Building the “Ho Chi Minh Digital Cultural Space” in Ho Chi Minh City
ThS. Nguyễn Thị Hòa
Trường Đại học Thủ Dầu Một
Email: hoant@tdmu.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết vận dụng phương pháp so sánh, lấy kinh nghiệm truyền thông chính sách của Singapore qua Smart Nation 2.0 làm tham chiếu. Phân tích ba trụ cột: niềm tin số, sự tham gia công dân và truyền thông nhập vai đối chiếu với chủ quyền văn hóa số; nhận diện khoảng cách về quản trị dữ liệu, cơ chế đồng sáng tạo và thiết kế trải nghiệm tại TP. Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp thể chế, công nghệ, truyền thông và phát triển công dân số nhằm bảo đảm định hướng chính trị, lan tỏa tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong không gian số.
Từ khóa: Không gian văn hóa Hồ Chí Minh; văn hóa số; chủ quyền văn hóa số; truyền thông chính sách; kinh nghiệm Singapore; Smart Nation 2.0; TP. Hồ Chí Minh.
Abstract: This article employs a comparative method, using Singapore’s policy communication experience under Smart Nation 2.0 as a reference point. It analyses the three pillars of digital trust, citizen participation and immersive communication in relation to digital cultural sovereignty; identifies gaps in data governance, co-creation mechanisms and experience design in Ho Chi Minh City. On this basis, it proposes institutional, technological, communicative and digital-citizenship development solutions to ensure political orientation and to disseminate Ho Chi Minh’s thought, ethics and style in the digital space.
Keywords: Ho Chi Minh Cultural Space; digital culture; digital cultural sovereignty; policy communication; Singapore’s experience; Smart Nation 2.0; Ho Chi Minh City.
1. Đặt vấn đề
Chuyển đổi số không gian văn hóa từ lưu giữ, truyền bá sang tương tác, kiến tạo giá trị, đặt ra yêu cầu quản lý hiện nay. Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định văn hóa là nền tảng tinh thần và nguồn lực nội sinh cho phát triển bền vững; đồng thời, yêu cầu bảo đảm chủ quyền văn hóa số (Bộ Chính trị, 2026). Tại TP. Hồ Chí Minh, Chương trình hành động số 18-CTrHĐ/TU ngày 17/4/2026 của Ban Thường vụ Thành ủy TP. Hồ Chí Minh thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và Kế hoạch số 157/KH-UBND ngày 24/4/2026 của Ủy ban nhân dân (UBND) TP. Hồ Chí Minh đã cụ thể hóa xây dựng “Không gian văn hóa số Hồ Chí Minh”.
Hiện nay, Thành phố có hơn 4.580 mô hình, tuy nhiên, vẫn hạn chế về dữ liệu và quản trị nội dung (Long Hồ, 02/02/2025; Nguyễn Hữu Kỷ Tỵ, 2023). Kinh nghiệm Smart Nation 2.0 của Singapore về niềm tin, tham gia và trải nghiệm số là tham chiếu (MDDI, 2024). Bài viết phân tích, so sánh và đề xuất giải pháp xây dựng Không gian văn hóa số Hồ Chí Minh, bảo đảm chủ quyền văn hóa và phát huy tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
2. Cơ sở lý luận
Việc xây dựng “Không gian văn hóa số Hồ Chí Minh” cần được tiếp cận từ sự chuyển dịch của quản trị văn hóa trong môi trường số, thay vì chỉ xem đây là quá trình số hóa các thiết chế, di tích và tư liệu. Theo hướng tiếp cận di sản số, công nghệ không chỉ mở rộng khả năng lưu giữ, tiếp cận và phổ biến di sản mà còn làm thay đổi cách thức tạo lập, diễn giải và sử dụng giá trị văn hóa (Ocón, 2021; Cheng, 2022). Đặc biệt, quản trị di sản số đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều chủ thể, bao gồm: cơ quan nhà nước, thiết chế văn hóa, cộng đồng và các chủ thể công nghệ; trong đó, sự phối hợp về chủ thể, nguồn lực, dịch vụ và công nghệ là điều kiện để nâng cao hiệu quả quản trị (Guo & Xu, 2022).
