Vai trò kiến tạo của kinh tế nhà nước đối với hệ sinh thái khởi nghiệp trẻ trong kỷ nguyên mới

The enabling role of the state economy in the youth startup ecosystem in the new era

Nguyễn Thọ Quân
Công ty cổ phần Tập đoàn dịch vụ tiện ích AnHado
Email:thoquancau@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn)  – Cùng với Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước giữ vai trò định hướng cho các thành phần kinh tế khác, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình khởi nghiệp của người trẻ. Với góc nhìn đa chiều của người trẻ đang khởi nghiệp, bài viết phân tích, luận chứng và khẳng định Nghị quyết số 79-NQ/TW không phải là rào cản cho quá trình khởi nghiệp mà giữ vai trò kiến tạo đối với hệ sinh thái khởi nghiệp của các doanh nghiệp trẻ. Từ đó, bài viết đề xuất, kiến nghị chính sách đối với các cơ quan nhà nước nhằm tháo gỡ một số vướng mắc đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp ở nước ta trong bối cảnh mới hiện nay.

Từ khóa: Nghị quyết số 68-NQ/TW; Nghị quyết số 79-NQ/TW; hệ sinh thái khởi nghiệp trẻ; vai trò kiến tạo của kinh tế nhà nước; kỷ nguyên mới.

Abstract: Alongside Politburo Resolution No. 68-NQ/TW on the development of the private sector, Resolution No. 79-NQ/TW on the development of the state economy plays a guiding role for other economic sectors and creates favourable conditions for promoting youth entrepreneurship. From the multidimensional perspective of young entrepreneurs, this article analyses, argues and affirms that Resolution No. 79-NQ/TW does not constitute a barrier to the entrepreneurial process but rather plays an enabling role in the start-up ecosystem of young enterprises. On this basis, the article puts forward policy recommendations addressed to state agencies with a view to removing certain obstacles facing start-up enterprises in Viet Nam in the current new context.

Keywords: Resolution No. 68-NQ/TW; Resolution No. 79-NQ/TW; youth start-up ecosystem; enabling role of the state economy; new era.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp của thế hệ trẻ đóng vai trò là động lực then chốt để hiện thực hóa khát vọng xây dựng một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc. Cùng với Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị khẳng định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất (Bộ Chính trị, 2025), sự ra đời của Nghị quyết 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước tiếp tục hoàn thiện tư duy lý luận của Đảng về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (Bộ Chính trị, 2026). Tuy nhiên, hiện nay xuất hiện một số quan điểm cho rằng, sự lớn mạnh của kinh tế nhà nước sẽ thu hẹp không gian phát triển và trở thành rào cản đối với khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp trẻ.

Nhận thức rõ tính cấp thiết của vấn đề này, bài viết tập trung phân tích mối quan hệ biện chứng, cộng hưởng giữa việc phát triển kinh tế nhà nước và quá trình khởi nghiệp của người trẻ. Bằng lăng kính thực tiễn, bài viết luận chứng để khẳng định Nghị quyết số 79-NQ/TW không những không kìm hãm mà còn tạo ra nền tảng vĩ mô vững chắc, thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp. Qua đó, bài viết nhận diện những điểm nghẽn hiện tại và đề xuất một số chính sách nhằm tiếp tục tháo gỡ khó khăn, kiến tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp trẻ cất cánh trong kỷ nguyên mới.

2. Từ Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân đến Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước ở nước ta hiện nay

Sự ra đời của Nghị quyết số 68-NQ/TW thể hiện bước đột phá tư duy mới của Đảng đối với khu vực kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước. Nếu như trong các văn kiện trước, Đảng ta xác định kinh tế tư nhân là “một trong những động lực quan trọng” thì trong Nghị quyết số 68-NQ/TW, lần đầu tiên Đảng ta xác lập vị thế mới của thành phần kinh tế tư nhân là “động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (Báo Chính phủ, 2025). Đồng thời nêu rõ, “kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao. Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân hợp tác, liên kết với doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, kinh tế hộ…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 130). Đây là sự thể hiện niềm tin tưởng và kỳ vọng lớn của Đảng vào khu vực kinh tế này. Đồng thời cho thấy, Đảng ta đã kiên quyết xóa bỏ các định kiến, rào cản tư duy và thể chế kìm hãm sự phát triển của kinh tế tư nhân; khẳng định kinh tế tư nhân bình đẳng trước pháp luật, trong tiếp cận nguồn lực và cơ hội kinh doanh; việc khai thông và phát triển kinh tế tư nhân không chỉ là vấn đề của phát triển nền kinh tế mà còn là nhiệm vụ chính trị quan trọng, gắn liền với khát vọng xây dựng một Việt Nam phồn vinh, văn minh, hạnh phúc khi bước vào kỷ nguyên mới.

