Managing online public opinion reactions: a case study of examination cheating in Tuyen Quang
ThS. Đỗ Thị Đài Trang
Học viện Phụ nữ Việt Nam
Email: TrangDTD@hvpnvn.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong môi trường truyền thông số, mạng xã hội ngày càng giữ vai trò quan trọng trong lan truyền thông tin và hình thành dư luận xã hội về các vấn đề công, đặt ra yêu cầu cao đối với năng lực phản ứng và giải trình của cơ quan quản lý nhà nước. Vận dụng khung khuếch đại rủi ro xã hội (SARF) và mô hình trách nhiệm giải trình của Bovens, bài viết nghiên cứu trường hợp vụ gian lận thi tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) năm 2026 tại Tuyên Quang, dựa trên 71 bài báo, 26 bài đăng mạng xã hội và các nguồn thông tin chính thức trong giai đoạn từ ngày 01/7 – 03/8/2026. Kết quả cho thấy, tín hiệu bất thường xuất hiện trên mạng xã hội trước khi cơ quan quản lý lên tiếng; vụ việc được xử lý nhanh nhờ phối hợp liên ngành, liên cấp; ba pha giải trình. Bài viết đề xuất một số hàm ý nhằm nâng cao năng lực phản ứng và giải trình của cơ quan công quyền trong môi trường truyền thông số.
Từ khóa: Dư luận xã hội trực tuyến, khuếch đại rủi ro xã hội, trách nhiệm giải trình, gian lận thi cử, truyền thông khu vực công.
Abstract: In the digital media environment, social media plays an increasingly important role in disseminating information and shaping public opinion on public issues, placing high demands on the responsiveness and accountability of government agencies. Applying the Social Amplification of Risk (SARF) framework and Bovens’ accountability model, this paper examines the 2026 high school graduation exam cheating scandal in Tuyên Quang, based on 71 news articles, 26 social media posts, and official information sources from July 1 to August 3, 2026. The results show that abnormal signals appeared on social media before regulatory authorities issued a statement; the incident was resolved quickly thanks to interagency and inter-level coordination; and there were three phases of accountability. The paper proposes several implications aimed at enhancing the response and accountability capabilities of public authorities in a digital media environment.
Keywords: Online public opinion; social amplification of risk; accountability; exam fraud; public sector communication.
1. Đặt vấn đề
Trong môi trường truyền thông số, mạng xã hội trở thành không gian để công chúng chia sẻ thông tin và bày tỏ quan điểm. Trước những dấu hiệu bị cho là bất thường trong hoạt động của cơ quan, tổ chức công, dư luận xã hội có thể hình thành và lan rộng rất nhanh, tạo áp lực lớn lên chủ thể liên quan chỉ trong thời gian ngắn (Rost & cộng sự, 2016). Thực tế ấy đòi hỏi cơ quan quản lý nhà nước phải nhận diện tín hiệu xã hội, phản ứng kịp thời và thực hiện trách nhiệm giải trình trước công chúng.
Vụ việc gian lận điểm thi tốt nghiệp THPT năm 2026 tại Trường THPT Chuyên Tuyên Quang là một trường hợp tiêu biểu. Từ dấu hiệu bất thường trong phổ điểm môn Toán của một điểm thi, phản ứng trên mạng xã hội lan rộng, kéo theo hàng loạt phản ánh tương tự tại nhiều địa phương và dẫn đến vụ án hình sự do Bộ Công an trực tiếp điều tra. Diễn biến trên cho thấy dư luận trực tuyến có thể chuyển hóa thành hoạt động giám sát xã hội, phản biện xã hội buộc cơ quan công quyền phải phát hiện, xác minh và phản hồi kịp thời.
Nhằm làm rõ quá trình từ tiếp nhận tín hiệu xã hội, xử lý đến thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền trong môi trường truyền thông số, bài viết tập trung trả lời hai câu hỏi nghiên cứu: (1) Dư luận xã hội trực tuyến liên quan đến vụ gian lận thi cử tại Tuyên Quang hình thành và lan truyền qua những kênh nào, theo trình tự nào?. (2) Cơ quan công quyền đã tiếp nhận, phản ứng và thực hiện trách nhiệm giải trình như thế nào trước diễn biến của dư luận xã hội trực tuyến?.
2. Cơ sở lý luận
2.1. Khái niệm “dư luận xã hội trực tuyến”
Các nhà nghiên cứu trong nước quan niệm dư luận xã hội là sự thể hiện tâm trạng, thái độ, nhận thức và xu hướng hành động của các nhóm xã hội, của nhân dân nói chung, trước những vấn đề gắn với lợi ích xã hội cấp bách (Mai Quỳnh Nam, 1995; Lê Ngọc Hùng, 2002).
