nhập khẩu từ Brazil tăng tương đối nhanh, tăng xấp xỉ từ 2,04 tỷ USD năm 2019 lên 4,06 tỷ USD năm 2024, trong khi xuất khẩu của Việt Nam tăng xấp xỉ từ 2,15 tỷ USD lên 2,60 tỷ USD trong cùng giai đoạn (Trademap.org, 11/9/2024). Điều này cho thấy, quan hệ thương mại song phương đang mở rộng nhưng chưa cân bằng về cơ cấu và quy mô trao đổi hàng hóa.
Trong giai đoạn đại dịch Covid – 19, xuất khẩu của Brazil sang Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng, trong khi hoạt động sản xuất và thương mại của Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi các biện pháp phòng, chống dịch. Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu từ Brazil chủ yếu gồm các nguyên liệu phục vụ sản xuất, trong đó có đậu tương phục vụ chế biến thức ăn chăn nuôi và bông phục vụ ngành dệt may. Đây là những nhóm hàng có vai trò bổ trợ cho sản xuất trong nước, đồng thời phản ánh tính chất tương đối bổ sung giữa cơ cấu xuất khẩu của Brazil và nhu cầu nhập khẩu của Việt Nam.
Năm 2025, xuất khẩu của Việt Nam sang Brazil đạt trên 2,7 tỷ USD (tăng khoảng 5,3%), còn nhập khẩu đạt hơn 5 tỷ USD, tăng gần 23,99% (Hptoancau.com (15/01/2026).
Xét tổng kim ngạch thương mại hai chiều, sau mức giảm nhẹ năm 2020, thương mại Việt Nam – Brazil phục hồi rõ rệt trong các năm tiếp theo. Tổng kim ngạch đạt khoảng 4,09 tỷ USD năm 2020, tăng lên 4,89 tỷ USD năm 2021 và 5,67 tỷ USD năm 2022, tương ứng mức tăng lần lượt khoảng 19,5% và 16,1%. Giai đoạn 2022 – 2024, tổng kim ngạch tiếp tục tăng, đạt khoảng 6,16 tỷ USD năm 2023 và 6,66 tỷ USD năm 2024 (Trademap.org, 11/9/2024). Xu hướng này cho thấy, quan hệ thương mại song phương đang được mở rộng, mặc dù cán cân thương mại vẫn nghiêng về phía Brazil.
Theo tính toán bằng bộ số liệu từ Trademap thì chỉ số TCI Việt Nam – Brazil thường nằm trong khoảng 31 – 38.
Bảng 2. Chỉ số bổ sung cơ cấu thương mại hàng hoá giữa Việt Nam và Brazil từ năm 2019 đến năm 2024
| Năm | TCI |
| 2019 | 31,02 |
| 2020 | 34,39 |
| 2021 | 34,26 |
| 2022 | 32,76 |
| 2023 | 36,42 |
| 2024 | 38,23 |
Dữ liệu từ Bảng 2 phản ánh cơ cấu thương mại Việt Nam – Brazil đạt mức bổ sung trung bình thấp, mở ra nhiều dư địa tăng trưởng trong tương lai. Đáng chú ý, chỉ số TCI tăng từ 31,02 (năm 2019) lên 38,23 (năm 2024), khẳng định kim ngạch xuất nhập khẩu gia tăng cùng độ tương thích, bổ trợ ngày càng cao của hàng hóa giữa hai nước.
