Applying Ho Chi Minh’s humanistic thought to local governance: from “being close to the people” to “serving the people” in the context of digital transformation
NCS, ThS. Vương Thị Liên
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: lienvuong1977@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh chuyển đổi số và cải cách hành chính, quản trị địa phương đang đứng trước yêu cầu vừa hiện đại hóa quy trình, vừa giữ vững bản chất phục vụ nhân dân. Vận dụng tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh – với triết lý “Dân là gốc” và quan niệm cán bộ là “công bộc của dân” – là yêu cầu cấp thiết để soi chiếu thực tiễn quản trị địa phương trong kỷ nguyên mới. Mặc dù các mô hình “một cửa liên thông”, ứng dụng số và đối thoại với dân đã đạt kết quả tích cực, nhưng tình trạng quan liêu, giám sát hình thức và lợi ích nhóm vẫn tạo khoảng cách giữa “gần dân” và “vì dân”. Bài viết đề xuất giải pháp chuyển từ quản trị mệnh lệnh sang quản trị phục vụ – kiến tạo; gắn chuyển đổi số với “nhân văn số”, bảo đảm tính toàn diện; phát huy quyền làm chủ và giám sát của Nhân dân; xây dựng đội ngũ cán bộ liêm chính, lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo hiệu quả của nền hành chính hiện đại.
Từ khóa: Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh; quản trị địa phương; vì dân; công bộc của dân; chuyển đổi số.
Abstract: In the context of digital transformation and administrative reform, local governance faces the dual requirement of modernizing administrative processes while maintaining its fundamental orientation toward serving the people. Applying Ho Chi Minh’s humanistic thought—with the philosophy that “the people are the root” and the view that cadres are “servants of the people” — is an urgent requirement for examining local governance practices in the new era. Although mechanisms such as inter-agency one-stop mechanisms, digital applications, and dialogues with citizens have produced positive results, bureaucratic practices, formalistic oversight, and group interests continue to create a gap between “being close to the people” and “serving the people.” This article proposes solutions to shift from command-and-control governance toward service-oriented and developmental governance; integrate digital transformation with “digital humanism” while ensuring comprehensiveness; promote the people’s right to mastery and oversight; and build a cadre of officials characterized by integrity, with citizen satisfaction serving as a measure of the effectiveness of a modern public administration.
Keywords: Ho Chi Minh’s humanistic thought; local governance; serving the people; servants of the people; digital transformation.
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, quản trị địa phương giữ vai trò đặc biệt quan trọng, vừa là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, vừa là khâu trực tiếp thực hiện các chính sách phát triển kinh tế – xã hội. Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh yêu cầu “Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.176). Có thể thấy, xu hướng quản trị hiện đại trên thế giới và định hướng của Việt Nam đều hội tụ ở một điểm chung: nhân văn hóa hoạt động quản lý nhà nước, xem sự hài lòng và quyền lợi của người dân là thước đo hiệu quả.
Quản trị địa phương – với đặc thù gần dân, sát dân và trực tiếp đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của cộng đồng – được kỳ vọng là nơi hiện thực hóa rõ nét nhất tinh thần nhân văn trong quản lý nhà nước. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai đang bộc lộ nhiều vấn đề cần được giải quyết một cách hệ thống, từ nhận thức đến hành động, bởi khoảng cách giữa lý luận về một nền quản trị “vì dân” với thực tế vận hành của bộ máy hành chính cơ sở vẫn còn khá xa, đòi hỏi phải có sự đổi mới căn bản cả trong tư duy quản lý lẫn phương thức tổ chức thực thi tại địa phương.
Trong hệ thống di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng nhân văn không chỉ là một học thuyết về con người mà còn là nguyên tắc xuyên suốt trong suy nghĩ về tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước. Cốt lõi của tư tưởng này là quan niệm “nước lấy dân làm gốc” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr. 501), khẳng định Nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Người chỉ rõ: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.51); đồng thời, yêu cầu cán bộ, công chức phải thực sự là “công bộc” của Nhân dân, vừa có đức, vừa có tài.