Từ các quan niệm trên, có thể hiểu dư luận xã hội là tập hợp những đánh giá, thái độ và quan điểm của công chúng đối với các vấn đề có ý nghĩa xã hội. Trong môi trường số, dư luận xã hội trực tuyến được thể hiện công khai trên các nền tảng mạng xã hội thông qua đăng tải, bình luận, chia sẻ hoặc tố cáo, và có khả năng lan truyền, khuếch đại nhanh nhờ tương tác giữa người dùng (Brady & cộng sự, 2017, 2020).
Từ góc độ quản lý nhà nước, dư luận xã hội trực tuyến vừa là một hiện tượng tâm lý – xã hội, vừa là một loại tín hiệu xã hội mà cơ quan quản lý cần theo dõi, tiếp nhận và xử lý kịp thời, bởi cường độ lan truyền của dư luận tác động trực tiếp đến uy tín, hiệu quả điều hành và niềm tin của công chúng đối với cơ quan công quyền.
2.2. Khái niệm “trách nhiệm giải trình”
Theo Bovens (2007), trách nhiệm giải trình là mối quan hệ giữa một chủ thể thực thi quyền lực và một diễn đàn có quyền chất vấn, trong đó chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin, giải thích và biện minh cho quyết định hoặc hành vi của mình; diễn đàn có quyền đặt câu hỏi, thảo luận và đưa ra phán xét; và chủ thể có thể phải chịu hậu quả tùy theo kết quả phán xét đó. Mô hình gồm ba pha là cung cấp thông tin, thảo luận và phán xét, và hậu quả. Theo cách tiếp cận ấy, cần phân biệt trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền với trách nhiệm hình sự của cá nhân vi phạm.
Malena, Forster và Singh (2004) định nghĩa trách nhiệm giải trình xã hội là tập hợp các hành động và cơ chế mà công dân, cộng đồng, tổ chức xã hội và báo chí sử dụng để buộc cơ quan công quyền phải giải trình. Khác với các cơ chế kiểm tra, giám sát giữa các thiết chế nhà nước với nhau (theo chiều ngang), trách nhiệm giải trình xã hội vận hành từ bên ngoài bộ máy (theo chiều dọc), thông qua áp lực của báo chí, tổ chức xã hội và dư luận.
Khoản 5 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định: “Trách nhiệm giải trình là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền làm rõ thông tin, giải thích kịp thời, đầy đủ về quyết định, hành vi của mình trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao”.
3. Phương pháp và khung nghiên cứu
3.1. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp, kết hợp phân tích nội dung định tính và định lượng, nhằm làm rõ cách thức cơ quan công quyền tiếp nhận, phản ứng và thực hiện trách nhiệm giải trình trước diễn biến của dư luận xã hội trực tuyến trong vụ việc gian lận thi cử tại tỉnh Tuyên Quang. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập trong giai đoạn từ ngày 01/7 – 03/8/2026 từ bốn nguồn, gồm: (1) Các văn bản, thông cáo báo chí, quyết định và kết luận chính thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (2) Các bài viết trên các cơ quan báo chí được cấp phép và bản tin trên cổng thông tin điện tử của cơ quan chức năng; (3) Các bài đăng công khai trên mạng xã hội (Facebook, Threads); (4) Các văn bản pháp luật liên quan. Do quá trình điều tra vẫn tiếp diễn sau thời điểm ấy, kết quả nghiên cứu chỉ phản ánh diễn biến của vụ việc đến ngày 03/8/2026.
Đối với báo chí, tác giả tìm kiếm trên Google bằng các từ khóa: “Tuyên Quang”; “Chuyên Tuyên Quang”; “gian lận thi cử”; “điểm thi bất thường”; “THPT” từ ngày 01/7 – 03/8/2026, sau đó lựa chọn các bài viết trực tiếp phản ánh vụ việc, được đăng trong thời gian nghiên cứu, loại bỏ bài đăng lại nguyên văn. Tổng cộng 71 bài viết được đưa vào phân tích (Phụ lục 1). Ngày đăng được lấy theo ngày hiển thị trên trang tại thời điểm truy cập; với 6 bài được tòa soạn cập nhật sau khi đăng, tác giả lấy ngày của phiên bản đã thu thập và ghi chú ngày tạo theo mã đường dẫn. Mỗi bài được mã hóa theo giai đoạn, nguồn tin chính, khung nội dung chủ đạo và phạm vi địa lý. Đối với mạng xã hội, do hạn chế về công cụ thu thập, tác giả chọn mẫu có chủ đích các bài đăng công khai liên quan trực tiếp đến vụ việc, đạt tối thiểu 1.000 lượt thích và nằm trong thời gian nghiên cứu, thu được 26 bài đăng; 4 giai đoạn được phân chia theo các mốc xử lý, gồm: thời điểm cơ quan quản lý xác nhận bất thường, thời điểm khởi tố vụ án và thời điểm vụ án chuyển lên Bộ Công an. Họ tên cá nhân liên quan đến vụ án và tên tài khoản mạng xã hội được viết tắt hoặc làm mờ nhằm bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội và quyền riêng tư.