Từ góc độ giá trị công, chuyển đổi số trong khu vực công không chỉ đánh giá bằng mức độ ứng dụng công nghệ mà bằng khả năng tạo ra giá trị cho xã hội thông qua tương tác giữa Nhà nước, người dân, tổ chức và các nguồn lực số (Panagiotopoulos & cộng sự, 2019). Điều này đặc biệt phù hợp với quản trị văn hóa, bởi giá trị của một không gian văn hóa số không chỉ nằm ở lượng dữ liệu được số hóa mà còn ở khả năng tạo lập trải nghiệm, thúc đẩy tham gia và củng cố sự gắn kết của công chúng. Trên nền tảng đó, “Không gian văn hóa số Hồ Chí Minh” vốn được xác định là không gian địa lý, dân cư cụ thể chứa đựng các di sản vật thể và phi vật thể mang dấu ấn Chủ tịch Hồ Chí Minh (Nguyễn Thị Ngọc Mai, 2024) cần được mở rộng về phương diện lý luận khi chuyển sang môi trường số.
Trong phạm vi nghiên cứu, bài viết xác định “Không gian văn hóa số Hồ Chí Minh” là một hệ sinh thái quản trị, gồm: nền tảng, dữ liệu, thiết chế, sản phẩm văn hóa số và các hoạt động tương tác, đồng sáng tạo của công dân nhằm lan tỏa và tái tạo các giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong đời sống số. Cách tiếp cận này chuyển trọng tâm từ “số hóa không gian” sang “quản trị và kiến tạo giá trị trong không gian số”, làm cơ sở hình thành năm cấu phần phân tích: hạ tầng và dữ liệu; nội dung và sản phẩm văn hóa; chủ thể tham gia; truyền thông chính sách và đối thoại; quản trị và bảo vệ chủ quyền văn hóa số.
Trọng tâm lý luận của khung phân tích là chủ quyền văn hóa số, được tiếp cận như một năng lực quản trị nhằm duy trì quyền tự chủ trong định hình, bảo vệ và phát triển các giá trị văn hóa trên môi trường số, thay vì chỉ được hiểu theo nghĩa phòng vệ trước các tác động bên ngoài (Dương Bình Nguyên, 2026). Cách tiếp cận này hàm ý rằng, chủ quyền văn hóa số phải bảo đảm ba yêu cầu: khả năng kiểm soát và xác thực nguồn nội dung; năng lực chủ động tạo lập, truyền tải và thích ứng giá trị văn hóa; và khả năng hình thành sức đề kháng của công chúng trước thông tin sai lệch, xuyên tạc (Dương Bình Nguyên, 2026; Nguyễn Duy Bắc, 2026). Do đó, chủ quyền văn hóa số không thể được thực hiện chỉ bằng kiểm soát nội dung mà cần một cơ chế quản trị tạo dựng niềm tin, khuyến khích sự tham gia và nâng cao năng lực thẩm định của công dân. Quan điểm này phù hợp với yêu cầu xây dựng môi trường văn hóa thích ứng với kinh tế số, xã hội số và công dân số, trong đó văn hóa vừa thích nghi vừa điều tiết quá trình phát triển (Nguyễn Phú Trọng, 2021).
Từ góc độ quản trị, truyền thông chính sách cần chuyển từ truyền đạt một chiều sang đối thoại, tương tác và đồng sáng tạo giữa Nhà nước, công dân và các chủ thể số (Dương Hoa Lê, 2026). Về phương diện thể chế, Nghị quyết số 80-NQ/TW xác lập định hướng chiến lược về phát triển văn hóa và chủ quyền văn hóa số; Chương trình 18-CTrHĐ/TU cụ thể hóa định hướng tại TP. Hồ Chí Minh; Kế hoạch 157/KH-UBND tiếp tục chuyển hóa thành nhiệm vụ và cơ chế tổ chức thực hiện. Như vậy, vấn đề đặt ra không phải là thiếu định hướng chính sách mà là khoảng cách giữa mục tiêu chủ quyền văn hóa số và năng lực quản trị để biến mục tiêu đó thành niềm tin, sự tham gia và giá trị văn hóa trong thực tiễn. Khoảng cách này tạo cơ sở để bài viết lựa chọn kinh nghiệm Singapore, đặc biệt về niềm tin số, sự tham gia của công dân và truyền thông tương tác làm trường hợp tham chiếu.