Bên cạnh đó, Nghị quyết số 68-NQ/TW còn đề ra các mục tiêu lớn về số lượng và chất lượng, như: đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp tư nhân hoạt động hiệu quả; kỳ vọng khu vực kinh tế tư nhân “đóng góp khoảng 55 – 58% GDP, khoảng 35 – 40% tổng thu ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm cho khoảng 84 – 85% tổng số lao động; năng suất lao động tăng bình quân khoảng 8,5 – 9,5%/năm” (Báo Chính phủ, 2025); hình thành được một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, sức cạnh tranh quốc tế và đóng vai trò dẫn dắt trong các chuỗi giá trị toàn cầu. Đặc biệt là tầm nhìn đến năm 2045, khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, chất lượng và hiệu quả, là nền tảng quan trọng bảo đảm tính tự chủ, tự cường của nền kinh tế Việt Nam. Để đạt được các mục tiêu trên, Bộ Chính trị đề ra 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ, trong đó có nhiều giải pháp mang tính đột phá và có ý nghĩa bước ngoặt, như: tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực bằng cách giảm chi phí tuân thủ pháp luật, tạo thuận lợi trong tiếp cận đất đai, vốn, công nghệ; hỗ trợ doanh nghiệp phát triển bứt phá thông qua việc khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh; xây dựng đạo đức, văn hóa kinh doanh và tinh thần thượng tôn pháp luật cho đội ngũ doanh nhân Việt Nam.

Như vậy, Nghị quyết số 68-NQ/TW mang lại nhiều kỳ vọng cho cộng đồng doanh nghiệp với các cam kết cải cách rõ ràng, cụ thể. Đồng thời là động lực thúc đẩy người trẻ tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong quá trình khởi nghiệp.    

Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, việc phát huy vai trò là động lực quan trọng của kinh tế tư nhân không có nghĩa là phủ định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Vì vậy, việc ra đời của Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước là sự tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng qua 40 năm Đổi mới đất nước, vẫn kiên định nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Bên cạnh việc xác định rõ vai trò, sứ mệnh của kinh tế nhà nước trong bối cảnh mới, sự ra đời của Nghị quyết số 79-NQ/TW còn nhằm giải quyết các tồn tại, yếu kém của khu vực kinh tế nhà nước thời gian qua, mở rộng nội hàm khái niệm “kinh tế nhà nước” không chỉ bao gồm doanh nghiệp nhà nước mà còn bao gồm các nguồn lực công khác, như: đất đai, tài nguyên, ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước và kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư. Công cụ điều tiết kinh tế nhà nước là công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước ổn định vĩ mô, định hướng, dẫn dắt, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh. Điều này cho thấy, Nghị quyết số 79-NQ/TW về thực chất là sự định hình lại vai trò và phương thức phát triển của kinh tế nhà nước tại Việt Nam trong giai đoạn vươn mình của dân tộc, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và thịnh vượng.

Hiện nay, xuất hiện nhiều luồng dư luận cho rằng, phát triển kinh tế nhà nước là để kìm hãm kinh tế tư nhân và là rào cản cho quá trình người trẻ khởi nghiệp. Đây là quan điểm cố tình xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng về công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Việc ra đời Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 79-NQ/TW cho thấy, tư duy lý luận nòng cốt của Đảng xác định mối quan hệ giữa hai nghị quyết này là biện chứng, đồng bộ, bổ trợ và cộng hưởng lẫn nhau, không thể tách rời trong một tổng thể nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mang tính thống nhất. Kinh tế nhà nước không cạnh tranh đại trà với kinh tế tư nhân, nhất là các doanh nghiệp trẻ, mà thực hiện vai trò “mở đường”, “dẫn dắt”. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định: “Kinh tế Nhà nước là công cụ, lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường… Doanh nghiệp nhà nước tập trung vào những lĩnh vực then chốt, địa bàn quan trọng, quốc phòng, an ninh… cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 129).    

