The role of state management in removing barriers to green capital mobilization by small and medium enterprises under carbon transition pressure
ThS. Nguyễn Thị Thanh Mai
Trường Đại học Điện lực
Email: maintt1@epu.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Áp lực chuyển đổi carbon gia tăng khi cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của Liên minh châu Âu vận hành từ năm 2026, thị trường carbon trong nước cũng bước vào giai đoạn thí điểm. Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng lớn nhất nền kinh tế nhưng gặp nhiều rào cản khi huy động vốn xanh, do hạn chế tài sản bảo đảm và năng lực quản trị. Bằng phân tích, tổng hợp tài liệu thứ cấp, so sánh chính sách, bài viết nhận diện rào cản thể chế, tài chính, công nghệ và nhận thức trong huy động vốn xanh. Kết quả cho thấy, quản lý nhà nước còn phân mảnh, thiếu công cụ phù hợp quy mô doanh nghiệp. Từ đó, bài viết đề xuất hoàn thiện quản lý nhà nước, khơi thông vốn xanh cho doanh nghiệp.
Từ khóa: Vốn xanh; chuyển đổi carbon; doanh nghiệp nhỏ và vừa; quản lý nhà nước; thị trường carbon.
Abstract: Carbon transition pressure is intensifying as the European Union’s Carbon Border Adjustment Mechanism took full effect in 2026, while Vietnam’s domestic carbon market entered its pilot phase. Small and medium enterprises (SMEs), which account for the largest share of the economy, face many barriers in mobilizing green capital due to limited collateral and governance capacity. Through analysis and synthesis of secondary sources and policy comparison, the article identifies institutional, financial, technological and cognitive barriers to green-capital mobilization. Findings show that state management remains fragmented and lacks instruments suited to the scale of small and medium enterprises. The article proposes reforms to state management to unlock green capital flows for small and medium enterprises.
Keywords: Green capital; carbon transition; small and medium enterprises; state management; carbon market.
1. Đặt vấn đề
Trong hơn một thập niên trở lại đây, chuyển đổi carbon đã đi từ một cam kết mang tính chính trị – ngoại giao trở thành một trục vận động thực chất của nền kinh tế toàn cầu. Tại Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP26), Việt Nam đã đưa ra cam kết đạt phát thải ròng bằng (0) vào năm 2050, đồng thời cập nhật đóng góp do quốc gia tự quyết định theo hướng cắt giảm mạnh phát thải khí nhà kính. Cam kết chính trị đến giai đoạn 2025 – 2026 đã thể chế hóa thành một hệ thống công cụ quản lý cụ thể: Nghị định số 119/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07/01/2022 quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn (Chính phủ, 2025); Quyết định số 232/QĐ-TTg ngày 24/01/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Thành lập và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam (Thủ tướng Chính phủ, 2025); và gần đây nhất là Nghị định số 29/2026/NĐ-CP ngày 19/01/2026 của Chính phủ về sàn giao dịch carbon trong nước cùng Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 09/02/2026 phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính giai đoạn 2025 – 2026 (Thủ tướng Chính phủ, 2026). Trên cơ sở khung pháp lý này, 110 cơ sở sản xuất thuộc ba lĩnh vực phát thải lớn: nhiệt điện, xi măng, sắt thép đã chính thức được phân bổ hạn ngạch phát thải để thí điểm giao dịch trên sàn carbon trong nước, mở ra một thị trường mà quyền phát thải lần đầu tiên được xác lập như một loại tài sản có thể định giá và trao đổi.
Song song với chuyển động trong nước, áp lực từ bên ngoài cũng gia tăng rõ rệt. Từ ngày 01/01/2026, cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của Liên minh châu Âu (EU) được thiết lập theo Quy định (EU) 2023/956 chính thức bước vào giai đoạn vận hành đầy đủ sau ba năm chuyển tiếp chỉ mang tính báo cáo (European Commission, 2023). Theo cơ chế này, nhà nhập khẩu hàng hóa thuộc sáu nhóm ngành có cường độ phát thải cao: sắt thép, nhôm, xi măng, phân bón, điện và hydro vào thị trường châu Âu buộc phải mua chứng chỉ carbon tương ứng với lượng phát thải phát sinh trong quá trình sản xuất nếu quốc gia xuất khẩu chưa có cơ chế định giá carbon tương đương. Hệ quả trực tiếp là chi phí carbon trước đây vốn là một ngoại ứng môi trường, nay đã được lượng hóa thành một khoản mục chi phí thương mại hữu hình, tác động ngay đến năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam.
