Phát huy tính năng động chủ quan của cán bộ cấp xã trong xây dựng phương pháp làm việc khoa học

Promoting the proactive subjective agency of commune-level cadres in developing scientific working methods

NCS, ThS. Nguyễn Thanh Nga
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: thanhnganapa2016@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách hành chính và chuyển đổi số, yêu cầu đối với tính chủ động và phương pháp làm việc của cán bộ cấp xã ngày càng cao. Trên cơ sở tiếp cận duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, bài viết làm rõ nội hàm tính năng động chủ quan và mối quan hệ với phương pháp làm việc khoa học. Bài viết khẳng định tính năng động chủ quan không đồng nhất với kỹ năng hành chính hay kỹ năng số mà thể hiện ở khả năng chủ động huy động tri thức, năng lực và công cụ để nhận thức, tổ chức và điều chỉnh hoạt động. Phương pháp làm việc khoa học là phương thức hiện thực hóa và định hướng tính năng động đó. Từ phân tích lý luận và thực tiễn, bài viết đề xuất một số giải pháp phát huy tính năng động chủ quan của cán bộ cấp xã.

Từ khóa: Tính năng động chủ quan; nhân tố chủ quan; cán bộ cấp xã; phương pháp làm việc khoa học; chính quyền địa phương hai cấp.

Abstract: As Vietnam implements a two-tier local government model alongside deeper decentralization, administrative reform, and digital transformation, commune-level officials are facing increasing demands for greater initiative, adaptability, and more systematic ways of working. Drawing on a dialectical materialist perspective on the relationship between objective conditions and subjective factors, this article examines the concept of subjective dynamism and its relationship with scientific working methods. It argues that subjective dynamism should not be understood simply as a set of administrative or digital skills. Rather, it refers to the capacity of officials to actively mobilize knowledge, competencies, experience, and available tools to interpret practical situations, organize action, and adjust their approach when circumstances change. Scientific working methods provide the framework through which such initiative can be translated into purposeful, evidence-based, and accountable action. Based on theoretical discussion and practical evidence, the article proposes several measures to strengthen subjective dynamism among commune-level officials.

Keywords: Subjective dynamism; subjective factors; commune-level officials; scientific working methods; two-tier local government.

1. Đặt vấn đề

Cấp xã là cấp chính quyền trực tiếp tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật và giải quyết nhiều vấn đề phát sinh trong đời sống của người dân. Từ ngày 01/7/2025, mô hình chính quyền địa phương hai cấp được vận hành trên phạm vi toàn quốc. Sau sắp xếp, cả nước có 3.321 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 2.621 xã, 687 phường và 13 đặc khu, giảm 66,91% so với trước (Nguyễn Thị Quỳnh & Trần Thị Ngọc Khuyên, 2026). Việc mở rộng địa bàn, dân số và phạm vi nhiệm vụ ở nhiều đơn vị cấp xã làm thay đổi đáng kể môi trường và phương thức thực thi công vụ ở cơ sở.

Theo số liệu Bộ Nội vụ, tính đến ngày 31/12/2024, cả nước có trên 212.600 cán bộ, công chức cấp xã, trong đó 92,4% tốt nghiệp đại học trở lên (Thu Giang, 2025). Tuy nhiên, trình độ đào tạo không đồng nghĩa trực tiếp với năng lực xử lý công việc trong điều kiện mới. Cán bộ còn phải có khả năng tổ chức, phối hợp, xử lý tình huống, sử dụng dữ liệu, ứng dụng công nghệ và thích ứng với nhiệm vụ được phân cấp, phân quyền.

Áp lực thực thi thể hiện rõ qua số lượng thủ tục hành chính. Theo Nghị quyết số 268/NQ-CP ngày 31/8/2025 của Chính phủ, từ ngày 01/7 – 23/8/2025, 34 tỉnh, thành phố tiếp nhận khoảng 6,5 triệu hồ sơ, trong đó cấp xã khoảng 4,8 triệu; 73,8% hồ sơ được tiếp nhận trực tuyến. Cùng thời gian, 9.916 phòng chuyên môn cấp xã đã được thành lập và đi vào hoạt động (Chính phủ, 2025). Những số liệu này cho thấy khối lượng và yêu cầu xử lý công việc ở cấp xã rất lớn.