Như vậy, kinh tế nhà nước sẽ đầu tư vào các ngành công nghiệp then chốt, công nghệ cao, hạ tầng quốc gia đòi hỏi vốn lớn, có độ rủi ro cao, thời gian thu hồi vốn dài – những lĩnh vực mà kinh tế tư nhân chưa muốn hoặc chưa thể làm được vì lý do khách quan và chủ quan. Một thực tế cho thấy, khi và chỉ khi kinh tế nhà nước mở đường, định hình khung pháp lý và kết cấu hạ tầng sẽ tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân tiếp tục tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị đó, tạo nên sự cộng hưởng sức mạnh tổng thể quốc gia dân tộc trong kỷ nguyên phát triển mới. Sự hợp lực giữa vai trò trụ cột vững chắc của kinh tế nhà nước sẽ tạo ra môi trường vĩ mô ổn định, kết cấu hạ tầng chiến lược để kinh tế tư nhân có điểm tựa chiến lược và phát triển mạnh mẽ. Vì vậy, Nghị quyết số 79-NQ/TW không phải là rào cản cho người trẻ khởi nghiệp mà còn tạo điều kiện thúc đẩy quá trình khởi nghiệp của người trẻ đi đúng hướng.

3. Mục tiêu của Nghị quyết số 79-NQ/TW đối với quá trình khởi nghiệp của các doanh nghiệp trẻ                              

Về thực chất, Nghị quyết số 79-NQ/TW không phải là sự quay lại thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp, hay cạnh tranh với khu vực kinh tế tư nhân. Sự ra đời của Nghị quyết số 79-NQ/TW nhằm mục tiêu hiện đại hóa khu vực nguồn lực nòng cốt của quốc gia; bảo đảm nền kinh tế Việt Nam phát triển theo quy luật thị trường nhưng không xa rời mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội – nơi mà kinh tế nhà nước vững mạnh đóng vai trò dẫn dắt, định hướng để mọi thành phần kinh tế cùng hợp lực xây dựng một Việt Nam “hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 44).

Nhận thức được chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong bối cảnh mới hiện nay, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực kinh tế tư nhân do người trẻ khởi nghiệp xuất hiện ngày càng nhiều. Theo số liệu thống kê, trong năm 2025, trung bình mỗi tháng có 24.800 doanh nghiệp mới và quay trở lại hoạt động (Việt Linh, 2026) và Quý I/2026, có tới khoảng 96.000 doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường, trong đó 57.400 là thành lập mới (Hoài Phương & Thái Hưng, 2026). Điều này cho thấy, khát vọng kinh doanh và khởi nghiệp của người trẻ là một thực tế khách quan trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay.

Tuy nhiên, năm 2025, cũng ghi nhận con số kỷ lục 227.200 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 14,8% so với 2024 (Hải Băng, 2025). Trung bình mỗi tháng có gần 19.000 doanh nghiệp ngừng hoạt động (Hải Nam, 2026). Điều này không làm chùn bước những người trẻ khởi nghiệp. Họ đã từng bước nâng cao chất lượng khởi nghiệp mang tính thực tế hơn, chuyển dịch từ những ý tưởng thiếu tính khả thi sang giá trị ứng dụng thực tiễn. Đặc biệt là các nhà sáng lập trẻ hiện nay chủ động áp dụng AI để tự động hóa vận hành, marketing. Các thương vụ đầu tư quy mô siêu nhỏ (dưới 500.000 USD) đã tăng vọt 73% (Bảo Ngọc, 2025). Sự đóng góp của các doanh nghiệp trẻ bằng các giải pháp số nội địa đã giúp chỉ số phát triển Chính phủ điện tử (EGDI) của Việt Nam tăng 15 bậc, lọt top 71/193 quốc gia (tháng 9/2024) (Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2024). Dòng vốn mạo hiểm vẫn đặt niềm tin vào các giải pháp công nghệ Việt với 398 triệu USD giải ngân qua 141 thương vụ trong năm 2024 (Bảo Ngọc, 2025). Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn vấp ngã do thiếu khung chiến lược dài hạn, chất lượng nhân sự không đồng đều và đặc biệt là kỹ năng quản trị dòng tiền, như: tối ưu hóa CASA hay vốn lưu động còn yếu kém trước các vấn đề mang tính vĩ mô. Sự đào thải khốc liệt hiện tại chính là màng lọc tự nhiên, giúp nền kinh tế giữ lại những mô hình kinh doanh thực chất, có bộ máy tinh gọn và hàm lượng ứng dụng công nghệ cao.

