Nhân tố ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của đảng bộ các trường đại học tại TP. Hồ Chí Minh trong giáo dục quốc phòng, an ninh cho sinh viên

Factors influencing the leadership role of Party committees at universities in Ho Chi Minh City in national defense and security education for students

ThS. Phạm Anh Vĩnh
Trường Đại học Sài Gòn
Mail: pavinh@sgu.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Giáo dục quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ chính trị quan trọng trong các trường đại học, trong đó Đảng bộ giữ vai trò lãnh đạo, định hướng và chỉ đạo thực hiện. Nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng, an ninh cho sinh viên đòi hỏi phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng bộ và nhận diện những nhân tố ảnh hưởng đến vai trò này. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của Đảng bộ, đồng thời đánh giá thực trạng trên cơ sở kết quả phỏng vấn sâu 15 cán bộ chủ chốt và khảo sát 62 giảng viên, 729 sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy, nhận thức về vị trí, vai trò của giáo dục quốc phòng và an ninh cơ bản được chú trọng, song việc cụ thể hóa chủ trương lãnh đạo thành nghị quyết, chương trình, kế hoạch và bảo đảm nguồn lực thực hiện còn hạn chế. Từ đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng bộ đối với công tác giáo dục quốc phòng, an ninh cho sinh viên, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Từ khóa: Đảng bộ; trường đại học; giáo dục quốc phòng, an ninh; sinh viên; vai trò lãnh đạo; nhân tố ảnh hưởng; TP. Hồ Chí Minh.

Abstract: National defense and security education is an important political task at universities, where Party Committees play a leading role in providing orientations and directing implementation. Improving the quality of national defense and security education for students requires strengthening the leadership role of Party Committees and identifying the factors affecting this role. Accordingly, this article analyzes the factors influencing the leadership role of Party Committees and assesses the current situation based on in-depth interviews with 15 key officials and a survey of 62 lecturers and 729 students at universities in Ho Chi Minh City. The findings show that the importance and role of national defense and security education have generally received attention. However, limitations remain in translating leadership orientations into resolutions, programs, and plans, as well as in ensuring the resources needed for implementation. On this basis, the article proposes several solutions to enhance the effectiveness of Party Committees’ leadership in national defense and security education for students, meeting the requirements of national defense and protection in the new context.

Keywords: Party Committee; university; national defense and security education; student; leadership role; influencing factors; Ho Chi Minh City.

1. Đặt vấn đề

Trong các trường đại học, Đảng bộ giữ vai trò hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác chuyên môn và công tác xây dựng Đảng của nhà trường, trong đó có giáo dục quốc phòng, an ninh cho sinh viên. Do đó, nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng, an ninh không chỉ đòi hỏi đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy mà còn phụ thuộc vào sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của Đảng bộ, bảo đảm công tác này được triển khai thống nhất, phù hợp với yêu cầu đào tạo và nhiệm vụ chính trị của nhà trường. Điều 12 Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh năm 2013 quy định giáo dục quốc phòng, an ninh trong cơ sở giáo dục đại học là môn học chính khóa, đồng thời xác định yêu cầu về kiến thức và tổ chức dạy, học đối với người học. Nghị định số 13/2014/NĐ-CP ngày 25/02/2014 của Chính phủ được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 139/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật. Thông tư số 03/2017/TT-BGDĐT quy định chương trình giáo dục quốc phòng, an ninh trong cơ sở giáo dục đại học; Thông tư liên tịch số 18/2015/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH quy định việc tổ chức dạy, học và đánh giá kết quả học tập môn học. Các quy định này là cơ sở pháp lý cho việc tổ chức thực hiện giáo dục quốc phòng, an ninh trong nhà trường; đồng thời, đặt ra yêu cầu phối hợp trong lãnh đạo, quản lý và triển khai nhiệm vụ. Trên cơ sở đó, các trường đại học đã tổ chức thực hiện giáo dục quốc phòng, an ninh cho sinh viên thông qua việc triển khai chương trình đào tạo, phối hợp với các trung tâm giáo dục quốc phòng, an ninh kiểm tra, đánh giá kết quả học tập. Trong quá trình này, Đảng bộ nhà trường giữ vai trò lãnh đạo quán triệt chủ trương, định hướng nhiệm vụ, các tổ chức và đơn vị liên quan phối hợp thực hiện, kiểm tra, giám sát quá trình triển khai.