3.2. Khung nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng Khung lý thuyết khuếch đại rủi ro xã hội (SARF) của Kasperson và cộng sự (1988) làm khung phân tích trung tâm. Theo SARF, một sự kiện hoặc tín hiệu rủi ro không trực tiếp tạo ra phản ứng xã hội, mà được truyền tải thông qua các trạm khuếch đại thông tin, bao gồm truyền thông đại chúng, mạng xã hội, các thiết chế nhà nước và các nhóm xã hội. Trong quá trình truyền tải, thông tin có thể được lựa chọn, diễn giải và khuếch đại (hoặc suy giảm), từ đó hình thành các nhận thức và phản ứng xã hội khác nhau, đồng thời tạo ra các tác động thứ cấp đối với xã hội và các thiết chế liên quan.
Trên cơ sở kết hợp SARF với mô hình trách nhiệm giải trình của Bovens (2007), tác giả xây dựng chuỗi phân tích gồm sáu khâu, trong đó ba khâu đầu tương ứng với câu hỏi nghiên cứu thứ nhất và ba khâu sau tương ứng với câu hỏi nghiên cứu thứ hai.
Tín hiệu bất thường → Các trạm khuếch đại (mạng xã hội, báo chí, cơ quan nhà nước) → Hình thành dư luận xã hội trực tuyến → Tiếp nhận và phản ứng của cơ quan công quyền → Thực hiện trách nhiệm giải trình (cung cấp thông tin; thảo luận và phán xét; hậu quả) → Tác động lan tỏa.
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Sự hình thành và lan truyền của dư luận xã hội trực tuyến qua các trạm khuếch đại
Thứ nhất, trạm truyền thông đại chúng.
Căn cứ vào các mốc xử lý và mật độ đưa tin, diễn biến truyền thông của vụ việc được chia thành bốn giai đoạn theo khung SARF, tóm tắt tại Bảng 1.
Bảng 1. Tóm tắt diễn biến truyền thông vụ việc tại THPT Chuyên Tuyên Quang
| Giai đoạn | Mốc sự kiện | Thời gian | Số bài báo | Bình quân bài/ngày |
| 1. Khởi phát | • Bộ GD&ĐT công bố điểm thi tốt nghiệp THPT 2026 • 2/7: Tài khoản Threads đặt nghi vấn về số điểm 10 môn Toán tại Trường THPT Chuyên Tuyên Quang (Hình 4.1); • Sở GD&ĐT Tuyên Quang xác nhận 328 thí sinh (SBD 080163xx–080166xx) có điểm trung bình môn Toán 9,58; 147/154 điểm 10 môn Toán toàn tỉnh thuộc Trường THPT Chuyên Tuyên Quang • Bộ GD&ĐT cử đoàn công tác phối hợp Bộ Công an kiểm tra, rà soát Hội đồng thi tỉnh Tuyên Quang | 1/7–3/7/2026 | 11 | 3,7 bài/ngày |
| 2. Khuếch đại | • Báo chí trung ương và địa phương đồng loạt đưa tin * 04/7: UBND tỉnh Tuyên Quang báo cáo Thủ tướng Chính phủ và Ban Chỉ đạo thi cấp quốc gia về vụ việc • 05/7: Công an tỉnh tạm giữ khẩn cấp giáo viên N.H.D. • 06/7: VKSND tỉnh Tuyên Quang phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ khẩn cấp • Chuyên gia giáo dục phân tích tính bất thường của phổ điểm | 04/7–06/7/2026 | 17 | 5,7 bài/ngày |