Những luận điểm đó đặt nền móng cho một mô hình quản trị mà ở đó quyền lực nhà nước không phục vụ lợi ích cục bộ, cá nhân mà hướng đến tối đa hóa lợi ích chính đáng của mọi tầng lớp nhân dân. Sự vận dụng tư tưởng này vào quản trị địa phương không chỉ là việc kế thừa truyền thống mà còn là đáp ứng yêu cầu khách quan của phát triển bền vững.
Thực tiễn những năm qua cho thấy, nhiều địa phương đã nỗ lực hiện thực hóa tư tưởng nhân văn của Người thông qua các mô hình cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, tăng cường đối thoại với người dân. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một khoảng cách đáng kể giữa lời nói và hành động. Một bộ phận cán bộ, công chức cơ sở có biểu hiện quan liêu, cửa quyền, thiếu trách nhiệm trước yêu cầu của dân; tình trạng thủ tục hành chính chồng chéo, thiếu minh bạch vẫn còn phổ biến. Bên cạnh đó, cơ chế để Nhân dân tham gia giám sát, góp ý, phản biện còn mang nặng tính hình thức, làm suy giảm lòng tin và sự đồng thuận xã hội.
Có thể khẳng định, nguyên nhân sâu xa của những bất cập trên không hoàn toàn do thiếu nguồn lực hay hạn chế về công nghệ, mà chủ yếu xuất phát từ việc tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh chưa được thấm nhuần và chuyển hóa thành triết lý quản trị, thành văn hóa ứng xử và phương pháp làm việc của một số cán bộ, công chức chính quyền địa phương.
Từ nhận diện trên, bài viết tập trung phân tích mối quan hệ giữa tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh và thực tiễn quản trị địa phương hiện nay. Trên cơ sở khảo cứu hệ thống quan điểm của Người về dân chủ, trách nhiệm, đạo đức công vụ và vai trò của Nhân dân trong quản lý xã hội, bài viết làm rõ những thành tựu đã đạt được, đồng thời, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân cơ bản. Từ đó, đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong hoạt động quản trị ở địa phương, góp phần xây dựng chính quyền thực sự kiến tạo, phục vụ và thấm đượm bản chất “vì dân” đúng theo tinh thần chỉ đạo tại Đại hội XIV của Đảng.
2. Nội dung cốt lõi của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong quản lý nhà nước
Một là, nguyên tắc “Dân là gốc” – Nền tảng triết lý cho mọi hoạt động quản lý.
Trong suốt chiều dài tư tưởng Hồ Chí Minh, quan niệm “Dân là gốc” được xem như sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là triết lý nền tảng cho mọi hoạt động quản lý nhà nước. Kế thừa tinh hoa tư tưởng “dĩ dân vi bản” của cha ông và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, Người khẳng định một cách giản dị mà sâu sắc: “Nước lấy dân làm gốc”; “Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.502).
Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Dân là gốc” không chỉ là khẩu hiệu mà là một hệ giá trị hành động. Biểu hiện trước hết của nguyên tắc này là phải tin ở dân, gần gũi dân và biết dựa vào dân. Người chỉ rõ: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011đ, tr.453). Nguyên tắc “dân là gốc” còn được thể hiện tập trung ở việc thực hành dân chủ và chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Người nhắc nhở: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi. Nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi…” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.518). Như vậy, “lấy dân làm gốc” trong quản lý nhà nước đòi hỏi mọi chủ trương, chính sách đều phải xuất phát từ lợi ích chính đáng và nhu cầu thiết yếu của Nhân dân, lấy hạnh phúc và sự hài lòng của người dân làm thước đo hiệu quả quản trị .
Hai là, đạo đức công vụ trong tư tưởng Hồ Chí Minh: Cán bộ, công chức phải là “Công bộc của dân”.