Tuy nhiên, để làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ nhà trường, cần tiếp tục xem xét các nhân tố ảnh hưởng trên cơ sở dữ liệu thực tiễn, kết hợp khảo sát và phỏng vấn các nhóm đối tượng có liên quan. Bài viết làm rõ nội dung vai trò lãnh đạo của Đảng bộ đối với giáo dục quốc phòng, an ninh; xác định, phân tích các nhân tố ảnh hưởng và đánh giá thực trạng tại các trường đại học trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, từ đó, đề xuất giải pháp phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng bộ, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng, an ninh cho sinh viên.

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết vận dụng phương pháp luận biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng đối với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và giáo dục, kết hợp phương pháp định lượng và định tính nhằm đánh giá vai trò lãnh đạo của Đảng bộ, xác định các nhân tố ảnh hưởng và làm rõ những vấn đề đặt ra trong thực tiễn.

Phương pháp định lượng được thực hiện thông qua khảo sát bằng bảng hỏi với thang đo Likert 5 mức độ đối với 62 giảng viên và 729 sinh viên tại các cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Trong đó, số sinh viên tham gia khảo sát có 173 sinh viên Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh (HUTECH; chiếm 23,7%; 165 sinh viên Trường Đại học Sài Gòn, chiếm 22,6%; 142 sinh viên thuộc Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, chiếm 19,5%; 70 sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh, chiếm 9,6%; 67 sinh viên Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, chiếm 9,2%; 53 sinh viên Trường Đại học Thể dục Thể thao TP. Hồ Chí Minh, chiếm 7,3%; 44 sinh viên Trường Đại học Công nghệ Miền Đông, chiếm 6% và 15 sinh viên thuộc các trường khác.

Bảng hỏi gồm ba nhóm nội dung: (1) Đánh giá vai trò lãnh đạo của Đảng bộ đối với giáo dục quốc phòng, an ninh, gồm 4 thang đo với 20 biến quan sát; (2) Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng, gồm thang đo với 24 biến quan sát; (3) Đánh giá mức độ cần thiết và tính khả thi của 7 giải pháp theo thang 3 mức, trong đó điểm càng thấp thể hiện mức độ ưu tiên càng cao. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS, sử dụng thống kê mô tả, phân tích tương quan và hồi quy tuyến tính đa biến. Biến phụ thuộc là điểm trung bình của 4 thang đo P1-P4; các biến độc lập là điểm trung bình của 6 thang đo F1-F6. Nghiên cứu sử dụng Hệ số phóng đại phương sai (VIF) để xem xét đa cộng tuyến và thống kê Durbin-Watson để kiểm tra tự tương quan của phần dư. Độ tin cậy của thang đo được đánh giá bằng hệ số Cronbach’s Alpha (Cronbach, 1951) và phân tích nhân tố khám phá (EFA), điểm trung bình được diễn giải theo khoảng giá trị (5-1)/5=0,8), theo đó, mức điểm từ 4,21 – 5 được xếp vào mức đánh giá cao nhất.

Phương pháp định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu 15 cán bộ quản lý và giảng viên có kinh nghiệm, tập trung làm rõ các nhân tố ảnh hưởng và những khó khăn trong quá trình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ giáo dục quốc phòng, an ninh. Bộ câu hỏi phỏng vấn gồm 12 câu hỏi mở, tập trung vào nhận thức về vị trí, vai trò của giáo dục quốc phòng, an ninh; việc xây dựng nghị quyết, chương trình, kế hoạch; công tác lãnh đạo tổ chức thực hiện; xây dựng đội ngũ giảng viên; quản lý sinh viên; bảo đảm các điều kiện thực hiện; kiểm tra, giám sát; phối hợp giữa các lực lượng; những hạn chế, nguyên nhân và giải pháp. Nội dung phỏng vấn được ghi chép, mã hóa và phân tích theo chủ đề nhằm bổ sung, lý giải kết quả khảo sát định lượng.