Trong điều kiện đó, cán bộ cấp xã không chỉ cần kiến thức và trách nhiệm mà còn phải biết tổ chức công việc bằng phương pháp khoa học. Nhiệt tình nhưng thiếu kế hoạch, không xác định đúng trọng tâm, máy móc dựa vào kinh nghiệm hoặc thiếu kiểm tra, tổng kết đều có thể làm giảm hiệu quả; ngược lại, nắm chắc quy định nhưng thụ động, thiếu linh hoạt cũng khó đáp ứng yêu cầu quản trị. Vì vậy, phương pháp làm việc khoa học là điều kiện để chuyển tri thức, trách nhiệm và kinh nghiệm thành kết quả công vụ.

Vấn đề này gắn trực tiếp với tính năng động chủ quan của người cán bộ. Bài viết tập trung làm rõ luận điểm: tính năng động chủ quan là động lực để cán bộ nhận thức, lựa chọn và tổ chức hành động; phương pháp làm việc khoa học là phương thức để chuyển động lực đó thành kết quả công vụ có thể kiểm chứng. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, logic – lịch sử và tiếp cận duy vật biện chứng; đồng thời, đối chiếu văn bản pháp luật, báo cáo chính thức, nghiên cứu gần đây và một số trường hợp thực tiễn ở cấp xã.

2. Cơ sở lý luận về tính năng động chủ quan và phương pháp làm việc khoa học

Theo quan điểm duy vật biện chứng, hoạt động của con người luôn diễn ra trong những điều kiện khách quan xác định. Điều kiện khách quan tạo môi trường, tiền đề, giới hạn và những khả năng cho hoạt động, nhưng việc những khả năng đó có trở thành hiện thực hay không còn phụ thuộc vào nhận thức, ý chí, năng lực và hoạt động của chủ thể. Do đó, khi xem xét hiệu quả hoạt động của cán bộ cấp xã cần tránh cả hai khuynh hướng: tuyệt đối hóa điều kiện khách quan và coi chủ thể hoàn toàn bị động; hoặc tuyệt đối hóa ý chí chủ quan mà xem nhẹ hoàn cảnh, quy luật và giới hạn pháp lý.

Đỗ Thái Huy (2018) cho rằng, nhân tố chủ quan gồm những mặt, yếu tố và thuộc tính thuộc về chủ thể, trực tiếp tham gia vào hoạt động và tác động đến tính tích cực, sáng tạo, hiệu quả của hoạt động, trong đó không chỉ có ý thức mà còn có hoạt động, phẩm chất, năng lực và trạng thái của chủ thể. Từ đó, cần phân biệt nhân tố chủ quan với tính năng động chủ quan. Nhân tố chủ quan phản ánh những yếu tố thuộc về chủ thể; còn tính năng động chủ quan thể hiện mức độ các yếu tố ấy được huy động và chuyển hóa thành sự tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo trong thực tiễn.

Theo hướng tiếp cận này, có thể hiểu tính năng động chủ quan của cán bộ cấp xã là sự biểu hiện tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo của tri thức, ý chí, phẩm chất, năng lực và hoạt động trong quá trình nhận thức, lựa chọn, tổ chức và điều chỉnh phương thức thực hiện nhiệm vụ trên cơ sở tôn trọng điều kiện khách quan, thực tiễn, pháp luật và thẩm quyền được giao. Vì vậy, tính năng động không đồng nghĩa với làm nhanh, làm nhiều hay chỉ đơn thuần là “dám nghĩ, dám làm”, mà cốt lõi ở khả năng nhận thức đúng vấn đề, lựa chọn phương án phù hợp, thích ứng với thay đổi và chịu trách nhiệm về quyết định.

Cần phân biệt tính năng động chủ quan với năng lực và kỹ năng cụ thể của cán bộ. Kỹ năng hành chính, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng số hay khả năng sử dụng dữ liệu là những năng lực và công cụ mà chủ thể có thể sở hữu; còn tính năng động chủ quan thể hiện ở cách chủ thể tự giác, chủ động huy động, kết hợp và điều chỉnh các năng lực, công cụ đó trước yêu cầu của thực tiễn. Vì vậy, hai cán bộ có trình độ chuyên môn hoặc kỹ năng số tương đương vẫn có thể khác nhau về mức độ chủ động phát hiện vấn đề, lựa chọn phương án, phối hợp nguồn lực và tự điều chỉnh cách làm. Sự phân biệt này giúp tránh đồng nhất phạm trù triết học về tính năng động chủ quan với một danh mục kỹ năng hành chính.