Đặt trong bối cảnh hai chiều: sức ép giảm phát thải từ cam kết quốc tế và từ thị trường carbon trong nước ở đầu vào và sức ép về hàng rào carbon tại thị trường xuất khẩu ở đầu ra, câu hỏi cốt lõi đặt ra là: doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là khối doanh nghiệp nhỏ và vừa, có đủ nguồn lực tài chính để thực hiện quá trình chuyển đổi này hay không? Theo quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, nhóm doanh nghiệp này được phân loại theo quy mô lao động, doanh thu và nguồn vốn, chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt động của cả nước (Quốc hội, 2017). Đây cũng là nhóm có vai trò quan trọng bậc nhất trong tạo việc làm và đóng góp cho tăng trưởng ở cấp địa phương nhưng đồng thời lại là nhóm dễ tổn thương nhất trước các yêu cầu ngày càng khắt khe về minh bạch phát thải, tiêu chuẩn môi trường và điều kiện tiếp cận tín dụng xanh. Tính đến cuối năm 2023, cả nước có hơn 921.000 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97,4% tổng số doanh nghiệp, sử dụng hơn 5,3 triệu lao động và đóng góp tỷ trọng đáng kể vào GDP quốc gia (Tổng cục Thống kê, 2024). Với quy mô như vậy, hiệu quả thực thi chính sách chuyển đổi carbon và huy động vốn xanh của cả nền kinh tế, trên thực tế, phụ thuộc rất lớn vào việc nhóm doanh nghiệp chiếm đa số này có được tiếp cận công bằng và hiệu quả với dòng vốn xanh hay không.
Thực tiễn triển khai chính sách tín dụng xanh trong những năm gần đây phần nào minh chứng cho nghịch lý này. Theo số liệu công bố của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về triển khai Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, đến ngày 31/3/2025, đã có 58 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ tín dụng xanh, với tổng dư nợ đạt hơn 704.244 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân khoảng 21%/năm trong giai đoạn 2017 – 2025, nhưng tỷ trọng trong tổng dư nợ toàn nền kinh tế mới chỉ chiếm khoảng 4,3% (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2025). Dòng vốn tín dụng xanh, dù tăng trưởng nhanh về tốc độ, vẫn tập trung chủ yếu vào các dự án năng lượng tái tạo quy mô lớn và các tập đoàn có năng lực tài chính, quản trị tốt, trong khi đó, đa số doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn đứng ngoài dòng chảy vốn xanh do không đáp ứng được các điều kiện thẩm định về tài sản bảo đảm, báo cáo tài chính minh bạch và hồ sơ môi trường – xã hội theo chuẩn quốc tế.
Vấn đề đặt ra, do đó, không đơn thuần là thiếu vốn theo nghĩa tổng thể của nền kinh tế. Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam cần khoảng 368 tỷ USD, tương đương 6,8% GDP mỗi năm cho đến năm 2040 để thực hiện quá trình chuyển đổi sang một nền kinh tế có khả năng chống chịu và phát thải thấp (WB, 2022). Nguồn lực tài chính cho tăng trưởng xanh, xét trên bình diện vĩ mô, không thiếu vắng chủ trương huy động; vấn đề nằm ở khâu phân bổ và tiếp cận công bằng nguồn lực đó cho từng nhóm chủ thể trong nền kinh tế, đặc biệt là khối doanh nghiệp nhỏ và vừa vốn thiếu thế chấp, thiếu thông tin và thiếu năng lực đàm phán với các định chế tài chính.