| 3. Chuyển hóa | • 07/7: Khởi tố vụ án, khởi tố 4 bị can theo Điều 356 Bộ luật Hình sự • 9/7: UBND tỉnh Tuyên Quang họp báo, Sở GD&ĐT đề xuất Bộ GD&ĐT cho 322 học sinh và 6 thí sinh tự do thi lại môn Toán • 13-15/7: Khởi tố thêm bị can (lên 19, rồi 26 bị can), trong đó có hiệu trưởng, phó hiệu trưởng Trường THPT Chuyên Tuyên Quang • 14/7: Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội kiến nghị điều tra làm rõ vụ việc • 15/7: Thủ tướng Chính phủ làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang, nhấn mạnh tính chất đặc biệt nghiêm trọng | 07/7–15/7/2026 | 24 | 2,7 bài/ngày |
| 4. Lan tỏa | • 17/7: Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an rút hồ sơ vụ án từ Công an tỉnh Tuyên Quang để trực tiếp điều tra; thư ký điểm thi N.T.D.T. ra đầu thú • 20/7: Báo chí đặt vấn đề về tác động của vụ án đến tiến trình xét tuyển đại học 2026 • 21/7: Xuất hiện thêm các tố giác/nghi vấn gian lận thi cử tại nhiều địa phương khác • 03/8: Bộ Công an cho biết sẽ sớm công bố thông tin điều tra mới nhất trên Cổng TTĐT Bộ Công an | 16/7–3/8/2026 (tiếp diễn) | 19 | 1,0 bài/ngày |
Số liệu ở Bảng 1 cho thấy, mật độ đưa tin trong mẫu tăng từ 3,7 bài/ngày ở giai đoạn Khởi phát lên đỉnh 5,7 bài/ngày ở giai đoạn Khuếch đại, sau đó giảm còn 2,7 bài/ngày ở giai đoạn Chuyển hóa và 1,0 bài/ngày ở giai đoạn Lan tỏa. Như vậy, sự chú ý của báo chí đối với vụ việc gốc giảm dần sau khi vụ án được khởi tố, trong khi phạm vi vụ việc lại mở rộng sang các địa phương khác. Bảng 2 tổng hợp kết quả mã hóa 71 bài báo theo nguồn tin chính và khung nội dung chủ đạo qua bốn giai đoạn.
Bảng 2. Nguồn tin chính và khung nội dung của các bài báo theo giai đoạn (tỷ lệ %)
| Biến / Mã | GĐ1 (n=11) | GĐ2 (n=17) | GĐ3 (n=24) | GĐ4 (n=19) | Tổng (n=71) |
| Nguồn tin: cơ quan nhà nước | 81,8 | 94,1 | 70,8 | 63,2 | 76,1 |
| Nguồn tin: chuyên gia | 0,0 | 0,0 | 12,5 | 21,1 | 9,9 |
| Nguồn tin: mạng xã hội | 9,1 | 0,0 | 0,0 | 10,5 | 4,2 |
| Nguồn tin: khác, không nêu nguồn | 9,1 | 5,9 | 16,7 | 5,3 | 9,9 |
| Khung: bất thường kết quả thi | 90,9 | 35,3 | 4,2 | 0,0 | 23,9 |
| Khung: tiến trình tố tụng | 0,0 | 58,8 | 37,5 | 63,2 | 43,7 |
| Khung: trách nhiệm tổ chức, quản lý | 9,1 | 5,9 | 12,5 | 5,3 | 8,5 |
| Khung: quyền lợi thí sinh, công bằng | 0,0 | 0,0 | 33,3 | 21,1 | 16,9 |
| Khung: lan sang địa phương khác | 0,0 | 0,0 | 0,0 | 10,5 | 2,8 |
| Khung: giải pháp, chính sách | 0,0 | 0,0 | 12,5 | 0,0 | 4,2 |
Số liệu từ 2 bảng cho thấy ba đặc điểm nổi bật:
Thứ nhất, đỉnh đưa tin rơi vào giai đoạn Khuếch đại (04 – 6/7) với 17 bài trong 3 ngày, trùng với các mốc tạm giam giữ khẩn cấp giáo viên (05/7) và phê chuẩn lệnh bắt (06/7). Tuy nhiên, giai đoạn đỉnh bắt đầu từ ngày 04/7, trước quyết định tố tụng đầu tiên và mật độ đưa tin giảm còn 2,7 bài/ngày trong giai đoạn Chuyển hóa, bắt đầu từ ngày khởi tố vụ án 07/7. Vì vậy, chưa đủ cơ sở để khẳng định rằng quyết định pháp lý tạo ra làn sóng đưa tin; nhiều khả năng các quyết định ấy chỉ củng cố một làn sóng đã hình thành từ trước.