Phương pháp làm việc là cách thức chủ thể lựa chọn để thực hiện nhiệm vụ và đạt mục tiêu. Một cách làm quen thuộc chưa chắc đã khoa học. Phương pháp làm việc khoa học phải xuất phát từ nhận thức đúng về đối tượng, mục tiêu và điều kiện; được tổ chức hợp lý, có căn cứ thực tiễn và có khả năng kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp và phong cách làm việc nhấn mạnh việc xác định rõ mục đích, nội dung, kế hoạch, biện pháp; kế hoạch phải sát thực, có trọng tâm, gắn với thực tiễn, kiểm tra và tổng kết (Bùi Mạnh Hùng, 2021).

Từ đó, có thể xác định phương pháp làm việc khoa học của cán bộ cấp xã là hệ thống cách thức, biện pháp và trình tự được lựa chọn, tổ chức, vận dụng có mục đích, có căn cứ và kế hoạch, phù hợp pháp luật, điều kiện khách quan và thực tiễn địa phương nhằm thực hiện chức trách, nhiệm vụ với chất lượng và hiệu quả cao. Phương pháp đó cần bảo đảm tính khách quan, mục tiêu, kế hoạch, lịch sử – cụ thể, hệ thống, linh hoạt, phối hợp, kiểm tra và tự điều chỉnh.

Điểm cần nhấn mạnh là phương pháp làm việc khoa học không đồng nhất với việc tuân thủ cứng nhắc một quy trình có sẵn. Tính khoa học thể hiện ở việc chủ thể biết xác định đúng vấn đề, lựa chọn căn cứ thích hợp, tổ chức công việc theo trình tự hợp lý và sẵn sàng điều chỉnh khi điều kiện thay đổi. Vì vậy, phương pháp khoa học luôn bao hàm cả tính nguyên tắc và tính linh hoạt: nguyên tắc ở chỗ phải tôn trọng pháp luật, mục tiêu, dữ liệu và trách nhiệm; linh hoạt ở chỗ biết vận dụng cái chung vào từng tình huống cụ thể. Đây cũng là cơ sở để phân biệt sáng tạo trong công vụ với xử lý tùy tiện theo kinh nghiệm hoặc mong muốn cá nhân.

Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu này càng rõ. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 xác định nguyên tắc phân định rõ thẩm quyền, đẩy mạnh phân quyền, phân cấp và gắn với trách nhiệm giải trình (Quốc hội, 2025b, khoản 2, 5 và 6 Điều 4, khoản 1 – 2 Điều 11). Luật Cán bộ, công chức năm 2025 quản lý công chức theo vị trí việc làm; các quy định tại Mục 3 Chương IV về đánh giá công chức được thực hiện từ ngày 01/01/2026 (Quốc hội, 2025a, khoản 2 Điều 44). Vì vậy, tự tổ chức công việc, chủ động trong phạm vi thẩm quyền và chịu trách nhiệm về kết quả ngày càng trở thành bộ phận quan trọng của năng lực công vụ.

Tính năng động chủ quan và phương pháp làm việc khoa học có quan hệ biện chứng. Tính năng động tạo động lực để cán bộ chủ động nhận diện vấn đề, lựa chọn khả năng và tổ chức hành động; phương pháp khoa học lại giúp sự chủ động ấy dựa trên thông tin, căn cứ, kế hoạch, phối hợp, kiểm tra và trách nhiệm. Do đó, phương pháp làm việc khoa học không làm giảm tính sáng tạo mà tạo khuôn khổ để tính năng động chủ quan được hiện thực hóa phù hợp với điều kiện khách quan và mục tiêu công vụ. Đây là luận điểm trung tâm để phân biệt sự chủ động, sáng tạo có căn cứ với chủ quan duy ý chí.