Nếu “dân là gốc” là nền tảng triết lý, thì quan niệm về “công bộc của dân” là sự cụ thể hóa nguyên tắc đó vào phẩm chất, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức – những người trực tiếp vận hành bộ máy nhà nước. Ngay trong Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng ngày 17/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rất rõ: “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân…” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.602).
“Công bộc” là khái niệm mang hàm nghĩa “người đầy tớ công vụ”, hoàn toàn đối lập với tư tưởng “quan cách mạng” – một căn bệnh mà Người thường cảnh báo. Trong các bài viết, bài nói chuyện của mình, rất nhiều lần Người khẳng định làm cán bộ tức là trở thành người “đầy tớ trung thành” của Nhân dân. Điều này không có nghĩa là hạ thấp phẩm giá người cán bộ mà đề cao tinh thần phục vụ tuyệt đối, đặt lợi ích của Nhân dân lên trên hết.
Đạo đức công vụ theo tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi cán bộ, công chức phải hội tụ đủ “đức” và “tài”, trong đó “đức là gốc”. “Đức” ở đây là lòng trung thành với Đảng, tận tụy phục vụ Nhân dân, liêm khiết, chí công vô tư. Người đặc biệt nhấn mạnh phải tẩy sạch bệnh quan liêu, tham nhũng, lãng phí và chủ nghĩa cá nhân; đồng thời, yêu cầu xử lý nghiêm những kẻ bất liêm, bất kể họ giữ chức vụ gì. Tư tưởng này nhấn mạnh tính “công bộc” gắn liền với trách nhiệm giải trình trước Nhân dân: cán bộ nhận quyền lực từ dân, phục vụ dân và phải chịu sự kiểm tra, giám sát của dân. Đây là nền tảng đạo đức để xây dựng một nền công vụ thực sự trong sạch, vững mạnh và nhân văn.
Ba là, vai trò của Nhân dân trong giám sát và phản biện xã hội – biểu hiện cao nhất của tính nhân văn trong quản trị.
Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh không dừng lại ở sự phục vụ một chiều mà đòi hỏi sự tham gia chủ động, tích cực của Nhân dân vào quá trình quản lý nhà nước. Đó chính là vai trò giám sát và phản biện xã hội – được xem như biểu hiện cao nhất của tính nhân văn, khẳng định vị thế làm chủ thực sự của người dân.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: “Bao nhiêu quyền hạn đều của dân” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.232) và Nhân dân có quyền bãi miễn những người đại biểu, cán bộ nếu họ có việc làm có hại đến Nhà nước, hại đến dân. Người yêu cầu: “Nếu Chính phủ sai thì phải phê bình” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.75) nhưng phê bình phải đúng mực, xây dựng. Điều này đặt nền móng cho hoạt động giám sát và phản biện xã hội như một quyền dân chủ cơ bản.
Thực tiễn vận dụng tư tưởng này đã được thể hiện rõ nét qua vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội. Hệ thống Mặt trận các cấp đã phối hợp thực hiện hàng nghìn nội dung giám sát và phản biện xã hội đối với các dự thảo văn bản pháp luật, các chương trình, dự án phát triển. Nhiều ý kiến, kiến nghị sau giám sát đã được các cơ quan có thẩm quyền tiếp thu, giải quyết. Đặc biệt, các hoạt động đối thoại, tiếp xúc cử tri, lấy ý kiến Nhân dân ngày càng được thực hiện nghiêm túc, góp phần tạo sự đồng thuận xã hội, đặc biệt trong bối cảnh thực hiện các chủ trương lớn về sắp xếp tổ chức bộ máy, sáp nhập đơn vị hành chính.
Vai trò giám sát và phản biện xã hội của Nhân dân chính là cơ chế để kiểm soát quyền lực một cách hiệu quả, ngăn ngừa sự tha hóa, lạm quyền. Khi dân được quyền kiểm tra, góp ý và phản biện, hoạt động quản trị địa phương buộc phải minh bạch, trách nhiệm và hướng đến phục vụ lợi ích cộng đồng. Như vậy, giám sát và phản biện xã hội không chỉ là một thủ tục hành chính mà là hiện thân sống động của tư tưởng “lấy dân làm gốc”, là thước đo đích thực của một nền quản trị nhân văn, dân chủ và hiện đại.