Thành tựu đáng tự hào nhất của các doanh nhân trẻ, những người khởi nghiệp không chỉ đo bằng doanh thu mà bằng khát vọng giải quyết triệt để các vấn đề của xã hội, nâng cao chất lượng sống cho cộng đồng. Việc chuẩn hóa dịch vụ thiết yếu, hướng tới các giá trị bền vững đang được các doanh nghiệp trẻ quan tâm. Thay vì các mảng kinh doanh truyền thống, một làn sóng doanh nghiệp đang dồn lực chuyên nghiệp hóa các dịch vụ gia đình tiện ích (tích hợp đa dịch vụ), chăm sóc sức khỏe và người cao tuổi. Khát vọng của họ là thiết lập những tiêu chuẩn dịch vụ cao cấp, minh bạch, kiến tạo một tương lai gia đình Việt tiện nghi và hạnh phúc. Theo UNDP, nhóm doanh nghiệp tạo tác động xã hội (SIB) hiện đã chiếm khoảng 4% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam (Thy An, 2021). Trong bối cảnh mới, thách thức nhiều hơn cơ hội, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo vẫn thu hút thành công tổng cộng 2,3 tỷ USD trong năm 2024 (Trọng Đạt, 2025).

Những thành tựu trên cho thấy, bức tranh khởi nghiệp không phải là màu xám mà thể hiện khát vọng vươn lên mạnh mẽ của thế hệ trẻ trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay. Những số liệu về sự đào thải không phải là điểm lùi, mà chính là màng lọc để giữ lại những mô hình tinh gọn nhất, mang lại giá trị thực tiễn cao nhất cho xã hội và nền kinh tế. Vì vậy, một lần nữa khẳng định quan điểm cho rằng, Nghị quyết số 79-NQ/TW tạo ra rào cản hoặc thu hẹp không gian sinh tồn của các doanh nghiệp trẻ là một nhận thức phiến diện, thiếu khách quan nhằm mục tiêu xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước. Sự lớn mạnh của doanh nghiệp nhà nước sẽ tạo ra hệ sinh thái cộng sinh đối với doanh nghiệp trẻ. Không có sự chèn ép hay rào cản cho người trẻ khởi nghiệp như các luận điệu xuyên tạc, mà trên thực tế, doanh nghiệp nhà nước sẽ tạo hạ tầng vật chất và thể chế để doanh nghiệp trẻ phát triển. Ví dụ như, chi phí vận hành và logistics của một startup thương mại điện tử chỉ có thể tối ưu nếu hệ thống hạ tầng giao thông quốc gia được hiện đại hóa. Doanh nghiệp nhà nước lúc này đóng vai trò kiến tạo nền tảng, còn doanh nghiệp trẻ linh hoạt chạy nước rút ở những khâu tiếp cận cuối cùng đến người tiêu dùng.

4. Một số hạn chế, vướng mắc

Thứ nhất, thiếu kinh nghiệm vĩ mô và hội nhập, bị cô lập trên chính thị trường trong nước. Trong quá trình khởi nghiệp, nhiều nhà sáng lập trẻ có chuyên môn tốt nhưng lại thiếu tư duy chiến lược khi đặt doanh nghiệp vào bức tranh kinh tế vĩ mô có sự điều tiết của Nhà nước và các chuẩn mực quốc tế khắt khe. Việc không biết cách tận dụng nền tảng từ các tập đoàn lớn hoặc không gắn mô hình vào chuỗi giá trị quốc gia khiến họ tự đánh mất lợi thế cạnh tranh. Theo nghiên cứu của CIEM cho thấy, hiện chỉ có khoảng 21% doanh nghiệp Việt Nam tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu (Đỗ Nga, 19/9/2025). Hàng nghìn doanh nghiệp không thể trở thành nhà cung cấp (vendor) cho các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn vì không hiểu và không đạt chuẩn kỹ thuật quốc tế. Hoặc khi gọi vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp trẻ thường thất bại ở khâu thẩm định vì chưa tìm hiểu kỹ về chuẩn mực toàn cầu.