3. Tính năng động chủ quan của cán bộ cấp xã trong thực tiễn xây dựng phương pháp làm việc khoa học

Trong thực tiễn, tính năng động chủ quan xuyên suốt toàn bộ quá trình nhận thức và tổ chức công việc. Trước hết, nó thể hiện ở khả năng chủ động nắm bắt thực tiễn và xác định đúng vấn đề. Đối với cán bộ cấp xã, điều này không chỉ là tiếp nhận hồ sơ hay đọc báo cáo mà còn đòi hỏi chủ động tiếp cận địa bàn, tương tác với người dân, lắng nghe phản ánh, tham vấn khi cần thiết, thu thập và kiểm chứng thông tin trước khi lựa chọn cách xử lý. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh yêu cầu kiểm tra phải “đi tận nơi, xem tận chỗ” và phát huy vai trò của quần chúng trong kiểm soát công việc (Hồ Chí Minh, 2011, tr. 327-328). Trong môi trường số, nắm bắt thực tiễn còn bao gồm khai thác dữ liệu hành chính, theo dõi tiến độ hồ sơ và nhận diện điểm nghẽn. Như vậy, người dân không chỉ là đối tượng nhận kết quả công vụ mà còn là nguồn thông tin và phản hồi quan trọng giúp cán bộ nhận diện đúng vấn đề và điều chỉnh phương pháp làm việc.

Một minh chứng thực tiễn cho cách chủ động lựa chọn phương thức tương tác với người dân được ghi nhận tại thành phố Hải Phòng trong giai đoạn đầu vận hành mô hình hai cấp. Ví dụ, mô hình nhóm cộng đồng trên Zalo và mạng xã hội của Trung tâm Phục vụ hành chính công đã tư vấn trực tuyến hơn 1.000 lượt sau hai tháng, góp phần giảm lượng người phải đến trụ sở và hỗ trợ phân luồng hồ sơ; đồng thời, một số địa phương triển khai mô hình “Ngày không viết”, theo đó công chức tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hỗ trợ người dân hoàn thiện giấy tờ, hồ sơ trong phạm vi pháp luật cho phép (Quỳnh Chi, 2025). Trường hợp này cho thấy, tính năng động chủ quan không nằm ở bản thân công nghệ hay một kỹ năng đơn lẻ mà ở việc cán bộ chủ động lựa chọn công cụ, tổ chức lại cách tương tác và điều chỉnh phương thức phục vụ từ nhu cầu thực tế của người dân.

Tính năng động còn thể hiện ở khả năng kết hợp lý luận, pháp luật và kinh nghiệm với điều kiện cụ thể. Kinh nghiệm thực tiễn có giá trị nhưng không thể trở thành khuôn mẫu bất biến. Nguyễn Thị Nội (2011) chỉ ra bệnh kinh nghiệm về bản chất là sự cường điệu, tuyệt đối hóa tri thức kinh nghiệm và coi thường tri thức lý luận. Yêu cầu này càng rõ khi thể chế thay đổi nhanh (từ ngày 01/6 – 23/8/2025), Chính phủ đã ban hành 112 nghị định và nghị quyết quy phạm pháp luật phục vụ vận hành mô hình mới (Chính phủ, 2025). Cán bộ phải thường xuyên cập nhật quy định, đối chiếu thẩm quyền mới và xem xét kinh nghiệm nào còn phù hợp. Phát huy tính năng động không phải phủ nhận kinh nghiệm, mà là biết phân tích, khái quát và điều chỉnh kinh nghiệm trước những điều kiện mới.

Một biểu hiện quan trọng khác là năng lực xác định mục tiêu, lựa chọn phương án, lập kế hoạch và tổ chức phối hợp. Tính năng động không được đo bằng mức độ bận rộn mà bằng khả năng xác định đúng ưu tiên, đầu ra, nguồn lực, thời gian, chủ thể phối hợp, trách nhiệm và rủi ro. Có thể khái quát bằng nguyên tắc: rõ mục tiêu – rõ việc – rõ người – rõ thời gian – rõ trách nhiệm – rõ kết quả. Trong hoạt động cấp xã, phần lớn vấn đề còn đòi hỏi phối hợp giữa các phòng chuyên môn, tổ chức chính trị – xã hội, cơ quan liên quan và người dân. Trong phạm vi pháp luật, cán bộ cần chủ động lựa chọn cách thức phù hợp, cải tiến xử lý thông tin, ứng dụng công nghệ và đổi mới phối hợp. Năng lực chủ động tổ chức công việc vì thế cần được nhìn nhận như một bộ phận cụ thể của năng lực công vụ.