Bảng 3. Chỉ số tương thích hàng hóa giữa Việt Nam và Brazil năm 2024
| Mã HS | Nhóm mặt hàng | Xuất khẩu của Việt Nam sang Brazil (triệu USD) | Nhập khẩu của Brazil từ thế giới (triệu USD) | ICI | ||
| Tổng | 2.598 | Tỷ trọng XK % | 262.870 | Tỷ trọng NK % | ||
| 85 | Máy móc, thiết bị điện và linh kiện | 1.030 | 39,65 | 30.995 | 11,79 | 45,85 |
| 40 | Cao su và sản phẩm từ cao su | 328 | 12,64 | 4.502 | 1,71 | 23,87 |
| 84 | Máy móc công nghiệp và thiết bị cơ khí | 220 | 8,49 | 41.121 | 15,64 | 70,35 |
| 72 | Sắt thép và sản phẩm từ sắt thép | 198 | 7,62 | 4.780 | 1,82 | 38,52 |
| 64 | Giày dép các loại | 181 | 6,98 | 513 | 0,20 | 5,44 |
| 03 | Cá và thuỷ sản khác | 129 | 4,97 | 1.520 | 0,58 | 20,85 |
Kết quả Bảng 3 cho thấy, 6 nhóm hàng hóa của Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu sang Brazil đạt trị giá trên 100 triệu USD, đều có chỉ số tương thích với cơ cấu hàng nhập khẩu của Brazil, dao động từ mức thấp đến trung bình cao.
Trong số đó, nhóm hàng máy móc công nghiệp và thiết bị cơ khí đạt chỉ số ICI cao nhất với (70,35), thuộc nhóm trung bình cao. Kết quả này thể hiện mức độ phù hợp tương đối cao với cơ cấu nhập khẩu của Brazil. Các mặt hàng máy móc công nghiệp của Việt Nam hiện đang đáp ứng hiệu quả làn sóng gia tăng nhu cầu nhập khẩu tại Brazil, đặc biệt là trong bối cảnh quốc gia Brazil đang đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa giai đoạn hậu Covid-19. Cụ thể, Hội đồng Phát triển Công nghiệp Quốc gia Brazil (CNDI) đang tích cực thúc đẩy các chương trình hiện đại hóa, đổi mới dây chuyền sản xuất thông qua việc tăng cường nhập khẩu linh kiện, thiết bị và công nghệ tiên tiến (Marcos Toscno và Daniel Colombo, 2024). Ba nhóm hàng có chỉ số tương thích thấp gồm: cao su và các sản phẩm từ cao su (mã 40); giày dép các loại (mã 64); cá và thủy sản khác (mã 03) lại ghi nhận chỉ số ICI thấp, lần lượt là 23,87; 5,44 và 20,85, cho thấy, khả năng thâm nhập và mở rộng thị phần của Việt Nam đối với các mặt hàng này tại Brazil còn tương đối hạn chế. Bên cạnh đó, máy móc, thiết bị điện và linh kiện (mã 85); sắt thép và sản phẩm từ sắt thép (mã 72) có chỉ số ICI ở mức trung bình thấp, lần lượt đạt 45,85 và 38,52. Đây là những nhóm hàng có giá trị xuất khẩu tương đối lớn nhưng thị phần của Việt Nam trong tổng nhu cầu nhập khẩu của Brazil vẫn còn khiêm tốn.
Nhìn chung, kết quả ICI cho thấy, tiềm năng mở rộng xuất khẩu của Việt Nam sang Brazil phụ thuộc vào mức độ phù hợp giữa cơ cấu cung của Việt Nam và nhu cầu nhập khẩu của Brazil và các điều kiện tiếp cận thị trường. Thực tế mở cửa thị trường đối với một số sản phẩm thủy sản đầu năm 2025 là một minh chứng cho vai trò của điều kiện tiếp cận thị trường đối với khả năng mở rộng xuất khẩu. Brazil chính thức dỡ bỏ lệnh cấm nhập khẩu cá rô phi và đàm phán mở cửa thị trường cho cá tra Việt Nam. Nhờ đó, xuất khẩu cá tra sang Brazil 3 tháng đầu năm 2025 “bứt phá” đạt 55 triệu USD (tăng 67% so với cùng kỳ), đưa Việt Nam vươn lên vị trí thứ 3 về cung ứng cá tra tại Brazil, chỉ sau Trung Quốc và Mỹ (Minh Huy, 15/5/2025). Điều đó cho thấy, khi các rào cản tiếp cận thị trường được tháo gỡ, những nhóm hàng có khả năng đáp ứng nhu cầu nhập khẩu của Brazil có điều kiện thuận lợi hơn để mở rộng xuất khẩu.