3. Thực trạng vận dụng tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong quản trị địa phương hiện nay
3.1. Một số kết quả đạt được
Những năm qua, việc vận dụng tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh vào quản trị địa phương đã đạt được nhiều kết quả tích cực, thể hiện qua sự đổi mới cả về nhận thức và hành động của các cấp chính quyền trong việc hướng đến phục vụ Nhân dân.
Thứ nhất, mô hình “chính quyền thân thiện” và “một cửa liên thông” đã được nhân rộng trên phạm vi toàn quốc, trở thành điểm sáng trong cải cách hành chính tại địa phương. Thay vì thủ tục hành chính rườm rà, người dân phải đến nhiều phòng, ban để hoàn thiện hồ sơ, nay được tiếp nhận và xử lý tại một đầu mối duy nhất với thời gian giải quyết được rút ngắn đáng kể. Các bộ phận tiếp nhận và trả kết quả được bố trí tại trung tâm hành chính công, không chỉ giảm chi phí xã hội mà còn tạo ra không gian giao tiếp thân thiện, thay đổi hình ảnh của người cán bộ từ “người ban hành” sang “người hỗ trợ”. Nhiều địa phương còn triển khai tổ “hỗ trợ người dân làm thủ tục”, tư vấn tận tình cho người già, người dân tộc thiểu số – những đối tượng dễ bị tổn thương trong tiếp cận dịch vụ công. Những mô hình này đã góp phần rút ngắn khoảng cách giữa chính quyền và Nhân dân, làm cho bộ máy hành chính bớt tính quan liêu, gần gũi và nhân văn hơn.
Thứ hai, ứng dụng chuyển đổi số đã tạo ra bước đột phá trong việc lắng nghe và phản hồi nhu cầu của người dân một cách nhanh chóng. Các cổng dịch vụ công trực tuyến, ứng dụng di động, như: VNeID, ứng dụng phản ánh hiện trường trên điện thoại thông minh đã giúp người dân gửi phản ánh, kiến nghị 24/7 một cách tiện lợi. Tại nhiều địa phương, hệ thống đường dây nóng 1022, Zalo chính quyền hoạt động hiệu quả, cho phép tiếp nhận và xử lý thông tin về trật tự đô thị, vệ sinh môi trường, tệ nạn xã hội, an toàn giao thông… trong thời gian ngắn. Công nghệ số không chỉ làm tăng tính minh bạch, mà còn thể hiện tinh thần trách nhiệm, biết lắng nghe của chính quyền với mọi bức xúc của người dân, góp phần cụ thể hóa nguyên tắc “dân là gốc” trong bối cảnh hiện đại.
Thứ ba, hình thức đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo địa phương với nhân dân ngày càng được tăng cường và đi vào chiều sâu. Các buổi tiếp xúc cử tri, hội nghị đối thoại của chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp với người dân, doanh nghiệp được tổ chức định kỳ, công khai. Tại những cuộc đối thoại này, người đứng đầu địa phương trực tiếp lắng nghe, giải đáp và cam kết giải quyết các vấn đề bức xúc, từ giải phóng mặt bằng, đền bù, đến việc làm và an sinh xã hội. Hình thức này thể hiện sự chuyển biến mạnh mẽ trong văn hóa quản trị: từ chỗ ban hành mệnh lệnh sang đối thoại, đồng hành cùng nhân dân, tạo sự đồng thuận trong các chủ trương phát triển của địa phương.
3.2. Những hạn chế và bất cập
Bên cạnh những thành tựu kể trên, thực tiễn vận dụng tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong quản trị địa phương vẫn còn những hạn chế đáng lưu tâm, đặt ra yêu cầu phải được khắc phục kịp thời.