Thứ hai, ở giai đoạn Lan tỏa, mật độ đưa tin giảm còn hơn một phần ba so với giai đoạn Chuyển hóa (1,0 so với 2,7 bài/ngày), vụ việc vẫn tiếp tục được đưa tin trong 19 ngày với 19 bài. Các diễn biến pháp lý như việc thay đổi cơ quan điều tra hay thư ký điểm thi ra đầu thú liên tục tạo ra các mốc tin tức mới, khiến bản thân quá trình xử lý vụ việc đóng vai trò như một cơ chế “tái khuếch đại”, giúp duy trì sự chú ý của công chúng.
Thứ ba, cơ quan nhà nước đồng thời giữ hai vai trò. SARF vốn xếp cơ quan nhà nước vào nhóm trạm khuếch đại (Kasperson & cộng sự, 1988), song trong vụ việc tại Tuyên Quang, chính các cơ quan phải giải trình lại là nguồn tin chủ yếu của báo chí, với 76,1% số bài dẫn nguồn cơ quan nhà nước (Bảng 2), UBND tỉnh Tuyên Quang tổ chức họp báo công bố kết quả xác minh ngày 09/7 (Báo Tuyên Quang, 2026), trong khi Văn phòng Chính phủ công bố Thông báo số 356/TB-VPCP ngày 07/7 (Văn phòng chính phủ, 2026). Sự chồng vai giữa “trạm phát tin” và “chủ thể phải giải trình” khiến cơ quan công quyền vừa định hình nội dung dư luận, vừa chịu sự giám sát của chính dư luận ấy.
Thứ hai, trạm mạng xã hội. Bên cạnh báo chí chính thống, Facebook và Threads là những trạm khuếch đại quan trọng, nơi công chúng trực tiếp bày tỏ phản ứng và tham gia giám sát phi chính thức. Qua đó, cho thấy, tín hiệu bất thường xuất hiện trên mạng xã hội trước khi cơ quan quản lý lên tiếng. Ngày 02/7/2026, một tài khoản Threads đặt câu hỏi về thông tin Trường THPT Chuyên Tuyên Quang có 148 điểm 10 môn Toán, kèm ảnh phổ điểm cho thấy số điểm 10 nhiều hơn số điểm 9,5, và đạt 9,1 nghìn lượt thích. Sang ngày 03/7, khi Bộ Giáo dục và Đào tạo vào cuộc, bài đăng của fanpage “Tuyền Văn Hóa” đạt 19,8 nghìn lượt thích, 2 nghìn bình luận và 234 lượt chia sẻ. Như vậy, người dùng mạng xã hội giữ vai trò phát tín hiệu ban đầu, còn các trang có đông người theo dõi khuếch đại thông tin sau khi cơ quan chức năng xác nhận.
4.2. Quy trình xử lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền
Đối chiếu diễn biến dư luận xã hội trực tuyến ở mục 4.1 với quá trình xử lý của cơ quan công quyền cho thấy, hai quá trình tác động qua lại, khi dư luận đặt ra yêu cầu về tốc độ và mức độ công khai thông tin, còn thông tin chính thức trở thành đầu vào cho các vòng phản ứng dư luận tiếp theo. Vụ việc được xử lý với sự tham gia của cơ quan giáo dục, cơ quan tố tụng, chính quyền cấp tỉnh và các cơ quan trung ương (Bảng 1). Cơ chế phối hợp liên ngành, liên cấp được kích hoạt rất nhanh, bởi chỉ 2 ngày sau khi điểm thi được công bố (01/7), UBND tỉnh đã có báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ (Báo cáo số 171/BC-UBND ngày 03/7, công bố ngày 04/7 (Tuổi Trẻ, 2026), và vụ án hình sự được khởi tố (ngày 07/7).
Đối chiếu các mốc trên với ba pha trách nhiệm giải trình của Bovens (2007), có thể thấy, cung cấp thông tin, thảo luận và phán xét, và hậu quả không diễn ra theo trình tự tuyến tính mà chồng lấn về thời gian. Thông tin được công bố theo từng mức độ, từ thông tin sơ bộ ngày 03/7 đến họp báo ngày 09/7, trong khi các biện pháp tố tụng đối với cá nhân đã được thực hiện từ ngày 05/7, xen giữa hai mốc công bố thông tin. Pha thảo luận và phán xét diễn ra đồng thời trên hai loại diễn đàn: một là, diễn đàn trong bộ máy nhà nước với Thông báo số 356/TB-VPCP ngày 07/7/2026 Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu tại cuộc họp về công tác tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026 tại tỉnh Tuyên Quang (Văn phòng Chính phủ, 2026) và kiến nghị của Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát ngày 14/7/2026; hai là, diễn đàn xã hội gồm báo chí và mạng xã hội. Ở pha hậu quả, cần phân biệt hậu quả pháp lý đối với cá nhân vi phạm với biện pháp khắc phục của cơ quan quản lý; đề xuất thi lại môn Toán công bố ngày 09/7 do Sở Giáo dục và Đào tạo tham mưu, UBND tỉnh trình Bộ (VnExpress, 2026b) mang tính khắc phục, song đến thời điểm nghiên cứu vẫn chưa phải quyết định cuối cùng của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Như vậy, trong môi trường truyền thông số, các pha trách nhiệm giải trình có xu hướng đan xen thay vì tách biệt theo trình tự truyền thống.