Về mặt lý luận quản lý nhà nước, đây chính là không gian mà vai trò kiến tạo, điều tiết và hỗ trợ của Nhà nước cần được phát huy: chuyển hóa các mục tiêu chiến lược vĩ mô được xác lập tại Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050 thành những công cụ chính sách đủ cụ thể, đủ khả thi để tiếp cận được tới quy mô và đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa (Thủ tướng Chính phủ, 2021). Một số nghiên cứu trong nước đã chỉ ra rằng, nguồn tín dụng cho tăng trưởng xanh tại Việt Nam còn thiếu các công cụ tài chính chuyên biệt và cơ chế chia sẻ rủi ro phù hợp với năng lực của doanh nghiệp quy mô nhỏ. Một số nghiên cứu khác nhấn mạnh vai trò của phát triển thị trường carbon như một kênh bổ sung, tạo nguồn thu và động lực tài chính mới cho quá trình giảm phát thải (Vũ Đức Kiên & Đoàn Hương Quỳnh, 2025). Tuy nhiên, phần lớn các công trình này tiếp cận vấn đề từ góc độ hệ thống ngân hàng – thị trường tài chính nói chung, mà chưa đi sâu phân tích một cách hệ thống vai trò điều tiết của Nhà nước ở cấp độ vi mô, gắn trực tiếp với đặc điểm và rào cản đặc thù của doanh nghiệp nhỏ và vừa trước áp lực chuyển đổi carbon đang tăng tốc từ năm 2026. Đây chính là khoảng trống nghiên cứu mà bài viết hướng tới bổ khuyết.
Trên cơ sở đó, bài viết đặt ra ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể: thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận về vốn xanh, huy động vốn xanh và vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực này; thứ hai, phân tích thực trạng khung khổ chính sách hiện hành và nhận diện các rào cản thể chế, tài chính, công nghệ, nhận thức mà doanh nghiệp nhỏ và vừa đang gặp phải trong huy động vốn xanh; thứ ba, đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện vai trò quản lý nhà nước nhằm tháo gỡ các rào cản đó. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi carbon 2021 – 2026 gắn với khung thời gian triển khai Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và giai đoạn thí điểm thị trường carbon trong nước.
2. Cơ sở lý luận về vốn xanh và vai trò quản lý nhà nước
Vốn xanh, trong phạm vi bài viết này, được hiểu là nguồn lực tài chính dưới hình thức tín dụng, trái phiếu, cổ phần hoặc các công cụ tài chính khác được huy động và sử dụng cho các dự án, hoạt động sản xuất – kinh doanh mang lại lợi ích về môi trường, bao gồm giảm phát thải khí nhà kính, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu. Khác với vốn thông thường, huy động vốn xanh gắn liền với yêu cầu minh bạch hóa thông tin phi tài chính đặc biệt là dữ liệu phát thải, dữ liệu môi trường – xã hội – quản trị (ESG) như một điều kiện tiên quyết để bên cung cấp vốn thẩm định và giám sát tính “xanh” của khoản đầu tư.
Đặc điểm quy mô nhỏ và vừa của doanh nghiệp chi phối trực tiếp năng lực đáp ứng yêu cầu nêu trên. Theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, nhóm doanh nghiệp này được phân loại theo các tiêu chí về lao động, doanh thu và nguồn vốn, với đặc trưng phổ biến là quy mô tài sản nhỏ, hệ thống kế toán – báo cáo tài chính đơn giản, năng lực quản trị và nhân sự chuyên trách về môi trường còn hạn chế. Những đặc điểm này khiến doanh nghiệp nhỏ và vừa khó đáp ứng đồng thời hai nhóm điều kiện mà thị trường vốn xanh đòi hỏi: nhóm điều kiện tài chính truyền thống (tài sản bảo đảm, dòng tiền, lịch sử tín dụng) và nhóm điều kiện đặc thù của vốn xanh (kiểm kê phát thải, chứng nhận, báo cáo ESG).