Ở khâu lựa chọn và tổ chức thực hiện, yêu cầu quan trọng là biến quyền chủ động thành năng lực ra quyết định có căn cứ và có thể giải trình. Tâm lý quá thiên về an toàn có thể dẫn đến chờ đợi, né tránh; ngược lại, quyết định thiếu căn cứ làm tăng rủi ro trong thực thi công vụ. Luật Cán bộ, công chức năm 2025 quy định đánh giá công chức gắn với số lượng, chất lượng và tiến độ của kết quả, sản phẩm theo vị trí việc làm (Quốc hội, 2025a). Quy định này tạo cơ sở để tăng cường trách nhiệm của công chức đối với kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trong môi trường số, việc 73,8% trong khoảng 6,5 triệu hồ sơ tại 34 tỉnh, thành phố giai đoạn 01/7 – 23/8/2025 được tiếp nhận trực tuyến cho thấy dữ liệu và nền tảng số đã trở thành bộ phận thường xuyên của công vụ cấp xã (Chính phủ, 2025).

Trong bối cảnh này, kỹ năng số cần được nhìn đúng vị trí: đó là công cụ hỗ trợ chứ không phải bản thân tính năng động chủ quan. Một cán bộ có thể sử dụng thành thạo phần mềm nhưng vẫn làm việc thụ động nếu chỉ lặp lại quy trình cũ; ngược lại, tính năng động thể hiện ở việc biết dùng dữ liệu để phát hiện điểm nghẽn, đối chiếu thông tin, đề xuất cách xử lý, phối hợp với bộ phận liên quan và điều chỉnh phương thức phục vụ. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là nâng kỹ năng công nghệ mà còn phát triển tư duy dữ liệu, ý thức trách nhiệm và khả năng tự học để biến công nghệ thành công cụ cải tiến công việc.

Tính năng động chủ quan còn thể hiện ở khả năng kiểm tra, tiếp nhận phản hồi và tự điều chỉnh. Một phương pháp chỉ thực sự khoa học khi kết quả được kiểm nghiệm bằng thực tiễn. Đối với cấp xã, phản hồi của người dân, dữ liệu về thời gian xử lý, tỷ lệ đúng hạn, phản ánh – kiến nghị và những lỗi lặp lại là nguồn căn cứ để đánh giá cách tổ chức công việc. Từ các phân tích trên, có thể khái quát một chu trình thống nhất: nắm bắt thực tiễn và tương tác với người dân → xác định vấn đề → phân tích căn cứ và điều kiện → xác định mục tiêu → lựa chọn phương án → tổ chức phối hợp thực hiện → kiểm tra, tiếp nhận phản hồi → đánh giá, điều chỉnh và tổng kết. Chu trình này không phải thủ tục cứng nhắc mà là khung tư duy giúp cán bộ liên tục chuyển thông tin thực tiễn thành quyết định và biến kết quả thực hiện thành kinh nghiệm mới.

Tuy nhiên, hiệu quả của chu trình này không chỉ phụ thuộc vào nỗ lực cá nhân mà còn chịu tác động của cơ chế phân công, phạm vi thẩm quyền, điều kiện làm việc, đánh giá, cơ hội học tập và văn hóa tổ chức. Nếu trách nhiệm không rõ, cán bộ khó chủ động; nếu đánh giá hình thức, sáng kiến và nỗ lực cải tiến khó được ghi nhận; nếu môi trường không khuyến khích trao đổi, phản biện, khả năng sáng tạo cũng bị hạn chế. Vì vậy, phát huy tính năng động chủ quan phải tác động vào chủ thể và cải thiện điều kiện tổ chức để sự chủ động có không gian phát triển nhưng vẫn được định hướng, kiểm soát và đánh giá bằng kết quả.

Nhìn tổng thể, tính năng động chủ quan không phải một phẩm chất trừu tượng mà được biểu hiện ở cách cán bộ huy động tri thức, kỹ năng, công nghệ, kinh nghiệm và quan hệ với người dân để giải quyết nhiệm vụ cụ thể. Vì vậy, đánh giá tính năng động không nên dựa vào mức độ “bận rộn” hay số sáng kiến được nêu ra, mà cần xem xét chất lượng nhận diện vấn đề, căn cứ của quyết định, khả năng phối hợp, mức độ tự điều chỉnh và kết quả phục vụ. Cách tiếp cận này đồng thời làm rõ mối liên hệ giữa nền tảng triết học về vai trò chủ thể với những kỹ năng hành chính cụ thể trong quản trị cơ sở.