Kết quả mã hóa cho thấy, trọng tâm khung nội dung dịch chuyển rõ qua các giai đoạn (Bảng 2): khung “bất thường kết quả thi” chiếm 90,9% số bài ở giai đoạn Khởi phát, giảm còn 35,3% ở giai đoạn Khuếch đại và gần như biến mất ở hai giai đoạn sau (4,2%; 0%); khung “tiến trình tố tụng” chiếm ưu thế từ giai đoạn Khuếch đại (58,8%) và giai đoạn Lan tỏa (63,2%); khung “quyền lợi thí sinh, công bằng” chỉ xuất hiện từ giai đoạn Chuyển hóa (33,3%) và duy trì ở giai đoạn Lan tỏa (21,1%). Riêng khung “trách nhiệm tổ chức, quản lý” chỉ chiếm 8,5% tổng số bài, cho thấy: vấn đề trách nhiệm được báo chí đặt ra chủ yếu thông qua tin tố tụng (khởi tố trưởng điểm thi, hiệu trưởng) chứ ít khi là khung chủ đạo độc lập. Như vậy, việc cơ quan công quyền công bố thông tin hay quyết định xử lý không khép lại hoạt động giám sát xã hội, mà chuyển trọng tâm thảo luận sang hệ quả đối với thí sinh và tính công bằng của phương án xử lý.
4.3. Mở rộng phạm vi giám sát xã hội và bài học về tiếp nhận, xác minh thông tin
Bên cạnh vụ việc tại Tuyên Quang, hoạt động giám sát xã hội trên mạng còn mở rộng sang nhiều địa phương khác, đặt ra yêu cầu về khả năng tiếp nhận và xác minh thông tin phản ánh từ công chúng.
Tại Quảng Trị, tối 09/7 mạng xã hội xuất hiện bài đăng tự nhận là thí sinh tại Trường THPT Lê Trực, phản ánh giám thị hướng dẫn, chỉ bài cho thí sinh. Sáng 10/7, Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Trị cho biết đã họp khẩn, thành lập tổ công tác và phối hợp với công an để xác minh (VnExpress, 2026; Báo Nhân dân, 2026). Tại Khánh Hòa, sau phản ánh về việc thí sinh sử dụng điện thoại trong phòng thi, Sở Giáo dục và Đào tạo xác minh và quyết định hủy kết quả thi của thí sinh này (VietnamNet, 2026). Tại Đắk Lắk, phản ánh dù bị bác bỏ ở lần xác minh đầu vẫn tiếp tục lan truyền, dẫn đến việc cơ quan quản lý xác minh lại (Thanh niên, 2026). Tại Bắc Ninh, mạng xã hội tiếp tục lan truyền phản ánh chưa được xác minh về việc thủ khoa tổ hợp D01 được giám thị có quan hệ gia đình hỗ trợ giải đề (Giáo dục Việt Nam, 2026).
Từ các trường hợp trên, có thể nhận diện ba hướng mở rộng của quá trình giám sát trong bối cảnh vụ Tuyên Quang: (1) mở rộng về đối tượng: từ thí sinh và kết quả thi sang giám thị, lãnh đạo nhà trường và các chủ thể có trách nhiệm; (2) mở rộng về không gian: sang các địa phương khác; và (3) mở rộng về vấn đề: từ nghi vấn về tính bất thường của kết quả thi sang trách nhiệm, công bằng và quyền lợi thí sinh.
Những diễn biến trên tương ứng với tác động lan tỏa trong SARF, khi dư luận trực tuyến vượt khỏi phạm vi bày tỏ cảm xúc, tương tác để trở thành một kênh phát hiện và theo dõi các vấn đề công, nhờ thông tin được chia sẻ, đối chiếu và liên hệ với những trường hợp tương tự. Tuy nhiên, mạng xã hội không phải cơ chế xác minh chính thức; thông tin chưa được kiểm chứng có thể tiếp tục bị khuếch đại và tạo áp lực không chính xác lên các chủ thể liên quan. Vì vậy, hiệu quả của giám sát xã hội trực tuyến phụ thuộc vào khả năng tiếp nhận nhanh nhưng kiểm chứng độc lập của cơ quan quản lý.