3. Kinh nghiệm truyền thông chính sách của Singapore trên không gian số
Singapore được lựa chọn làm trường hợp so sánh dựa trên các tiêu chí: có những điểm tương đồng về áp lực đô thị hóa và mức độ hội nhập số trong khu vực Đông Nam Á, dù khác biệt về quy mô dân số và thể chế Singapore, triển khai Smart Nation 2.0 ở cấp quốc gia, tạo một trường hợp quản trị số có tính hệ thống; và có nguồn dữ liệu thứ cấp tương đối phong phú từ tài liệu chính sách và nghiên cứu học thuật (Tan & Lim, 2022; Shaker, 2025; Cheng, 2022). Trên cơ sở Smart Nation 2.0 được công bố tháng 10/2024 với ba mục tiêu: tăng trưởng, cộng đồng và niềm tin (MDDI, 2024), nghiên cứu lựa chọn ba phương diện so sánh gắn trực tiếp với mục tiêu nghiên cứu: xây dựng niềm tin công chúng, cơ chế tham gia của công dân và truyền thông trải nghiệm. Việc lựa chọn có chủ đích này nhằm khai thác những khía cạnh có khả năng chuyển giao, thay vì đánh giá toàn bộ chiến lược chuyển đổi số của Singapore.
Thứ nhất, về xây dựng niềm tin công chúng. Theo Tan & Lim (2022), trường hợp TraceTogether cho thấy, Chính phủ Singapore đã sử dụng truyền thông để giải thích và xử lý các lo ngại về dữ liệu cá nhân, nhưng cách tiếp cận còn thiên về cung cấp thông tin từ trên xuống, qua đó, bộc lộ giới hạn trong xây dựng niềm tin. Bên cạnh đó, Singapore triển khai các chương trình nâng cao kỹ năng thẩm định thông tin cho người dân và các sáng kiến tăng cường năng lực chống tin giả (MDDI, 2024). Kinh nghiệm này cho thấy, niềm tin số không chỉ phụ thuộc vào minh bạch của Nhà nước mà còn vào năng lực thẩm định của công dân.
Thứ hai, về cơ chế đối thoại và đồng sáng tạo. Theo Nambisan & Nambisan (2013), đồng sáng tạo dịch vụ công là một triết lý dân chủ hiện đại. Singapore đã thể chế hóa sự tham gia của công dân qua các cơ chế, như: CrowdTaskSG, Tech Kaki và Build for Good: từ khảo sát, thử nghiệm sản phẩm đến đồng phát triển giải pháp số (MDDI, 2024). Shaker (2025) cho thấy, sự tham gia của công chúng đối với Smart Nation ngày càng diễn ra trên các nền tảng số, nhưng mức độ tham gia và chất lượng tương tác vẫn chịu ảnh hưởng bởi cách thức thiết kế truyền thông của Chính phủ.
Thứ ba, về kỹ thuật kể chuyện trực quan. Các bảo tàng Singapore ứng dụng immersive media, trình chiếu đa chiều, AR và VR để tăng tính tương tác của trải nghiệm lịch sử, văn hóa (Cheng, 2022). Theo Angelita Teo, công nghệ số cần bổ sung nội dung, không lấn át trải nghiệm thực tế (Cheng, 2022). Quan điểm này phù hợp với chính sách văn hóa Singapore, trong đó công nghệ số được xem là cầu nối, không thay thế trải nghiệm với văn hóa (Baey, 2016). Ocón (2021) cho rằng, số hóa di sản hỗ trợ lưu giữ ký ức, kéo dài vòng đời di sản, nhưng đặt ra thách thức về chi phí, kỹ năng, tính bền vững và sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, mô hình Singapore cũng gây tranh luận về kỹ trị hóa, giám sát dữ liệu và phụ thuộc công nghệ. Vì vậy, việc tiếp thu cần chọn lọc, phù hợp với bối cảnh chính trị, văn hóa Việt Nam, trong đó chủ quyền văn hóa số giữ vị trí trung tâm.