Một là, tình trạng quan liêu, cửa quyền, xa dân vẫn còn tồn tại ở một số bộ phận cán bộ, công chức, đặc biệt tại cấp cơ sở. Tại một số nơi, thái độ phục vụ thiếu tôn trọng, tinh thần trách nhiệm thấp, tư tưởng “xin – cho”, “ban ơn” vẫn len lỏi trong ứng xử với người dân. Người dân phải đến nhiều lần, nhiều nơi để hoàn thiện thủ tục dù chính sách “một cửa” đã có. Tệ nạn nhũng nhiễu, gây phiền hà trong giải quyết công việc vẫn được phản ánh, làm suy giảm niềm tin và sự hài lòng của người dân đối với chính quyền.
Hai là, cơ chế giám sát của Nhân dân đối với hoạt động của chính quyền địa phương vẫn còn mang tính hình thức, hiệu quả phản biện xã hội thấp. Dù các quy định về lấy ý kiến Nhân dân, giám sát đầu tư cộng đồng đã được ban hành, song việc thực thi còn nhiều bất cập. Nhiều cuộc giám sát chỉ diễn ra trên giấy tờ, các ý kiến góp ý của người dân, Mặt trận Tổ quốc các cấp chưa được tiếp thu và phản hồi đầy đủ. Phản biện xã hội thiếu mạnh mẽ và hiệu quả, chưa thực sự trở thành công cụ hữu hiệu để kiểm soát quyền lực, phòng ngừa sai phạm và nâng cao chất lượng quyết định của chính quyền.
Đặc biệt, sự méo mó tư tưởng của một số lợi ích nhóm và tư duy cục bộ địa phương là nguy cơ tiềm ẩn đáng lo ngại. Trên thực tế, một số quyết định quy hoạch, dự án, chính sách của địa phương tuy được ngụy trang bằng lý lẽ “vì lợi ích chung”, nhưng thực chất lại bị chi phối bởi lợi ích nhóm, lợi ích doanh nghiệp thân hữu hoặc mục tiêu thành tích cá nhân mà bỏ qua nguyện vọng và lợi ích của một bộ phận người dân. Tư duy cục bộ, bảo vệ lợi ích riêng của địa phương mình làm sai lệch các chính sách phân bổ nguồn lực, gây mất công bằng và ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của người dân. Đây là biểu hiện nguy hiểm, làm xói mòn bản chất nhân văn và dân chủ của nền quản trị mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng.
Những hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, bao gồm năng lực, phẩm chất của một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu; hệ thống quy trình, cơ chế kiểm tra, giám sát chưa thực sự chặt chẽ, đồng bộ; và áp lực từ hệ thống chỉ tiêu, thành tích thường chi phối hành động của chính quyền địa phương hơn là triết lý “vì dân”.
3.3. Nguyên nhân của những hạn chế
Những hạn chế trong vận dụng tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh vào quản trị địa phương xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan và khách quan.
Về nguyên nhân chủ quan: nhận thức và bản lĩnh của một bộ phận đội ngũ cán bộ cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Một bộ phận cán bộ, công chức chưa thực sự thấm nhuần tư tưởng “dân là gốc” và quan niệm “công bộc của dân” trong hoạt động thực thi công vụ, dẫn đến việc học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh còn mang tính hình thức, chưa trở thành hành động tự giác và thường xuyên. Việc hiểu biết bản chất tư tưởng nhân văn còn hời hợt, thiếu sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào các tình huống quản lý cụ thể. Bên cạnh đó, thực tế triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp cho thấy nhiều địa phương thiếu hụt cán bộ có chuyên môn sâu ở các lĩnh vực then chốt như xây dựng, giao thông, tài chính, công nghệ thông tin. Cán bộ cấp xã phải chuyển từ chuyên môn hóa sang đa nhiệm, đa lĩnh vực, phải tham mưu cho nhiều sở, ngành khác nhau, tạo áp lực lớn về năng lực nghiệp vụ và trách nhiệm pháp lý, từ đó, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phục vụ nhân dân – yếu tố cốt lõi của tư tưởng nhân văn.