5. Hàm ý chính sách
Từ trường hợp Tuyên Quang, bài viết rút ra ba hàm ý đối với quản lý nhà nước trong môi trường truyền thông số.
Một là, xây dựng cơ chế phát hiện và xác minh sớm các tín hiệu xã hội trên môi trường số. Trường hợp Tuyên Quang cho thấy, người dùng mạng xã hội đã đặt vấn đề về phổ điểm bất thường từ ngày 02/7, trước khi cơ quan quản lý lên tiếng. Vì vậy, cơ quan quản lý cần có cơ chế tiếp nhận, sàng lọc và xác minh những phản ánh liên quan đến lợi ích công, coi mạng xã hội là một kênh phát hiện tín hiệu rủi ro chứ không thay thế thanh tra, kiểm tra hay điều tra chính thức, theo nguyên tắc tiếp nhận nhanh nhưng xác minh độc lập. Đối với quản lý thi cử, cơ quan chuyên môn có thể chủ động rà soát các phổ điểm bất thường ngay khi công bố kết quả, thay vì chờ phản ánh từ công chúng.
Hai là, thiết lập quy trình phản ứng và cung cấp thông tin theo cấp độ. Khi thông tin về một vấn đề bất thường lan truyền, khoảng trống thông tin chính thức có thể làm gia tăng các cách diễn giải khác nhau trong công chúng. Do đó, đối với những vụ việc có mức độ quan tâm cao, cần xác định rõ cơ quan đầu mối, nội dung đã được xác minh, nội dung đang kiểm tra và thời điểm cập nhật tiếp theo. Việc công bố thông tin phải tuân thủ nguyên tắc suy đoán vô tội tại Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Luật Báo chí năm 2026; trong phạm vi được phép, cơ quan quản lý nên ưu tiên thông tin khách quan về quá trình xử lý và các quyết định tố tụng đã được công bố, đồng thời, nêu rõ tính chất bước đầu của thông tin.
Ba là, thể chế hóa cơ chế phối hợp liên ngành, liên cấp và chuyển từ xử lý sự cố sang quản trị rủi ro theo chu trình. Trường hợp Tuyên Quang cho thấy, cơ chế phối hợp giữa Sở Giáo dục và Đào tạo, Công an tỉnh, UBND tỉnh và các cơ quan trung ương có thể được kích hoạt nhanh, với 2 ngày từ khi công bố điểm thi đến khi báo cáo Thủ tướng Chính phủ và 6 ngày đến khi khởi tố vụ án. Để duy trì hiệu quả ấy, cần quy định rõ đầu mối, trách nhiệm và mốc thời gian của từng cơ quan trong chu trình phát hiện sớm, xác minh, cung cấp thông tin, giải trình, khắc phục và rút kinh nghiệm. Với quản lý kỳ thi, sau mỗi vụ việc cần đánh giá lại quy trình, rà soát kết quả thi, nhân sự và tăng cường an ninh các khâu tổ chức.
6. Kết luận
Nghiên cứu phân tích cách cơ quan công quyền quản lý phản ứng dư luận xã hội trực tuyến trong vụ gian lận thi cử tại Tuyên Quang dưới góc nhìn của khung SARF và mô hình trách nhiệm giải trình của Bovens (2007). Tín hiệu bất thường xuất hiện trên mạng xã hội trước khi cơ quan quản lý lên tiếng, sau đó được khuếch đại qua nhiều trạm, trong đó cơ quan công quyền vừa là chủ thể giải trình, vừa là nguồn phát tin. Vụ việc được phối hợp xử lý liên ngành khá nhanh, song ba pha giải trình không diễn ra tuần tự mà chồng lấn, cho thấy quy trình cung cấp thông tin cần linh hoạt hơn mô hình truyền thống. Từ trường hợp nghiên cứu, có thể thấy, quản lý phản ứng dư luận xã hội trong khu vực công cần được tiếp cận như một quá trình liên tục, từ phát hiện, xác minh, phản ứng đến giải trình, gắn với khắc phục và rút kinh nghiệm.