Trong bối cảnh đó, vai trò quản lý nhà nước được nhìn nhận ở ba chức năng cơ bản. Thứ nhất, là chức năng kiến tạo thể chế, thể hiện qua việc xây dựng khung pháp lý, tiêu chí phân loại xanh, lộ trình chính sách nhất quán để định hướng dòng vốn của toàn xã hội, mà biểu hiện rõ nét nhất là Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050 (Thủ tướng Chính phủ, 2021). Thứ hai, chức năng điều tiết thị trường, thông qua các công cụ tài khóa, tín dụng, giá cả nhằm nội hóa chi phí môi trường vào quyết định sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện qua việc vận hành thí điểm sàn giao dịch carbon trong nước (Chính phủ, 2026; Thủ tướng Chính phủ, 2025, 2026). Thứ ba, chức năng hỗ trợ và bảo trợ thị trường, đặc biệt cần thiết đối với nhóm chủ thể yếu thế hơn về năng lực tài chính và thông tin như doanh nghiệp nhỏ và vừa, thông qua bảo lãnh tín dụng, ưu đãi lãi suất, hỗ trợ kỹ thuật và đơn giản hóa thủ tục chứng nhận xanh. Ba chức năng này không tách rời mà bổ sung cho nhau: thiếu chức năng kiến tạo, thị trường vốn xanh thiếu định hướng; thiếu chức năng điều tiết, tín hiệu giá không phản ánh đúng chi phí carbon; thiếu chức năng hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa dù có nhu cầu chuyển đổi thực sự vẫn bị loại khỏi dòng vốn xanh do bất cân xứng thông tin và năng lực đàm phán.
3. Thực trạng khung khổ chính sách, quản lý nhà nước về huy động vốn xanh tại Việt Nam
Về hệ thống thể chế, khung khổ chính sách cho tăng trưởng xanh và chuyển đổi carbon tại Việt Nam đã được hình thành tương đối đồng bộ trên bốn trụ cột. Trụ cột chiến lược tổng thể là Quyết định số 1658/QĐ-TTg với mục tiêu tổng quát là thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, hướng tới nền kinh tế xanh và trung hòa carbon. Trụ cột về giảm nhẹ phát thải theo Nghị định số 119/2025/NĐ-CP. Trụ cột về thị trường carbon là Quyết định số 232/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Thành lập và phát triển thị trường carbon, cùng Nghị định số 29/2026/NĐ-CP về Sàn giao dịch carbon trong nước và Quyết định số 263/QĐ-TTg về phân bổ hạn ngạch phát thải thí điểm giai đoạn 2025 – 2026. Trụ cột về tài chính – tín dụng xanh được cụ thể hóa qua các văn bản hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về cấp tín dụng xanh, quản lý rủi ro môi trường – xã hội trong hoạt động tín dụng, cùng Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2025).
Về triển khai trên thực tế, kết quả đáng ghi nhận nhất là sự hình thành thị trường carbon trong nước. Trong giai đoạn thí điểm 2025 – 2026, tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính được phân bổ cho 110 cơ sở sản xuất gồm 34 nhà máy nhiệt điện, 51 cơ sở xi măng và 25 cơ sở sắt thép ở mức hơn 243 triệu tấn CO2 tương đương cho năm 2025 và gần 268,4 triệu tấn cho năm 2026 (Thủ tướng Chính phủ, 2026). Đây là bước chuyển quan trọng lần đầu tiên xác lập quyền phát thải như một loại tài sản có thể giao dịch, tạo tiền đề để tiến tới vận hành chính thức sàn giao dịch carbon từ năm 2029. Trong quá trình đó, tín dụng xanh của hệ thống ngân hàng cũng ghi nhận tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 21%/năm, cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế, với dư nợ đạt hơn 704.244 tỷ đồng tính đến cuối quý I/2025 (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2025).
Tuy nhiên, xét về mức độ đồng bộ, các trụ cột chính sách nêu trên hiện vẫn vận hành tương đối độc lập với nhau. Khung phân loại xanh vốn là cơ sở kỹ thuật để xác định một khoản tín dụng, một dự án có được coi là “xanh” hay không đến nay vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, dẫn tới tình trạng mỗi tổ chức tín dụng áp dụng tiêu chí thẩm định riêng, thiếu một chuẩn tham chiếu thống nhất cho toàn thị trường. Cơ chế thị trường carbon, dù đã có khung pháp lý, mới vận hành thí điểm với nhóm 110 doanh nghiệp phát thải lớn nhất, chưa kết nối trực tiếp với chính sách tín dụng xanh dành cho khối doanh nghiệp nhỏ và vừa ở hạ nguồn chuỗi cung ứng của các ngành này. Nói cách khác, chính sách tài chính xanh, mua sắm công xanh và thị trường carbon hiện được thiết kế, vận hành theo các lộ trình và cơ quan chủ trì khác nhau, thiếu một cơ chế điều phối liên ngành đủ mạnh để bảo đảm dòng vốn xanh lan tỏa được tới tận doanh nghiệp nhỏ và vừa trong chuỗi cung ứng.