Về nguyên nhân khách quan: áp lực từ hệ thống chỉ tiêu, thành tích đã chi phối mạnh mẽ hành vi quản lý của chính quyền địa phương, khiến các hoạt động thường hướng đến hoàn thành báo cáo số liệu hơn là giải quyết thực chất nhu cầu của người dân. Việc thi đua học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong nhiều cơ quan thường được đánh giá qua báo cáo thành tích, ít có sự kiểm tra thực chất về mức độ thấm nhuần và áp dụng vào công việc hàng ngày. Bên cạnh đó, hành lang pháp lý cho sự tham gia thực quyền của Nhân dân còn chưa đầy đủ và đồng bộ. Mặc dù các chủ trương về dân chủ cơ sở, giám sát của Nhân dân đã được quy định nhưng cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước chưa đầy đủ, hiệu lực chưa cao. Quyền làm chủ của Nhân dân có lúc, có nơi còn bị vi phạm; tồn tại biểu hiện dân chủ hình thức, tách rời dân chủ với kỷ cương, pháp luật. Chức năng, nhiệm vụ, phân cấp, phân quyền chưa thật rõ ràng, trong khi việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện các chính sách về nhân lực, tiền lương và cơ chế giám sát còn chậm, thiếu đồng bộ, gây khó khăn cho việc tổ chức thực hiện và phát huy vai trò của Nhân dân trong quản trị địa phương.
4. Một số giải pháp và định hướng nhằm phát huy tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong quản trị địa phương
Vận dụng sáng tạo và phát huy giá trị của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong quản trị địa phương giai đoạn hiện nay không chỉ là yêu cầu cấp thiết để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, mà còn là thước đo năng lực cầm quyền, phục vụ Nhân dân của hệ thống chính trị cơ sở. Từ những yêu cầu thực tiễn của công cuộc chuyển đổi số và xây dựng nền hành chính kiến tạo, tác giả đề xuất một số định hướng và giải pháp trọng tâm sau đây:
Thứ nhất, quán triệt tinh thần phục vụ Nhân dân trong hoạt động công vụ theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đổi mới nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức: quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc” và bản chất “công bộc của dân” theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý địa phương phải xem quyền lực nhà nước được giao là để phục vụ Nhân dân, tuyệt đối không có tư tưởng cửa quyền, hách dịch hay ban phát. Lấy sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo, trong đó định hướng quản trị địa phương phải chuyển trọng tâm từ việc hoàn thành các chỉ tiêu hành chính thuần túy sang việc nâng cao chất lượng cuộc sống, chỉ số hạnh phúc và mức độ hài lòng của người dân đối với các dịch vụ công ích.
Thứ hai, phát huy thực chất quyền làm chủ của Nhân dân theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Mở rộng không gian tham gia của người dân: hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi để người dân trực tiếp tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến vào các quyết sách, quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Tăng cường cơ chế giám sát từ Nhân dân: xây dựng các kênh tiếp nhận phản hồi minh bạch, hiệu quả để người dân và cộng đồng có thể giám sát trực tiếp quá trình thực thi công vụ, giải quyết thủ tục hành chính và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức tại địa bàn.
Thứ ba, gắn kết chặt chẽ giữa chuyển đổi số với “nhân văn số” (Digital Humanism) trong quản trị công.
Bảo đảm tính toàn diện, không bỏ ai lại phía sau: trong tiến trình xây dựng chính quyền số và đô thị thông minh, chính quyền các cấp phải đặc biệt quan tâm đến các nhóm đối tượng yếu thế (người cao tuổi, người có hoàn cảnh khó khăn, đồng bào vùng sâu, vùng xa) trong việc tiếp cận dịch vụ công trực tuyến. Cần duy trì các mô hình hỗ trợ trực tiếp, hướng dẫn tận tình, tránh tình trạng áp dụng công nghệ một cách máy móc, làm gia tăng khoảng cách số giữa chính quyền và người dân.