Thứ hai, hạn chế về nguồn lực, nhất là nguồn lực về vốn. Các doanh nghiệp trẻ thường xuyên rơi vào trạng thái đình trệ trong vận hành do cạn kiệt các nguồn lực nền tảng, đặc biệt là vốn lưu động và công nghệ lõi. Việc đứt gãy dòng tiền là nguyên nhân gây phá sản. Theo số liệu từ Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), có tới khoảng 70% doanh nghiệp SME không thể tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng chính thức (VCCI, 06/11/2025). Lý do là họ chủ yếu sở hữu tài sản vô hình (phần mềm, ý tưởng), trong khi hệ thống tín dụng vẫn đòi hỏi khắt khe về tài sản bảo đảm vật chất. Bên cạnh đó, tỷ lệ chi cho nghiên cứu & phát triển (R&D) của khối doanh nghiệp Việt Nam nằm ở mức rất thấp.      

Thứ ba, hạn chế về pháp lý và nhiều rủi ro từ khoảng trống pháp lý. Trên thực tế, pháp luật luôn có độ trễ so với sự phát triển của công nghệ. Đối với doanh nghiệp trẻ, khoảng lùi này tạo ra một vành đai rủi ro rất lớn, trực tiếp bào mòn quỹ thời gian và cơ hội bứt phá. Các mô hình mới (Fintech, Web3, kinh tế chia sẻ) buộc phải hoạt động trong những khoảng trống pháp lý vì chưa có hành lang rõ ràng. Việc cơ chế thử nghiệm (Sandbox) chậm được ban hành đã tạo ra làn sóng chuyển dịch pháp nhân. Có nhiều dự án tiềm năng về công nghệ của người Việt đã phải sang Singapore hoặc Dubai mở công ty để có môi trường pháp lý an toàn nhằm gọi vốn, làm chảy máu nguồn thu và trí tuệ quốc gia. Các mô hình dịch vụ liên ngành gặp nhiều rào cản khi xin giấy phép con. Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2022 của VCCI cho thấy thực trạng đáng quan ngại: gần 50% doanh nghiệp phải dành hơn 5% quỹ thời gian của các cấp lãnh đạo chỉ để giải quyết các thủ tục hành chính (VCCI & USAID, 2023). Đối với một startup, việc lãng phí quỹ thời gian này đồng nghĩa với việc tự tước đi sự nhạy bén – vũ khí cạnh tranh duy nhất của họ trong giai đoạn đầu khởi nghiệp.

5. Đề xuất chính sách

Một là, chính sách pháp lý cần chuyển từ kiểm soát rủi ro sang kiến tạo không gian đổi mới sáng tạo.Để người trẻ khởi nghiệp thành công, cần phải có khung pháp lý đồng bộ. Thực tế pháp lý không thể tiếp tục đi sau công nghệ và thực tiễn kinh doanh, vì vậy, cần có những độ mở luật pháp để bảo vệ sự sáng tạo. Do đó, cần ban hành nghị định về Sandbox không chỉ cho Fintech mà mở rộng cho các lĩnh vực ứng dụng AI, kinh tế chia sẻ và y tế số. Điều này giúp các doanh nghiệp trẻ có một hành lang pháp lý an toàn để thử nghiệm sản phẩm thực tế mà không lo rủi ro bị phạt hồi tố, ngăn chặn làn sóng chuyển dịch pháp nhân ra nước ngoài.

Đối với các mô hình dịch vụ tích hợp hiện đại, như: hệ sinh thái dịch vụ tiện ích gia đình hay chăm sóc sức khỏe toàn diện, việc áp dụng các mã ngành nghề truyền thống còn đang rất cứng nhắc. Chính sách cần cho phép đăng ký các mã ngành dịch vụ tổng hợp để giảm tải thủ tục hành chính, giúp doanh nghiệp nhanh chóng triển khai chuỗi dịch vụ.         

Bên cạnh đó, cần có khung tiêu chí rõ ràng để công nhận các doanh nghiệp giải quyết bài toán dân sinh (giáo dục cá nhân hóa, chăm sóc người cao tuổi, y tế tư nhân). Khi có chính danh về pháp lý, nhóm này mới có cơ sở để nhận các ưu đãi đặc thù từ Nhà nước và thu hút quỹ đầu tư tác động (Impact Fund) quốc tế.