Từ đó cho thấy, những rào cản huy động vốn xanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa trước áp lực chuyển đổi carbon, gồm:
Một là, rào cản về thể chế – chính sách, sự thiếu đồng bộ giữa các trụ cột chính sách đã phân tích ở trên trực tiếp tạo ra chi phí tuân thủ cao hơn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa so với doanh nghiệp quy mô lớn. Khi khung phân loại xanh chưa thống nhất, mỗi ngân hàng, mỗi chương trình tín dụng ưu đãi lại yêu cầu một bộ hồ sơ, tiêu chí riêng, khiến doanh nghiệp nhỏ và vừa vốn không có bộ phận pháp chế, tài chính chuyên trách phải tự xoay xở tìm hiểu, đáp ứng nhiều bộ tiêu chí khác nhau cho cùng một nhu cầu vốn. Tình trạng phân mảnh thể chế này đặc biệt bất lợi với doanh nghiệp nhỏ và vừa nằm trong chuỗi cung ứng của các ngành phát thải lớn đã bị đưa vào diện quản lý hạn ngạch (nhiệt điện, xi măng, sắt thép), bởi các doanh nghiệp đầu chuỗi buộc phải giảm phát thải sẽ có xu hướng chuyển một phần áp lực này xuống nhà cung cấp vệ tinh, trong khi bản thân các nhà cung cấp đó lại chưa có cơ chế hỗ trợ tài chính tương ứng.
Hai là, rào cản tài chính – tín dụng, khoảng cách giữa điều kiện thẩm định của tổ chức tín dụng và năng lực đáp ứng của doanh nghiệp nhỏ và vừa là rào cản trực tiếp và rõ nét nhất. Dư nợ tín dụng xanh, dù tăng trưởng nhanh, mới chiếm khoảng 4,3% tổng dư nợ toàn nền kinh tế và tập trung chủ yếu vào các dự án năng lượng tái tạo quy mô lớn, các doanh nghiệp niêm yết có báo cáo phát triển bền vững độc lập (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2025). Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, chi phí để thực hiện kiểm kê khí nhà kính, xin chứng nhận xanh, thuê tư vấn ESG thường chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng chi phí dự án so với quy mô vốn, trong khi giá trị tài sản bảo đảm hạn chế khiến hạn mức tín dụng được cấp thường thấp hơn nhu cầu đầu tư chuyển đổi công nghệ thực tế.
Ba là, về rào cản công nghệ và năng lực nội tại, quá trình chuyển đổi sang quy trình sản xuất phát thải thấp thường đòi hỏi đầu tư thiết bị, dây chuyền công nghệ mới, phần lớn phải nhập khẩu với chi phí vốn ban đầu lớn. Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tư vấn kỹ thuật xanh trong nước dành riêng cho quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa còn mỏng, khiến chi phí chuyển giao công nghệ, chi phí vận hành thử nghiệm bị đội lên đáng kể so với các doanh nghiệp lớn có thể tự đầu tư nghiên cứu và phát triển hoặc đàm phán trực tiếp với nhà cung cấp công nghệ nước ngoài.
Bốn là, về rào cản nhận thức và thông tin, một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn nhìn nhận chuyển đổi xanh chủ yếu như một khoản chi phí tuân thủ phát sinh hơn là một cơ hội để duy trì vị thế trong chuỗi cung ứng và nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn. Nhận thức này, đến lượt nó, càng bị củng cố bởi tình trạng thiếu kênh thông tin chính thống, dễ tiếp cận về các chương trình tín dụng ưu đãi, quy trình chứng nhận xanh hiện có, khiến nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa dù thực tế có thể đủ điều kiện tiếp cận một số chương trình hỗ trợ vẫn không biết đến hoặc không chủ động tiếp cận các công cụ chính sách đã được thiết kế.