4. Giải pháp phát huy tính năng động chủ quan của cán bộ cấp xã trong xây dựng phương pháp làm việc khoa học

Thứ nhất, trọng tâm của giải pháp phải đặt vào bản thân cán bộ cấp xã với tư cách chủ thể trực tiếp của hoạt động công vụ. Mỗi cán bộ cần hình thành nhu cầu tự học và tự hoàn thiện phương pháp làm việc, thường xuyên cập nhật pháp luật, tri thức chuyên môn, công nghệ và những biến đổi của địa bàn; đồng thời rèn luyện tư duy khách quan, lịch sử – cụ thể, hệ thống và phản biện. Việc học lý luận không dừng ở ghi nhớ khái niệm mà phải giúp cán bộ biết đặt câu hỏi, phân tích nguyên nhân, nhận diện giới hạn của kinh nghiệm cá nhân và lựa chọn căn cứ phù hợp khi xử lý tình huống. Tự rèn luyện như vậy chính là quá trình làm giàu nhân tố chủ quan để sự chủ động có cơ sở tri thức và phương pháp, thay vì chỉ dựa vào nhiệt tình hay thói quen.

Thứ hai, cán bộ cần chủ động xây dựng phương pháp làm việc lấy thực tiễn và người dân làm điểm kiểm chứng. Điều này đòi hỏi duy trì việc đi cơ sở, lắng nghe, trao đổi, tham vấn đối tượng chịu tác động; chủ động xác định vấn đề trước khi lựa chọn giải pháp; tổ chức công việc theo mục tiêu, ưu tiên, thời hạn và trách nhiệm rõ ràng. Trong môi trường số, cán bộ cần sử dụng dữ liệu và nền tảng công nghệ như phương tiện để rút ngắn khoảng cách với người dân, theo dõi tiến độ, phát hiện điểm nghẽn và phối hợp xử lý, chứ không coi việc sử dụng phần mềm là mục tiêu tự thân. Những cách làm như tư vấn trực tuyến hoặc hỗ trợ người dân hoàn thiện hồ sơ tại Hải Phòng cho thấy giá trị của việc lựa chọn công cụ xuất phát từ nhu cầu thực tế (Quỳnh Chi, 2025).

Thứ ba, cần hình thành năng lực tự kiểm tra, tự đánh giá và tổng kết thực tiễn như một thói quen nghề nghiệp. Sau mỗi nhiệm vụ, cán bộ cần đối chiếu kết quả với mục tiêu, tiến độ và phản hồi của người dân; xác định nguyên nhân của điểm nghẽn, sai sót hoặc kết quả chưa đạt; từ đó điều chỉnh cách tổ chức công việc ở lần tiếp theo. Việc tự đánh giá phải dựa trên bằng chứng như dữ liệu hồ sơ, thời gian xử lý, tỷ lệ đúng hạn, phản ánh – kiến nghị và mức độ hài lòng, tránh tự đánh giá theo cảm tính. Khi kinh nghiệm được phân tích và khái quát thường xuyên, cán bộ vừa tích lũy tri thức thực tiễn vừa hạn chế nguy cơ kinh nghiệm chủ nghĩa, đồng thời nâng cao khả năng thích ứng với những thay đổi của thể chế và công nghệ.

Bên cạnh nỗ lực tự thân của cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng cần được thiết kế để hỗ trợ trực tiếp quá trình hình thành phương pháp làm việc khoa học. Nghị quyết số 268/NQ-CP nêu rõ các bộ, ngành đã tổ chức các hội nghị tập huấn với hơn 3.300 điểm cầu trực tuyến trên toàn quốc, cập nhật quy định mới và nâng cao năng lực quản lý cho hàng chục nghìn cán bộ, công chức, viên chức (Chính phủ, 2025). Vấn đề cần tiếp tục là chuyển trọng tâm từ truyền đạt quy định sang rèn năng lực giải quyết tình huống: xác định vấn đề, kiểm chứng thông tin, xác định căn cứ pháp lý và thẩm quyền, lựa chọn phương án, giải thích quyết định, phối hợp và đánh giá kết quả. Các bài tập tình huống, hồ sơ thực tế đã ẩn danh, mô phỏng và trao đổi kinh nghiệm giữa địa phương sẽ giúp người học luyện chính chu trình tư duy đã được xác định ở mục 3 thay vì học thêm một quy trình tách biệt.