3. Thực trạng xây dựng “Không gian văn hóa số Hồ Chí Minh” tại TP. Hồ Chí Minh
Xét theo ba tiêu chí từ mô hình Singapore, thực trạng tại TP. Hồ Chí Minh có những kết quả bước đầu nhưng cũng còn hạn chế.
(1) Niềm tin và hạ tầng dữ liệu, Bảo tàng Hồ Chí Minh Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh đang triển khai số hóa không gian trưng bày 3D, kết hợp các kênh sách điện tử cung cấp gần 700 đầu sách qua mã QR (Thúy Bình, 2026). Đối chiếu với tiêu chuẩn niềm tin số của Singapore, hạ tầng này còn ba khoảng trống. Nguyễn Duy Bắc (2026) chỉ ra những hạn chế về thể chế, dữ liệu và mức độ đồng bộ trong quá trình xây dựng văn hóa số ở Việt Nam. Năng lực quản lý không gian mạng tại địa phương vẫn đứng trước nhiều yêu cầu mới trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số (Nguyễn Hữu Kỷ Tỵ, 2023). Đáng lưu ý, trước sự lan truyền của thông tin sai lệch và nội dung xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các nền tảng xuyên biên giới, Thành phố còn thiếu một cơ chế nhận diện thống nhất giúp người dân xác định các nguồn thông tin chính thống trong hệ sinh thái văn hóa Hồ Chí Minh. Nguyên nhân của khoảng trống này không đơn thuần là thiếu nguồn lực tài chính mà nằm ở mô hình quản trị dữ liệu: trong khi Singapore xây dựng niềm tin số dựa trên cơ chế kiểm chứng minh bạch có chủ đích (Tech Teardown) áp dụng cho từng sản phẩm cụ thể, Thành phố hiện tiếp cận số hóa di sản theo hướng số hóa từng phần rời rạc, thiếu một cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm giải trình về tính xác thực nội dung. Khoảng cách này phản ánh khác biệt không chỉ về công nghệ mà còn về cách thức tổ chức quản trị dữ liệu và trách nhiệm giải trình.
(2) Đồng sáng tạo và đối thoại, Thành phố còn khoảng cách đáng kể với Singapore. Truyền thông chính sách văn hóa vẫn thiên về hành chính, thiếu tương tác và chưa khai thác hiệu quả công nghệ số (Dương Hoa Lê, 2026). Một số hoạt động trực tuyến thu hút hàng nghìn lượt thanh niên tham gia cho thấy, tiềm năng công chúng trẻ trong đồng sáng tạo nội dung văn hóa số (Thúy Bình, 2026; Nguyễn Thị Ngọc Mai, 2024). Tuy nhiên, sự tham gia chủ yếu dừng ở hưởng ứng, chưa chuyển thành kiến tạo. Trong khi Tech Kaki và Build for Good đưa công dân vào thử nghiệm, đồng phát triển, hoàn thiện sản phẩm và có cơ chế hỗ trợ nguồn lực (MDDI, 2024), Thành phố chưa hình thành quy trình, ngân sách và cam kết tiếp thu tương ứng. Như vậy, điểm nghẽn không nằm ở quy mô tham gia mà ở cơ chế thể chế hóa, khiến nguồn lực công chúng chưa được chuyển hóa thành năng lực đồng sáng tạo chính sách.
(3) Kể chuyện trực quan, hạn chế thể hiện rõ nhất của Thành phố nằm ở mức độ tương tác và trải nghiệm. Bản đồ số các thiết chế “Không gian văn hóa Hồ Chí Minh” trên Google Maps tại Quận 11 (trước đây) và công trình “Theo dấu chân Bác” tại các tổ chức cơ sở là những bước triển khai tích cực (Long Hồ, 2025). Tuy nhiên, số lượng mô hình gia tăng chưa đồng nghĩa với mức độ trưởng thành của không gian văn hóa số; nhiều mô hình vẫn thiên về tủ sách, hình ảnh, pano và giới thiệu tĩnh, trong khi trải nghiệm tương tác, nhập vai còn hạn chế (Long Hồ, 2025). Trong phạm vi tư liệu tiếp cận, chưa ghi nhận ứng dụng AR cho phép học sinh tương tác với nhân chứng lịch sử về Bác. Điều này cho thấy, điểm nghẽn không chủ yếu ở công nghệ mà ở tư duy thiết kế nội dung: từ “trưng bày” sang “dẫn dắt trải nghiệm” để công nghệ thực sự bổ trợ thay vì chỉ số hóa hiện vật.