Xây dựng cơ sở dữ liệu vì con người: ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo (AI) để thấu hiểu nhanh chóng, chính xác các nguyện vọng, kiến nghị và bức xúc chính đáng của người dân, từ đó đưa ra các phản ứng chính sách kịp thời, nhân văn.
Thứ tư, tập trung xây dựng và chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức địa phương theo phương châm “vừa hồng, vừa chuyên”, liêm chính và tận tụy.
Việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không được dừng lại ở lý thuyết mà phải gắn chặt với cam kết hành động cụ thể, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu và thái độ vô cảm, đùn đẩy trách nhiệm trước những nhu cầu chính đáng của Nhân dân.
Song song đó, địa phương cần hoàn thiện cơ chế đánh giá và sàng lọc cán bộ bằng bộ tiêu chí lấy hiệu quả công việc thực tế và thái độ phục vụ Nhân dân làm thước đo cốt lõi. Từ đó, cần kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy những cá nhân thiếu trách nhiệm, nhũng nhiễu hoặc có biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức; đồng thời, xây dựng cơ chế bảo vệ, khuyến khích và tôn vinh những cán bộ có tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung của cộng đồng.
5. Kết luận
Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính và chuyển đổi số hiện nay, việc vận dụng tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh vào quản trị địa phương không chỉ mang ý nghĩa lý luận sâu sắc mà còn là yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn. Sự chuyển dịch từ phương châm “gần dân” đến mục tiêu “vì dân” chính là thước đo cao nhất khẳng định bản chất ưu việt của bộ máy nhà nước của dân, do dân và vì dân ở cấp cơ sở.
Thực tiễn đã chứng minh, một nền quản trị địa phương hiệu quả, bền vững và nhân văn đòi hỏi chính quyền các cấp phải thực sự coi người dân là trung tâm, là chủ thể và là động lực của sự phát triển; đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở gần dân, vì dân, trực tiếp phục vụ Nhân dân (Đinh Thị Hạnh Trang, 2024; Nguyễn Hoàng Huy, 2026). Khi công nghệ số và AI ngày càng thâm nhập sâu vào đời sống hành chính, tinh thần “công bộc của dân” càng phải được cụ thể hóa bằng sự thấu cảm, trách nhiệm và tính bao trùm, bảo đảm không để bất kỳ người dân nào bị bỏ lại phía sau.
Để hiện thực hóa điều đó, các địa phương cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy quản trị từ “mệnh lệnh hành chính” sang “quản trị phục vụ và kiến tạo”. Đồng thời, cần kết hợp chặt chẽ giữa ứng dụng chuyển đổi số với “nhân văn số”, phát huy thực chất quyền làm chủ của Nhân dân, kết hợp với việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức liêm chính, tận tụy. Có như vậy, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh mới thực sự trở thành nguồn sức mạnh nội sinh to lớn, củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân đối với cấp ủy và chính quyền địa phương trong kỷ nguyên mới.
Tài liệu tham khảo:
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021).Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr.176.
Đinh Thị Hạnh Trang (30/7/2024). Vận dụng sáng tạo tư tưởng “trọng dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/07/30/van-dung-sang-tao-tu-tuong-trong-dan-cua-chu-tich-ho-chi-minh-trong-xay-dung-va-hoan-thien-he-thong-phap-luat-viet-nam-xa-hoi-chu-nghia/
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 4). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 5). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011c). Toàn tập (Tập 6). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011d). Toàn tập (Tập 9). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011đ). Toàn tập (Tập 10). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Nguyễn Hoàng Huy (06/02/2026). Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở gần dân, vì dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên phát triển mới. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/02/06/xay-dung-doi-ngu-can-bo-cap-co-so-gan-dan-vi-dan-dap-ung-yeu-cau-nhiem-vu-trong-ky-nguyen-phat-trien-moi/