Mặc dù là một trong những nền kinh tế lớn trên thế giới, song Brazil vẫn đối mặt với tăng trưởng bất ổn, phân mảnh chính trị, thất nghiệp cao, lạm phát và chi phí sản xuất đắt đỏ. Việc chưa có FTA khiến hàng hóa hai nước chịu nhiều bất lợi; các sản phẩm của Việt Nam, như: dệt may, giày da bị đánh thuế từ 15 – 25%, và có thể lên tới 20 – 35% khi cộng phụ phí và thuế bang (Vũ Khuê, 2024a). Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn phải đáp ứng các yêu cầu về phòng vệ thương mại, hạn ngạch, kiểm dịch, đóng gói, thủ tục rườm rà, chi phí logistics cao do khoảng cách địa lý và rào cản ngôn ngữ tiếng Bồ Đào Nha.
Về phía nội tại, doanh nghiệp Việt Nam gặp 3 hạn chế lớn: (1) Quy mô doanh nghiệp nhỏ chiếm tới 98,7% (69,3% siêu nhỏ, 24,5% nhỏ, 3,5% vừa) (Hoàng Thị Hồng (25/02/2025); (2) Hạn chế tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong 1 triệu doanh nghiệp chỉ khoảng 0,5% tham gia và chỉ có 100 doanh nghiệp là đại lý cấp 1 (Vũ Khuê, 2024b); (3) Trình độ công nghệ thấp, chỉ 6% sử dụng công nghệ Âu – Mỹ, 30 – 45% dùng của Trung Quốc, gần 65% công nghệ có tuổi đời trên 20 năm (mức trung bình và trung bình thấp khu vực) và chỉ 15% doanh nghiệp áp dụng công nghệ mới (Phan Thị Ngọc Hoa (01/9/2023).
3. Một số giải pháp
3.1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước
Thứ nhất, tăng cường đàm phán và tháo gỡ các rào cản thương mại. Việt Nam cần tiếp tục thúc đẩy đối thoại với Brazil về thuế quan, các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động vật, thực vật, hàng rào kỹ thuật, quy tắc xuất xứ và thủ tục thông quan. Về dài hạn, hai bên có thể nghiên cứu khả năng thúc đẩy đàm phán một khuôn khổ thương mại có mức độ tự do hóa cao hơn, phù hợp với lợi ích và điều kiện của mỗi bên. Trong ngắn hạn, cần ưu tiên tháo gỡ những rào cản đối với các nhóm hàng có dư địa xuất khẩu và mức độ tương thích tương đối cao. Việc tăng cường trao đổi về tiêu chuẩn, kiểm dịch và thủ tục công nhận lẫn nhau cũng có thể góp phần giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
Thứ hai, nâng cao năng lực cung cấp thông tin và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường Brazil. Các cơ quan quản lý và tổ chức xúc tiến thương mại cần xây dựng cơ sở dữ liệu cập nhật về nhu cầu nhập khẩu, thuế quan, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy định về kiểm dịch, bao bì, ghi nhãn, truy xuất nguồn gốc và các biện pháp phòng vệ thương mại của Brazil. Thông tin cần được phân loại theo ngành hàng và cập nhật thường xuyên để doanh nghiệp có thể xác định yêu cầu cụ thể trước khi ký kết hợp đồng. Đồng thời, cần tăng cường hoạt động kết nối doanh nghiệp, hội chợ, khảo sát thị trường và hỗ trợ tìm kiếm đối tác tại các trung tâm kinh tế lớn của Brazil.