Bảng 1. Tổng hợp khoảng cách giữa hai mô hình
| Cấu phần | Singapore | Thành phố Hồ Chí Minh |
| Niềm tin số | Chú trọng minh bạch, giải thích và nâng cao năng lực thẩm định | Đang hình thành, cần tăng cường xác thực nguồn chính thống |
| Đồng sáng tạo | Có nhiều cơ chế thúc đẩy sự tham gia số | Chủ yếu tập trung vào tham gia, hưởng ứng |
| Nội dung nhập vai | Phát triển AR, VR và các hình thức trải nghiệm số | Chủ yếu là số hóa và giới thiệu nội dung, trải nghiệm tương tác còn hạn chế |
| Hạ tầng dữ liệu văn hóa | Hạ tầng số và quản trị dữ liệu được phát triển ở mức cao | Dữ liệu còn phân tán, cần tăng cường liên thông |
| Nhân lực chuyên trách | Có hệ sinh thái nhân lực số và năng lực công nghệ tương đối phát triển | Nguồn nhân lực chuyên trách còn hạn chế |
Có thể thấy, Singapore và Việt Nam đều đối mặt những thách thức do sự phát triển các nền tảng số xuyên biên giới. Nhưng điểm xuất phát giống nhau lại dẫn tới hai quỹ đạo khác nhau. Singapore tập trung xây dựng một hệ sinh thái số đáng tin cậy dựa trên quản trị dữ liệu, hạ tầng số và trải nghiệm người dùng (MDDI, 2024). Việt Nam, qua các định hướng gần đây về chủ quyền văn hóa số, nhấn mạnh quyền tự chủ trong định hình và bảo vệ các giá trị văn hóa trên môi trường số (Dương Bình Nguyên, 2026; Nguyễn Duy Bắc, 2026). Singapore ưu tiên xây dựng hệ sinh thái số đáng tin cậy dựa trên hạ tầng và trải nghiệm người dùng. Trong khi đó, cách tiếp cận của Việt Nam nhấn mạnh yêu cầu giữ vai trò định hướng giá trị và bảo đảm an ninh tư tưởng trên môi trường số. Hai cách tiếp cận có thể hỗ trợ nhau. Niềm tin số giúp tăng mức độ chấp nhận và sử dụng nền tảng số, chủ quyền văn hóa số góp phần bảo đảm định hướng giá trị và bảo vệ bản sắc.
Cơ chế bổ trợ giữa hai cách tiếp cận có thể hình dung như một vòng tương tác hai chiều: niềm tin số (theo cách tiếp cận Singapore) tạo điều kiện kỹ thuật và tâm lý để công dân sẵn sàng tiếp cận nền tảng số, từ đó, mở rộng phạm vi tác động của các nội dung mang giá trị tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh; ngược lại, chủ quyền văn hóa số (theo cách tiếp cận Việt Nam), bảo đảm mức độ tin cậy gia tăng đó không dẫn tới sự lấn át của các hệ giá trị ngoại lai mà được sử dụng để củng cố bản sắc dân tộc trong chính không gian số đó. Nói cách khác, niềm tin số tạo điều kiện để công dân sẵn sàng tham gia, trong khi chủ quyền văn hóa số định hướng và bảo vệ các giá trị văn hóa được truyền tải trong không gian đó. Đây là điểm khác biệt căn bản so với việc chỉ vay mượn thuần túy kỹ thuật quản trị của Singapore mà không đặt trong một khung định hướng giá trị tương ứng.