Thứ tư, cần hoàn thiện các điều kiện tổ chức để sự chủ động của cán bộ có không gian phát huy nhưng được kiểm soát bằng trách nhiệm. Luật Cán bộ, công chức năm 2025 xác lập quản lý công chức theo vị trí việc làm; các quy định về đánh giá công chức tại Mục 3 Chương IV được thực hiện từ ngày 01/01/2026 (Quốc hội, 2025a). Trên cơ sở đó, cần làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm, quan hệ phối hợp và kết quả đầu ra của từng vị trí; đánh giá không chỉ việc “hoàn thành hay chưa” mà còn chất lượng, tiến độ, khả năng phối hợp, sử dụng nguồn lực, giải quyết tình huống, sáng kiến phù hợp và phản hồi của người dân. Đồng thời, người đứng đầu cần tạo môi trường khuyến khích trao đổi, phản biện, chia sẻ kinh nghiệm và đề xuất cách làm mới; việc ghi nhận sáng kiến phải gắn với tính hợp pháp, hiệu quả thực tế và khả năng kiểm chứng. Sự kết hợp giữa tự rèn luyện của cán bộ và môi trường tổ chức phù hợp là điều kiện để tính năng động chủ quan phát triển bền vững, không bị biến thành áp lực cá nhân hoặc hành động tùy tiện.

5. Kết luận

Từ cách tiếp cận duy vật biện chứng, tính năng động chủ quan không đồng nhất với kỹ năng hay công nghệ mà là cách chủ thể tự giác, chủ động và sáng tạo huy động tri thức, năng lực, kinh nghiệm và công cụ để tác động vào những điều kiện khách quan xác định. Phương pháp làm việc khoa học là hình thức giúp quá trình đó có căn cứ, có tổ chức, có kiểm chứng và có khả năng tự điều chỉnh. Vì thế, phát huy tính năng động chủ quan không phải làm cho cán bộ “năng động hơn” theo nghĩa chung, mà là nâng chất lượng của sự chủ động và khả năng chuyển nó thành kết quả phục vụ có thể đánh giá.

Theo đó, trọng tâm trước hết thuộc về bản thân cán bộ cấp xã: tự học, tự rèn tư duy, chủ động tương tác với người dân, tổ chức công việc, sử dụng dữ liệu và thường xuyên tự kiểm tra, tổng kết. Đồng thời, những nỗ lực ấy cần được hỗ trợ bởi thẩm quyền rõ, đào tạo phù hợp, cơ chế phối hợp, đánh giá theo kết quả và môi trường khuyến khích sáng kiến có trách nhiệm. Sự thống nhất giữa yếu tố chủ quan và điều kiện khách quan là cơ sở để phương pháp làm việc ngày càng khoa học và để tính chủ động, sáng tạo đóng góp thực chất vào chất lượng hoạt động của chính quyền cơ sở.

Tài liệu tham khảo:
Bùi Mạnh Hùng (26/5/2021). Bồi dưỡng phương pháp làm việc khoa học cho đội ngũ cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/822302/boi-duong-phuong-phap-lam-viec-khoa-hoc-cho-doi-ngu-can-bo–theo-tu-tuong-ho-chi-minh.aspx
Chính phủ (31/8/2025). Nghị quyết số 268/NQ-CP ngày 31/8/2025 về tình hình triển khai thực hiện và vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp.
Đỗ Thái Huy. (2018). Phát huy vai trò của nhân tố chủ quan trong xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở đồng bằng sông Hồng hiện nay [Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh]. Thư viện Quốc gia, tr. 38-40. http://thuvienso.quochoi.vn/handle/11742/62007
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 5). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Nguyễn Thị Nội (2011). Ảnh hưởng của bệnh kinh nghiệm đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở tỉnh Thái Nguyên hiện nay [Luận văn thạc sĩ Triết học, Đại học Quốc gia Hà Nội – Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên Lý luận chính trị], tr. 18.
Quốc hội (2025a). Luật Cán bộ, công chức năm 2025.
Quốc hội (2025b). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Quỳnh Chi (13/9/2025). Sáng tạo trong vận hành chính quyền địa phương hai cấp. Nhân Dân. https://nhandan.vn/sang-tao-trong-van-hanh-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap-post907791.html
Thu Giang (05/4/2025). Đề xuất giữ nguyên số lượng biên chế công chức xã đến khi hoàn thành cơ cấu lại. Báo Chính phủ. https://baochinhphu.vn/de-xuat-giu-nguyen-so-luong-bien-che-cong-chuc-xa-den-khi-hoan-thanh-co-cau-lai-102250405105543449.htm