Việc kết hợp hai phương pháp cho phép xem xét vai trò lãnh đạo của Đảng bộ từ cả kết quả khảo sát và ý kiến của người tham gia phỏng vấn, qua đó, nhận diện các mối liên hệ giữa những nhân tố được khảo sát và làm rõ các điều kiện ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục quốc phòng, an ninh.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ trường đại học đối với giáo dục quốc phòng, an ninh

Giáo dục quốc phòng, an ninh là một trong những nhiệm vụ chính trị của nhà trường. Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ đối với nhiệm vụ này được xem xét trên bốn nội dung chủ yếu: (1) Quán triệt, triển khai chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về giáo dục quốc phòng, an ninh; (2) Lãnh đạo triển khai nhiệm vụ, bao gồm chỉ đạo thực hiện kế hoạch, phối hợp giữa các đơn vị và bố trí nguồn lực; (3) Lãnh đạo xây dựng đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng, an ninh; (4) Kiểm tra, giám sát và kịp thời điều chỉnh việc thực hiện nhiệm vụ. Bốn nội dung này được xác định trên cơ sở yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục quốc phòng, an ninh và các quy định pháp luật có liên quan.

Các nội dung trên được cụ thể hóa thành bốn thang đo từ P1-P4 để đánh giá thực trạng vai trò lãnh đạo của Đảng bộ, đồng thời làm cơ sở xem xét mối liên hệ giữa các nhân tố liên quan với vai trò lãnh đạo.

3.2. Các nhân tố liên quan và kiểm định thang đo

Các nhân tố liên quan đến vai trò lãnh đạo của Đảng bộ đối với công tác giáo dục quốc phòng, an ninh được xem xét trên cơ sở yêu cầu thực hiện nhiệm vụ trong nhà trường và kết quả nghiên cứu thực tiễn. Về định lượng, bảng hỏi tập trung khảo sát sáu nhân tố, gồm: Nội dung chương trình (F1); Chất lượng giảng viên (F2); Phương pháp giảng dạy (F3); Cơ sở vật chất (F4); Tổ chức và quản lý (F5); Kết quả và mức độ hài lòng (F6). Sáu nhân tố này phản ánh các khía cạnh liên quan đến quá trình tổ chức thực hiện và kết quả công tác giáo dục quốc phòng, an ninh trong nhà trường. Bên cạnh đó, phỏng vấn sâu 15 cán bộ chủ chốt được sử dụng để làm rõ ảnh hưởng của các điều kiện bên ngoài, gồm cơ chế, chính sách, sự chỉ đạo của cấp trên, tình hình an ninh thế giới, khu vực và môi trường xã hội. Hệ thống thang đo và kết quả kiểm định được trình bày tại Bảng 1.

Bảng 1. Hệ thống thang đo và kết quả kiểm định độ tin cậy, EFA

MãThang đo và nội dung đo lườngSố biếnCronbach’s α (sinh viên/giảng viên)KMO (sinh viên/giảng viên)
P1Quán triệt, triển khai chủ trương (phổ biến nghị quyết, chỉ thị; tuyên truyền; phối hợp quán triệt)50,981/0,9280,926/0,818
P2Lãnh đạo triển khai nhiệm vụ (chỉ đạo kế hoạch; phối hợp; bố trí nguồn lực; sinh hoạt chuyên đề)50,980/0,9380,913/0,829
P3Xây dựng đội ngũ giảng viên (quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng; tuyển chọn, bố trí; động viên, khen thưởng)50,980/0,9470,917/0,875
P4Kiểm tra, giám sát (kế hoạch; hiệu quả; rút kinh nghiệm; tiếp thu phản ánh; biện pháp sau kiểm tra)50,982/0,9300,914/0,887
F1Nội dung chương trình40,966/0,8990,861/0,807
F2Chất lượng giảng viên40,971/0,9010,856/0,814
F3Phương pháp giảng dạy40,973/0,9500,879/0,808
F4Cơ sở vật chất40,969/0,9280,876 0,798
F5Tổ chức và quản lý40,966/0,9390,878/0,843
F6Kết quả và mức độ hài lòng40,977/0,9300,878/0,787
DNMức độ cần thiết của 7 giải pháp (thang 3 mức)70,948/0,8200,935/0,782
DFTính khả thi của 7 giải pháp (thang 3 mức)70,949/0,8760,935/0,841
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả (sinh viên, n = 729; giảng viên, n = 62). Kiểm định Bartlett của tất cả các thang đo có Sig. < 0.001.