4. Một số giải pháp
Một là, UBND TP. Hồ Chí Minh cần chủ trì xây dựng và ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trong “Không gian văn hóa số Hồ Chí Minh”, trên cơ sở các quy định hiện hành về ứng xử trên mạng xã hội, trong đó quy định rõ nguyên tắc sử dụng hình ảnh, tư liệu, trích dẫn và diễn giải tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Sở Văn hóa và Thể thao chủ trì xây dựng nội dung chuyên môn, phối hợp với cơ quan pháp lý và các nền tảng số để hướng dẫn, giám sát thực hiện. Đồng thời, Sở Văn hóa và Thể thao cần thiết lập cơ chế xác thực thống nhất đối với các kênh, website, dữ liệu và sản phẩm thuộc hệ sinh thái văn hóa Hồ Chí Minh; mỗi nguồn chính thống được cấp dấu hiệu nhận diện và liên kết về cơ sở dữ liệu dùng chung. Công cụ AI được sử dụng ở khâu hỗ trợ phát hiện nội dung giả mạo, xuyên tạc và cảnh báo sớm, nhưng quyết định xác minh phải do cơ quan chuyên môn thực hiện. Đối với cơ chế đặt hàng, UBND Thành phố cần ban hành quy trình thống nhất về lựa chọn nhiệm vụ, tiêu chí sản phẩm, KPI, kinh phí và nghiệm thu; Sở Văn hóa và Thể thao tổ chức đặt hàng, đánh giá và công khai kết quả, qua đó, chuyển cơ chế đặt hàng trong Chương trình 18-CTrHĐ/TU thành công cụ quản trị có trách nhiệm giải trình (Ban Thường vụ Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, 2026).
Hai là, UBND TP. Hồ Chí Minh cần chỉ đạo Sở Văn hóa và Thể thao xây dựng lộ trình số hóa, lưu trữ và khai thác dữ liệu di sản, ưu tiên các địa điểm được xác định trong Kế hoạch số 157/KH-UBND, như: Bến Nhà Rồng, Địa đạo Củ Chi, di tích Bến Lộc An, Khu tưởng niệm chiến khu D và di tích nhà tù Côn Đảo, trong đó áp dụng quét laser 3D, mô hình hóa VR và các công nghệ số phù hợp theo từng loại di sản (UBND TP. Hồ Chí Minh, 2026). Đối với Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Thành phố, cần chuyển từ số hóa hiện vật đơn thuần sang thiết kế trải nghiệm tương tác, sử dụng immersive media để tái hiện bối cảnh, câu chuyện và giá trị lịch sử, tham khảo kinh nghiệm Singapore (Cheng, 2022). Đồng thời, Sở Văn hóa và Thể thao chủ trì xây dựng kho dữ liệu văn hóa Hồ Chí Minh dùng chung, thống nhất chuẩn dữ liệu, định danh, siêu dữ liệu và quyền truy cập; kết nối với các hệ thống dữ liệu quốc gia nhằm giảm phân tán, trùng lặp và khó khai thác (Nguyễn Duy Bắc, 2026). Việc triển khai cần phân kỳ theo mức độ ưu tiên, gắn với khả năng ngân sách, nhân lực và năng lực vận hành thực tế của Thành phố.
Ba là, Sở Văn hóa và Thể thao cần chủ trì xây dựng chiến lược truyền thông đa nền tảng, mở rộng nội dung về “Không gian văn hóa Hồ Chí Minh” trên TikTok, Instagram, YouTube Shorts và các nền tảng phù hợp với thói quen tiếp nhận thông tin của giới trẻ. Cuộc thi “Ý tưởng, giải pháp sáng tạo về xây dựng Không gian văn hóa Hồ Chí Minh” theo Kế hoạch số 157/KH-UBND cần được chuyển thành chương trình thường niên; Thành phố lựa chọn các ý tưởng khả thi để hỗ trợ thử nghiệm, hoàn thiện và đưa vào ứng dụng, tham khảo cơ chế đồng sáng tạo của Smart Nation Singapore (UBND TP. Hồ Chí Minh, 2026; MDDI, 2024; Shaker, 2025). Đồng thời, Sở Văn hóa và Thể thao phối hợp với Thành đoàn và các cơ quan truyền thông xây dựng chiến dịch hashtag thống nhất gắn với các ngày 19/5, 05/6, 02/7 và 02/9, tạo chuỗi nội dung thường niên trên không gian số (UBND TP. Hồ Chí Minh, 2026). Về kiểm soát chất lượng, cần hình thành hệ sinh thái nội dung chính thống về Chủ tịch Hồ Chí Minh, với bộ tiêu chí biên tập, quy trình kiểm chứng nguồn và hội đồng cố vấn gồm chuyên gia Hồ Chí Minh học, nhằm bảo đảm tính chính xác, hấp dẫn và hạn chế nguy cơ xuyên tạc.