4. Một số khuyến nghị
Đối chiếu bốn nhóm rào cản đã nhận diện ở trên với ba chức năng quản lý nhà nước nêu trên cho thấy, khoảng trống lớn nhất hiện nay không nằm ở chức năng kiến tạo thể chế vốn đã tương đối đầy đủ trên văn bản mà nằm ở khâu chuyển hóa chức năng điều tiết và hỗ trợ thành các công cụ phù hợp với quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây là khoảng cách giữa thiết kế chính sách ở tầm vĩ mô và năng lực hấp thụ chính sách ở tầng vi mô của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, một khoảng cách mang tính hệ thống hơn là do thiếu thiện chí chính sách.
Về nguyên nhân thể chế, có ba điểm đáng chú ý. Thứ nhất, các công cụ tài chính xanh hiện hành (tín dụng xanh, trái phiếu xanh) phần lớn được thiết kế theo logic thẩm định dự án quy mô lớn, dựa trên dòng tiền và tài sản bảo đảm, trong khi doanh nghiệp nhỏ và vừa cần các công cụ dựa trên bảo lãnh tín chấp một phần hoặc cho vay theo chuỗi giá trị, tức thẩm định dựa trên hợp đồng, đơn hàng với doanh nghiệp đầu chuỗi thay vì tài sản riêng của từng doanh nghiệp vệ tinh. Thứ hai, thị trường carbon trong nước, dù đã xác lập được cơ chế hạn ngạch và giao dịch cho 110 cơ sở phát thải lớn, chưa có cơ chế phái sinh để chuyển hóa nguồn thu hoặc tín chỉ carbon từ nhóm doanh nghiệp đầu chuỗi này thành công cụ hỗ trợ tài chính ngược trở lại cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong chuỗi cung ứng của họ. Thứ ba, năng lực điều phối liên ngành giữa cơ quan quản lý về môi trường, tài chính và ngân hàng còn phân tán theo từng lĩnh vực chuyên môn, thiếu một đầu mối đủ thẩm quyền để thiết kế gói chính sách tích hợp dành riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh chuyển đổi carbon.
Từ kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều nền kinh tế đã phát triển thị trường carbon theo hướng dành một phần nguồn thu từ đấu giá hạn ngạch phát thải để tái đầu tư vào quỹ hỗ trợ chuyển đổi xanh cho doanh nghiệp quy mô nhỏ, thay vì để nguồn thu này hòa vào ngân sách chung. Cơ chế bảo lãnh tín dụng xanh do Nhà nước đứng ra một phần rủi ro, kết hợp với tiêu chí phân loại xanh đơn giản hóa theo ngành nghề đặc thù cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng là hướng đi được nhiều tổ chức tài chính phát triển khuyến nghị áp dụng tại các nền kinh tế đang trong giai đoạn đầu vận hành thị trường carbon.
Trên cơ sở phân tích và chỉ ra bốn nhóm rào cản, bài viết đề xuất bốn định hướng hoàn thiện vai trò quản lý nhà nước. Một là, đẩy nhanh việc ban hành và áp dụng thống nhất khung phân loại xanh quốc gia, làm cơ sở tham chiếu chung cho mọi tổ chức tín dụng, giảm chi phí tuân thủ do phải đáp ứng nhiều bộ tiêu chí khác nhau. Hai là, thiết kế các công cụ tín dụng, bảo lãnh xanh theo hướng phù hợp đặc thù doanh nghiệp nhỏ và vừa, bao gồm cơ chế bảo lãnh tín chấp một phần từ Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện có, cho vay theo chuỗi giá trị gắn với doanh nghiệp đầu chuỗi thuộc diện quản lý hạn ngạch phát thải. Ba là, nghiên cứu cơ chế trích một phần nguồn thu từ thị trường carbon trong nước, khi vận hành chính thức, để hình thành quỹ hỗ trợ tài chính, kỹ thuật cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong chuỗi cung ứng của các ngành thuộc diện quản lý hạn ngạch. Bốn là, tăng cường cơ chế điều phối liên ngành giữa cơ quan quản lý môi trường, tài chính, ngân hàng, đồng thời đẩy mạnh truyền thông chính sách, tư vấn kỹ thuật để doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận đầy đủ, kịp thời các công cụ hỗ trợ đã và đang được thiết kế.