Thứ ba, tăng cường hợp tác thương mại và kết nối logistics. Khoảng cách địa lý là một trong những yếu tố làm gia tăng chi phí đưa hàng hóa Việt Nam vào Brazil. Vì vậy, cần thúc đẩy hợp tác giữa các doanh nghiệp logistics, hãng tàu, doanh nghiệp xuất nhập khẩu và các trung tâm phân phối của hai nước nhằm hình thành các phương án vận tải ổn định, giảm thời gian trung chuyển và tối ưu chi phí. Cùng với đó, Việt Nam có thể tận dụng các cơ chế hợp tác khu vực và đa phương để mở rộng kết nối thương mại với Brazil, qua đó tạo thêm kênh tiếp cận doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Thứ tư, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực công nghệ và tham gia chuỗi giá trị. Các chính sách hỗ trợ cần hướng tới đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần tăng khả năng tiếp cận các chương trình hỗ trợ về vốn, công nghệ, đào tạo quản trị, chuyển đổi số và phát triển thị trường. Đồng thời, khuyến khích liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp FDI, các nhà cung ứng và các tổ chức nghiên cứu để nâng cao khả năng tham gia chuỗi cung ứng và từng bước nâng tỷ lệ giá trị gia tăng trong sản phẩm xuất khẩu.
3.2. Đối với doanh nghiệp Việt Nam
Một là, lựa chọn nhóm hàng và phân khúc thị trường dựa trên nhu cầu nhập khẩu. Doanh nghiệp cần chuyển từ cách tiếp cận thị trường dựa chủ yếu vào các sản phẩm đang xuất khẩu sang cách tiếp cận dựa trên nhu cầu và mức độ phù hợp của từng nhóm hàng. Kết quả ICI cho thấy, máy móc công nghiệp và thiết bị cơ khí có mức độ tương thích cao nhất trong các nhóm được khảo sát. Đây có thể là một hướng để doanh nghiệp nghiên cứu sâu hơn về nhu cầu, tiêu chuẩn kỹ thuật, phân khúc khách hàng và khả năng cạnh tranh trước khi mở rộng đầu tư. Đối với những nhóm hàng có ICI thấp hơn, như: giày dép, thủy sản hoặc cao su, doanh nghiệp cần đánh giá cụ thể các yếu tố hạn chế về nhu cầu, tiêu chuẩn, thuế quan và cạnh tranh trước khi lựa chọn chiến lược mở rộng.
Hai là, nâng cao chất lượng và chuẩn hóa quy trình sản xuất. Doanh nghiệp cần chủ động đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, an toàn, môi trường, truy xuất nguồn gốc, bao bì và ghi nhãn của Brazil ngay từ khâu sản xuất. Việc áp dụng các tiêu chuẩn quản lý và kiểm soát chất lượng phù hợp không chỉ giúp giảm nguy cơ bị từ chối hoặc phát sinh chi phí tại khâu nhập khẩu mà còn nâng cao khả năng tham gia các chuỗi cung ứng có yêu cầu cao. Đối với các nhóm hàng máy móc, thiết bị và linh kiện, cần chú trọng tiêu chuẩn kỹ thuật, độ chính xác và khả năng cung cấp dịch vụ sau bán hàng; đối với nông sản, thủy sản, cần đặc biệt quan tâm đến kiểm dịch, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.
Ba là, đẩy mạnh đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực quản trị. Hạn chế về quy mô, công nghệ và năng lực quản trị có thể làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp khi tiếp cận một thị trường xa và có yêu cầu tương đối cao như Brazil. Do đó, doanh nghiệp cần từng bước đổi mới thiết bị, ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất và chuỗi cung ứng, nâng cao năng lực dự báo nhu cầu và kiểm soát chất lượng. Đồng thời, cần nâng cao năng lực quản trị rủi ro thương mại, đặc biệt là rủi ro tỷ giá, thanh toán quốc tế, tranh chấp hợp đồng và các biện pháp phòng vệ thương mại.