Bốn là, Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Sở Văn hóa và Thể thao, Thành đoàn và các cơ sở giáo dục triển khai chương trình “Sức đề kháng số” cho thanh thiếu niên, tập trung vào kỹ năng kiểm chứng nguồn tin, nhận diện thông tin sai lệch và deepfake, tham khảo các chương trình nâng cao năng lực số của Singapore (MDDI, 2024). Học viện Cán bộ TP. Hồ Chí Minh cần đưa nội dung “Quản trị Không gian văn hóa số Hồ Chí Minh” vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ văn hóa, tuyên giáo và truyền thông, gắn lý thuyết với xử lý tình huống trên môi trường số. Đồng thời, Sở Văn hóa và Thể thao chủ trì xây dựng Khung năng lực số văn hóa cho đội ngũ quản lý văn hóa, làm căn cứ tuyển dụng, đào tạo lại, đánh giá và bố trí nhân sự chuyên trách quản trị không gian số tại các địa phương (UBND TP. Hồ Chí Minh, 2026). Việc chuẩn hóa năng lực và tăng cường nhân lực chuyên trách sẽ góp phần khắc phục tình trạng thiếu nhân lực có năng lực quản trị văn hóa số được Nguyễn Hữu Kỷ Tỵ (2023) cảnh báo.
Năm là, Sở Văn hóa và Thể thao cần thiết lập cơ chế phối hợp thường xuyên giữa cơ quan nhà nước, doanh nghiệp công nghệ, cơ sở giáo dục, chuyên gia và cộng đồng người sử dụng, tham khảo mô hình Tech Kaki của Singapore, trong đó người dùng tham gia góp ý và hoàn thiện sản phẩm số (MDDI, 2024). Trên cơ sở đó, Thành phố có thể thành lập “Hội đồng người dùng văn hóa số” trực thuộc Sở Văn hóa và Thể thao, gồm đại diện thanh niên, giáo viên, chuyên gia văn hóa, công nghệ và người sử dụng; Hội đồng thực hiện phản biện, thử nghiệm và góp ý bắt buộc trước khi các sản phẩm văn hóa số được triển khai diện rộng. Đồng thời, Sở Văn hóa và Thể thao phối hợp với cơ quan tài chính và đơn vị liên quan xây dựng cơ chế đặt hàng doanh nghiệp phát triển ứng dụng, trò chơi và sản phẩm giáo dục về cuộc đời, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kết hợp hỗ trợ kinh phí, ưu đãi phù hợp và cơ chế vinh danh thường niên đối với sản phẩm đạt tiêu chuẩn. Cách tiếp cận này vừa huy động nguồn lực và năng lực đổi mới của khu vực tư nhân, vừa bảo đảm Nhà nước giữ vai trò định hướng, thẩm định và bảo vệ lợi ích công.
5. Kết luận
Xây dựng “Không gian văn hóa số Hồ Chí Minh” là một mệnh đề chính trị – văn hóa của thời đại chứ không thuần túy là nhiệm vụ kỹ thuật về số hóa. Khi các nền tảng xuyên biên giới ngày càng tham gia định hình trải nghiệm thông tin và văn hóa của người dùng, việc bảo đảm hình ảnh, tư tưởng, đạo đức và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục hiện diện sống động trên không gian số trở thành yêu cầu quan trọng của chủ quyền văn hóa số. Kế thừa tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW về văn hóa là nguồn lực nội sinh cho phát triển bền vững, kinh nghiệm Singapore cho thấy, chuyển đổi số không chỉ phụ thuộc vào công nghệ mà còn vào cách thức xây dựng niềm tin, tổ chức sự tham gia và thiết kế trải nghiệm người dùng. Tuy nhiên, trường hợp TraceTogether cũng cho thấy giới hạn của truyền thông thiên về cung cấp thông tin từ trên xuống, do đó, các kinh nghiệm này cần được chọn lọc và điều chỉnh theo bối cảnh Việt Nam.