5. Kết luận
Chuyển đổi carbon, kể từ năm 2026, không còn là một xu hướng dài hạn mang tính khuyến khích mà đã trở thành một yêu cầu vận hành thường trực đối với doanh nghiệp Việt Nam, dưới sức ép đồng thời từ cam kết phát thải ròng bằng không vào năm 2050, từ thị trường carbon trong nước đang trong giai đoạn thí điểm và từ Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của Liên minh châu Âu (EU) đã vận hành đầy đủ. Trong bối cảnh đó, năng lực huy động vốn xanh không đơn thuần là một chỉ tiêu tài chính của riêng doanh nghiệp mà đã trở thành điều kiện sống còn để doanh nghiệp duy trì vị thế trong chuỗi cung ứng và tiếp cận các thị trường xuất khẩu đòi hỏi tiêu chuẩn phát thải ngày càng khắt khe.
Bài viết đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về vốn xanh và ba chức năng cơ bản của quản lý nhà nước trong lĩnh vực này: kiến tạo thể chế, điều tiết thị trường và hỗ trợ chủ thể yếu thế làm khung phân tích để đánh giá thực trạng chính sách hiện hành. Kết quả phân tích cho thấy, Việt Nam đã hình thành được một khung khổ thể chế tương đối đầy đủ trên bốn trụ cột: chiến lược tăng trưởng xanh tổng thể, quy định về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, thị trường carbon trong nước và chính sách tín dụng xanh của ngành Ngân hàng. Những đóng góp của bài viết không chỉ dừng lại ở việc liệt kê các khó khăn mà doanh nghiệp nhỏ và vừa đang gặp phải, được đề cập trong nhiều báo cáo chính sách mà chỉ ra sự thiếu vắng cơ chế chuyển hóa nguồn lực và tín hiệu chính sách từ cấp độ vĩ mô (chiến lược, thị trường carbon quy mô lớn) xuống cấp độ vi mô (doanh nghiệp nhỏ và vừa trong chuỗi cung ứng). Từ đó đề xuất thống nhất khung phân loại xanh, thiết kế công cụ tín dụng phù hợp quy mô nhỏ, trích nguồn thu thị trường carbon để lập quỹ hỗ trợ chuỗi cung ứng và tăng cường điều phối liên ngành đều hướng tới mục tiêu thu hẹp khoảng trống nêu trên, thay vì bổ sung thêm một lớp chính sách mới song song với hệ thống hiện có.
Tài liệu tham khảo:
Chính phủ (2025). Nghị định số 119/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07/01/2022 quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn.
Chính phủ (2026). Nghị định số 29/2026/NĐ-CP ngày 19/01/2026 về sàn giao dịch carbon trong nước.
European Commission (2023). Regulation (EU) 2023/956 of the European Parliament and of the Council of 10 May 2023 establishing a carbon border adjustment mechanism. Brussels.
Hoàng Thị Hồng (25/02/2025). Nhu cầu được hỗ trợ tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/02/25/nhu-cau-duoc-ho-tro-tai-chinh-cua-doanh-nghiep-nho-va-vua-viet-nam/.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2025). Tọa đàm “Đẩy mạnh triển khai Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030”. Hà Nội, tháng 5/2025.
Quốc hội (2017). Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050.
Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 232/QĐ-TTg ngày 24/01/2025 phê duyệt Đề án Thành lập và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 09/02/2026 phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính giai đoạn 2025 – 2026.
Tổng cục Thống kê (2024). Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam.
Vũ Đức Kiên & Đoàn Hương Quỳnh (2025). Thúc đẩy tài chính xanh thông qua phát triển thị trường Carbon tại Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, Học viện Ngân hàng, số 280, tháng 7/2025.
World Bank (2022). Vietnam Country Climate and Development Report 2022. Washington D.C.: World Bank Group.