Bốn là, doanh nghiệp cần tăng cường đầu tư cho phát triển thương hiệu, nghiên cứu hành vi người tiêu dùng và điều chỉnh sản phẩm phù hợp với thị trường Brazil. Việc xây dựng đội ngũ có khả năng sử dụng tiếng Bồ Đào Nha và hiểu biết về pháp luật, văn hóa kinh doanh địa phương có thể hỗ trợ doanh nghiệp giảm chi phí giao dịch và nâng cao khả năng duy trì quan hệ với đối tác. Bên cạnh kênh phân phối truyền thống, doanh nghiệp có thể nghiên cứu các nền tảng thương mại điện tử và mạng lưới phân phối tại Brazil phù hợp với đặc điểm từng nhóm hàng.
Năm là, chủ động tối ưu hóa logistics và đa dạng hóa đối tác. Doanh nghiệp cần so sánh các phương án vận tải, lựa chọn tuyến đường và đối tác logistics phù hợp; đồng thời, tăng cường phối hợp giữa doanh nghiệp xuất khẩu, đơn vị logistics và nhà nhập khẩu để giảm chi phí và thời gian giao hàng. Việc xây dựng mạng lưới đối tác tại Brazil cũng giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong phân phối, chăm sóc khách hàng và xử lý các vấn đề phát sinh sau bán hàng.
Tài liệu tham khảo:
Hoàng Thị Hồng (25/01/2025). Nhu cầu được hỗ trợ tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/02/25/nhu-cau-duoc-ho-tro-tai-chinh-cua-doanh-nghiep-nho-va-vua-viet-nam/
International Trade Center. (2024). Trade Map: Trade statistics for international business development. https://www.trademap.org/en/goods/time-series/exports/c/704/c/076/p/ALL/byProduct/year/default/4/direct/values/USD/table
Minh Huy (15/5/2025). Cá tra Việt Nam “rộng cửa” vào thị trường Brazil. VnEconomy. https://vneconomy.vn/ca-tra-viet-nam-rong-cua-vao-thi-truong-brazil.htm
OEC World (2025). Brazil/Vietnam. https://oec.world/en/profile/bilateral-country/bra/partner/vnm.
Phan Thị Ngọc Hoa (01/9/2023). Nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam. https://tapchitaichinh.vn/nang-cao-hieu-qua-chuyen-giao-cong-nghe-cua-cac-doanh-nghiep-fdi-tai-viet-nam.html
Raja, K. S. (1966). Tariff preferences and developing countries. International Monetary Fund, 3(4), 84. https://doi.org/10.5089/9781616352844.022
Toscano, M., & Colombo, D. (29/5/2024). Ten months of resumption of industrial and innovation policies in Brazil. Instituto de Pesquisa Econômica Aplicada (IPEA). https://www.ipea.gov.br/cts/en/all-contents/articles/articles/416-ten-months-of-resumption-of-industrial-and-innovation-policies-in-brazil.
Nhật Khôi (28/3/2025). Infographic/Tổng kim ngạch thương mại Việt Nam – Brazil đạt 1,44 tỷ USD. https://kinhte.congthuong.vn/infographic-tong-kim-ngach-thuong-mai-viet-nambrazil-dat-144-ty-usd-380444.html
Vũ Khuê (2024a). Việt Nam chỉ có 5.000 doanh nghiệp thực sự tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. VnEconomy. https://vneconomy.vn/viet-nam-chi-co-5-000-doanh-nghiep-thuc-su-tham-gia-vao-chuoi-cung-ung-toan-cau.htm
Vũ Khuê (2024b). Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam vẫn đang chịu mức thuế cao tại Brazil. VnEconomy. https://vneconomy.vn/hang-hoa-xuat-khau-cua-viet-nam-van-dang-chiu-muc-thue-cao-tai-brazil.htm
White House (2025). Addressing threats to the United States by the government of Brazil. https://www.whitehouse.gov/presidential-actions/2025/07/addressing-threats-to-the-us/
* Bài viết là sản phẩm của Nhiệm vụ cấp Bộ “Giải pháp thúc đẩy hoạt động thương mại và đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường Brazil” do Viện nghiên cứu châu Âu và châu Mỹ chủ trì.