Tài liệu tham khảo:
Ban Thường vụ Thành ủy TP. Hồ Chí Minh (2026). Chương trình hành động số 18-CTrHĐ/TU ngày 17/4/2026 thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
Cheng, M. S. M. (2022). The role of immersive media in engaging Singapore’s history & cultural heritage. Luận văn Thạc sĩ, Nanyang Technological University. https://doi.org/10.32657/10356/164420
Dương Bình Nguyên (2026). Chủ quyền văn hóa số” trước kỷ nguyên nền tảng. Báo Nhân dân. https://nhandan.vn/chu-quyen-van-hoa-so-truoc-ky-nguyen-nen-tang-post949745.html
Dương Hoa Lê (08/5/2026). Truyền thông chính sách văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/05/07/truyen-thong-chinh-sach-van-hoa-trong-boi-canh-chuyen-doi-so-o-viet-nam-hien-nay/
Long Hồ (02/02/2025). Không gian văn hóa Hồ Chí Minh mang lại nhiều hiệu quả cao trong học tập và làm theo Bác. https://www.hcmcpv.org.vn/tin-tuc/khong-gian-van-hoa-ho-chi-minh-mang-lai-nhieu-hieu-qua-cao-trong-hoc-tap-va-lam-theo-bac-1491933742
Ministry of Digital Development and Information (MDDI), Singapore. (2024). Smart Nation 2.0: A thriving digital future for all. Author.
Nambisan, S., & Nambisan, P. (2013). Engaging citizens in co-creation in public services: Lessons learned and best practices. IBM Center for The Business of Government.
Nguyễn Duy Bắc (2026). Xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa số ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Tạp chí Lý luận chính trị (số đặc biệt chào mừng Đại hội XIV của Đảng). https://doi.org/10.70786/PTOJ.3968
Nguyễn Hữu Kỷ Tỵ (2023). Một số giải pháp quản lý không gian mạng tại Thành phố Hồ Chí Minh trong hội nhập quốc tế hiện nay. Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ, 7(S1), S13-S18. https://doi.org/10.32508/stdjssh.v7iS1.918
Nguyễn Phú Trọng (2021). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Nguyễn Thị Ngọc Mai (2024). Thanh niên thành phố Hồ Chí Minh cống hiến và xây dựng nét đẹp không gian văn hóa Hồ Chí Minh. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Đà Nẵng, 22(8), 37-40. https://jst-ud.vn/jst-ud/article/view/9307
Ocón, D. (2021). Digitalising endangered cultural heritage in Southeast Asian cities: preserving or replacing? International Journal of Heritage Studies, 27(10), 975-990. https://doi.org/10.1080/13527258.2021.1883711
Shaker, R. (2025). From policy to platforms: Analysing public engagement with Singapore’s smart nation initiative through social media discourse. Urban Governance. https://doi.org/10.1016/j.ugj.2025.04.001
Tan, G. K. S., & Lim, S. S. (2022). Communicative strategies for building public confidence in data governance: Analyzing Singapore’s COVID-19 contact-tracing initiatives. Big Data & Society. https://doi.org/10.1177/20539517221104086
Thúy Bình (2026). Lan tỏa “Không gian Văn hóa Hồ Chí Minh trên nền số”. Báo Sài Gòn Giải Phóng. https://www.sggp.org.vn/lan-toa-khong-gian-van-hoa-ho-chi-minh-tren-nen-so-post835132.html.
Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2026). Kế hoạch số 157/KH-UBND ngày 24/4/2026 về đẩy mạnh xây dựng Không gian văn hóa Hồ Chí Minh đến năm 2030.
Guo, R., & Xu, Y. (2022). Collaborative governance of digital cultural heritage: The logical framework, case review and implementation path. Library and Information Service, 66(18), 11-22. https://doi.org/10.13266/j.issn.0252-3116.2022.18.002
Panagiotopoulos, P., Klievink, B., & Cordella, A. (2019). Public value creation in digital government. Government Information Quarterly, 36(4), 101421. https://doi.org/10.1016/j.giq.2019.101421