Hai là, chính sách nguồn lực tài chính cần có sự chuyển dịch từ “tài sản đảm bảo” sang “dòng tiền”. Trên thực tế, để giải tỏa cơn khát về vốn, nhất là đối với người trẻ, hệ thống tài chính cần thay đổi lăng kính đánh giá rủi ro đối với các doanh nghiệp trẻ thông qua chính sách tín dụng dựa trên dòng tiền (CASA) và dữ liệu. Ngân hàng Nhà nước cần ban hành cơ sở pháp lý cho phép các tổ chức tín dụng đánh giá cấp vốn dựa trên lịch sử dòng tiền mặt (CASA), dữ liệu giao dịch điện tử và hợp đồng đối tác, thay vì chỉ yêu cầu tài sản thế chấp. Điều này sẽ cởi trói cho các startup công nghệ và dịch vụ – những đơn vị vốn dĩ chỉ có tài sản vô hình.    

Tiếp đến, cần xây dựng cơ chế Quỹ vốn đối ứng (Matching Fund) để khuyến khích các doanh nghiệp trẻ. Việc Nhà nước trực tiếp rót vốn cho startup (thường đi kèm thủ tục giải ngân công phức tạp) nên được thay bằng mô hình vốn đối ứng sẽ hiệu quả hơn. Khi một startup huy động được 1 đồng từ quỹ đầu tư mạo hiểm (VC) uy tín, Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của Nhà nước sẽ tự động đối ứng tỷ lệ 1:1 hoặc 1:2 bằng vốn vay ưu đãi. Quỹ VC khi đó sẽ đóng vai trò công cụ thẩm định thay cho Nhà nước.        

Đối với tín dụng thuế cho R&D và công nghệ lõi, thay vì chỉ miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (thường thì startup những năm đầu hiếm khi có vì đang chịu lỗ), chính sách cần áp dụng “hoàn tiền thuế” (Tax Credit) trực tiếp đối với các khoản chi phí mà doanh nghiệp đã đầu tư để nghiên cứu công nghệ lõi, tự động hóa quy trình, hoặc ứng dụng AI vào vận hành.       

Ba là, chính sách đổi mới sáng tạo và cải tiến quản trị – trợ lực “mềm” cho quá trình khởi nghiệp. Trong kỷ nguyên mới, đối với người trẻ khởi nghiệp, công nghệ và quản trị là vũ khí để cạnh tranh và tối ưu hóa bộ máy. Do đó, Nhà nước cần có ưu tiên chính sách mua sắm công đối với các doanh nghiệp trẻ có sản phẩm “Make in Vietnam”. Nhà nước và các tập đoàn kinh tế Nhà nước theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW cần dành một tỷ lệ ngân sách nhất định để đặt hàng hoặc ưu tiên mua các giải pháp công nghệ, phần mềm quản trị từ các doanh nghiệp startup trong nước, thay vì mặc định đấu thầu mua của nước ngoài.

Bên cạnh đó, Nhà nước cần có sự trợ giá cho quá trình chuyển đổi số và quản trị tinh gọn cho các doanh nghiệp trẻ. Cung cấp các gói hỗ trợ cho các doanh nghiệp trẻ triển khai các nền tảng quản trị mục tiêu (MBO), phần mềm kế toán số, hay hệ thống CRM tự động hóa. Việc Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp chuẩn hóa dữ liệu ngay từ đầu chính là cách giúp họ dễ dàng minh bạch tài chính để gọi vốn sau này.

Đối với chính sách bồi dưỡng năng lực từ giảng đường, Nhà nước cần xây dựng cơ chế liên kết bắt buộc giữa các học viện, viện nghiên cứu, các trường đại học với hệ sinh thái doanh nghiệp trẻ. Cấp kinh phí cho các đề tài nghiên cứu (đặc biệt trong lĩnh vực quản lý kinh tế, quản trị nhân sự) có sự tham gia đặt hàng trực tiếp từ các doanh nghiệp thực tế, biến giảng đường thành trung tâm R&D cho khối SME.  

Để các chính sách đi vào thực tiễn, đòi hỏi phải có sự quan tâm vào cuộc của các bộ, ban, ngành các cấp trong quá trình tổ chức và thực hiện. Có như vậy, việc triển khai chính sách mới khả thi và mang lại cơ hội thành công cho người trẻ trong quá trình khởi nghiệp khi bước vào kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.