Tài liệu tham khảo:
Báo Tuyên Quang (2026). Kiểm tra, rà soát kết quả thi môn Toán Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 của tỉnh. https://baotuyenquang.com.vn/xa-hoi/202607/kiem-tra-ra-soat-ket-qua-thi-mon-toan-ky-thi-tot-nghiep-thpt-nam-2026-cua-tinh-9ce5ebc/
Bovens, M. (2007). Analysing and assessing accountability: A conceptual framework. European Law Journal, 13(4), 447–468.
Brady, W. J., Crockett, M. J., & Van Bavel, J. J. (2020). The MAD model of moral contagion: The role of motivation, attention, and design in the spread of moralized content online. Perspectives on Psychological Science, 15(4), 978–1010.
Brady, W. J., Wills, J. A., Jost, J. T., Tucker, J. A., & Van Bavel, J. J. (2017). Emotion shapes the diffusion of moralized content in social networks. Proceedings of the National Academy of Sciences, 114(28), 7313–7318.
Chen, S., & Li, Y. (2024). Accountability from cyberspace? Scandal exposure on the internet and official governance in China. Political Science Research and Methods, 12(1), 130–145.
Giáo dục Việt Nam (2026). 299 bài thi đạt từ 9 điểm Toán trở lên trong dải 328 số báo danh ở Tuyên Quang, Bộ GD&ĐT rà soát. https://giaoduc.net.vn/299-bai-thi-dat-tu-9-diem-toan-tro-len-trong-dai-328-so-bao-danh-o-tuyen-quang-bo-gddt-ra-soat-post261087.gd
Kasperson, R. E., Renn, O., Slovic, P., Brown, H. S., Emel, J., Goble, R., Kasperson, J. X., & Ratick, S. (1988). The social amplification of risk: A conceptual framework. Risk Analysis, 8(2), 177–187.
Lê Ngọc Hùng (2002). “Dư luận: bản chất và một vài vấn đề trong phương pháp nghiên cứu”. Tạp chí Tâm lý học, số 4, tr. 7.
Mai Quỳnh Nam (1995). “Dư luận – Mấy vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu”. Tạp chí Xã hội học, số 1, tr. 4.
Malena, C., Forster, R., & Singh, J. (2004). Social accountability: An introduction to the concept and emerging practice(Social Development Paper No. 76). World Bank.
Nhân Dân (2026). Bộ Giáo dục và Đào tạo xác minh kết quả thi môn Toán của tỉnh Tuyên Quang vì có điểm bất thường. https://nhandan.vn/bo-giao-duc-va-dao-tao-xac-minh-ket-qua-thi-mon-toan-cua-tinh-tuyen-quang-vi-co-diem-bat-thuong-post973198.html
Quốc hội (2015). Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Quốc hội (2016). Luật Báo chí năm 2026.
Quốc hội (2018). Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.
Rost, K., Stahel, L., & Frey, B. S. (2016). Digital social norm enforcement: Online firestorms in social media. PLOS ONE, 11(6), e0155923. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0155923
Su, Z., & Meng, T. (2016). Selective responsiveness: Online public demands and government responsiveness in authoritarian China. Social Science Research, 59, 52–67.
Thanh Niên (2026). Dải điểm 10 đặc biệt thi tốt nghiệp THPT 2026 của Tuyên Quang. https://thanhnien.vn/dai-diem-10-dac-biet-thi-tot-nghiep-thpt-2026-cua-tuyen-quang-185260703104217106.htm
Thủ tướng Chính phủ (2026). Chỉ thị số 20/CT-TTg về tăng cường chỉ đạo, phối hợp tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, ngày 18/5/2026.
Tuổi Trẻ Online (2026). Thủ khoa D01 của Bắc Ninh bị tố được giám thị giải đề giúp, công an đang xác minh. https://tuoitre.vn/thu-khoa-d01-cua-bac-ninh-bi-to-duoc-giam-thi-giai-de-giup-cong-an-dang-xac-minh-100260721102907698.htm
Văn phòng Chính phủ (2026). Thông báo số 356/TB-VPCP, ngày 07/7/2026 Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu tại cuộc họp về công tác tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026 tại tỉnh Tuyên Quang.
VietNamNet (2026). Tuyên Quang báo cáo Thủ tướng, kiểm tra toàn bộ bài thi Toán đạt điểm 10. https://vietnamnet.vn/tuyen-quang-bao-cao-thu-tuong-kiem-tra-toan-bo-bai-thi-toan-dat-diem-10-2532410.html
VnExpress (2026). Gần 300 học sinh chuyên Tuyên Quang đạt 9, 10 điểm Toán tốt nghiệp. https://vnexpress.net/gan-300-hoc-sinh-chuyen-tuyen-quang-dat-9-10-diem-toan-tot-nghiep-5092873.html