6. Kết luận

Từ những luận chứng trên cho thấy, sự thành công hay thất bại của người trẻ trong quá trình khởi nghiệp có nhiều nguyên nhân khác nhau. Tuy nhiên, một thực tế không thể phủ nhận được rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tạo mọi điều kiện cho các doanh nghiệp ngoài nhà nước trong quá trình kinh doanh, nhất là người trẻ khởi nghiệp. Do đó, Nghị quyết số 79-NQ/TW không phải là rào cản đối với người trẻ trong quá trình khởi nghiệp.

Để thế hệ doanh nghiệp trẻ thực sự cất cánh, cần một nhận thức đúng đắn về tư duy chiến lược và tầm nhìn thực tiễn về mối quan hệ giữa bệ phóng vĩ mô và nội lực vi mô. Trong đó, hệ thống chính sách cần phải chuyển mình từ kiểm soát, quản lý sang kiến tạo, định hướng, thông qua việc khơi thông các nguồn vốn đối ứng, linh hoạt hóa thủ tục hành chính và tạo ra các không gian pháp lý mới thử nghiệm. Khi một hành lang pháp lý cởi mở gặp gỡ một thế hệ doanh nhân trẻ mang tư duy quản trị hiện đại, linh hoạt và đầy trách nhiệm xã hội thì hoàn toàn có cơ sở để tin vào sự trỗi dậy của những thương hiệu mang tinh thần “Make in Vietnam”. Họ sẽ không chỉ tồn tại mà còn đủ sức vươn tầm, định hình lại các tiêu chuẩn dịch vụ và kiến tạo nên một tương lai vững chắc, phồn vinh cho nền kinh tế nước nhà.

Tài liệu tham khảo:
Báo Chính phủ (2025).  Toàn văn Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. https://baochinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-68-nq-tw-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-102250505122337909.htm vào ngày 19/07/2026.
Bảo Ngọc (2025). Hàng tỷ USD đầu tư vào lĩnh vực đổi mới sáng tạo đến từ đâu? Báo Tuổi trẻ. https://tuoitre.vn/hang-ti-usd-dau-tu-vao-linh-vuc-doi-moi-sang-tao-den-tu-dau-20250422132243879.htm
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đỗ Nga (19/9/2025). Doanh nghiệp Việt trước thách thức liên kết chuỗi cung ứng toàn cầu. https://moit.gov.vn/tin-tuc/xuc-tien-thuong-mai/doanh-nghiep-viet-truoc-thach-thuc-lien-ket-chuoi-cung-ung-toan-cau.html
Hải Băng (2025).227.200 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong năm 2025. Tạp chí Người Quan sát. https://nguoiquansat.vn/227-200-doanh-nghiep-rut-lui-khoi-thi-truong-trong-nam-2025-264850.html
Hải Nam (2026). Gần 19.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường mỗi tháng. Tạp chí Tài chính doanh nghiệp. https://taichinhdoanhnghiep.net.vn/gan-19000-doanh-nghiep-rut-lui-khoi-thi-truong-moi-thang-d63901.html
Hoài Phương & Thái Hưng (2026).96.000 doanh nghiệp Việt gia nhập thị trường trong quý I/2026. Báo VnExpress. https://vnexpress.net/96-000-doanh-nghiep-viet-gia-nhap-thi-truong-trong-quy-i-2026-5060571.html
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2024). Việt Nam tăng 15 bậc về Chính phủ điện tử. https://vjst.vn/viet-nam-tang-15-bac-ve-chinh-phu-dien-tu-72060.html
Thy An (2021). Doanh nghiệp tạo tác động xã hội hướng đến cân bằng bền vững. Báo VnExpress. https://vnexpress.net/doanh-nghiep-tao-tac-dong-xa-hoi-huong-den-can-bang-ben-vung-4384527.html
Trọng Đạt (2025). Dòng tiền đổ vào startup AI Việt tăng 8 lần. Báo VnExpress. https://vnexpress.net/dong-tien-do-vao-startup-ai-viet-tang-8-lan-4877687.html
VCCI & USAID (2023), Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2022.
VCCI (06/11/2025). Ngân hàng nghĩ khác về SME, doanh nghiệp nhỏ sắp qua thời “khát vốn”. https://vcci.com.vn/news/ngan-hang-nghi-khac-ve-sme-dn-nho-sap-qua-thoi-khat-von
Việt Linh (2026). Năm 2025, gần 50% doanh nghiệp chỉ “lãi chút ít”. Báo Tiền phong.  https://tienphong.vn/nam-2025-gan-50-doanh-nghiep-chi-lai-chut-it-post1811290.tpo.