Kết quả kiểm định (Bảng 1) cho thấy, hệ số Cronbach’s Alpha dao động từ 0,948 – 0,982 đối với sinh viên và từ 0,820 – 0,950 đối với giảng viên, đều vượt ngưỡng 0,7. Hệ số tương quan biến – tổng nhỏ nhất lần lượt là 0,737 và 0,474, đều lớn hơn 0,3. Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho thấy, hệ số KMO dao động từ 0,856 – 0,935 ở nhóm sinh viên và từ 0,782 – 0,887 ở nhóm giảng viên; kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (Sig. < 0,001). Mỗi thang đo trích được một nhân tố duy nhất có eigenvalue lớn hơn 1, giải thích từ 76,3 – 93,5% phương sai ở nhóm sinh viên và từ 48,3 – 87,2% ở nhóm giảng viên. Hệ số tải nhân tố đều lớn hơn 0,8 đối với sinh viên và 0,6 đối với giảng viên. Nhìn chung, các thang đo đáp ứng yêu cầu về độ tin cậy và có thể sử dụng trong các phân tích tiếp theo. Tuy nhiên, do quy mô mẫu giảng viên còn nhỏ (n = 62), nên kết quả EFA của nhóm này mang tính tham khảo.

3.3. Thực trạng vai trò lãnh đạo của Đảng bộ và các nhân tố liên quan

(1) Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ

Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ đối với công tác giáo dục quốc phòng, an ninh cho sinh viên được thể hiện ở việc quán triệt, cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; xác định nhiệm vụ trọng tâm và lãnh đạo tổ chức thực hiện; xây dựng đội ngũ giảng viên; đồng thời kiểm tra, giám sát quá trình triển khai. Các nội dung này có mối quan hệ chặt chẽ, phản ánh cả phương diện định hướng, tổ chức thực hiện và bảo đảm chất lượng giáo dục quốc phòng, an ninh trong nhà trường. Hiệu quả lãnh đạo không chỉ thể hiện ở việc ban hành chủ trương, kế hoạch mà còn ở khả năng tổ chức phối hợp giữa các đơn vị, huy động nguồn lực và kịp thời điều chỉnh những hạn chế trong quá trình thực hiện.

Bảng 2. Đánh giá về vai trò lãnh đạo của Đảng bộ

Nội dung đánh giáGiảng viên (n = 62) M/SDSinh viên (n = 729) M/SD
P1. Quán triệt, triển khai chủ trương4,32/0,744,36/0,81
P2. Lãnh đạo triển khai nhiệm vụ4,33/0,724,33/0,82
P3. Xây dựng đội ngũ giảng viên4,38/0,694,33/0,81
P4. Kiểm tra, giám sát4,33/0,674,32/0,81
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả (thang Likert 5 mức; M: điểm trung bình, SD: độ lệch chuẩn).

Kết quả khảo sát (Bảng 2) cho thấy, giảng viên và sinh viên đều đánh giá vai trò lãnh đạo của Đảng bộ ở mức cao. Điểm trung bình của bốn nội dung dao động từ 4,32 – 4,38 đối với giảng viên và từ 4,32 – 4,36 đối với sinh viên. Trong đó, giảng viên đánh giá cao nhất nội dung lãnh đạo xây dựng đội ngũ giảng viên (P3: 4,38), còn sinh viên đánh giá cao nhất nội dung quán triệt, triển khai chủ trương (P1: 4,36). Kết quả thể hiện sự tương đồng của cả hai nhóm khảo sát về vai trò lãnh đạo của Đảng bộ; đồng thời, phản ánh những kết quả tích cực trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ giáo dục quốc phòng, an ninh tại các trường đại học. Tuy nhiên, mức điểm giữa các nội dung vẫn có sự chênh lệch nhất định, do đó, cần xem xét cụ thể hơn trong công tác phối hợp giữa các đơn vị và hoạt động kiểm tra, giám sát, điều chỉnh sau kiểm tra.

(2) Các nhân tố liên quan đến vai trò lãnh đạo của Đảng bộ

Các nhân tố liên quan đến vai trò lãnh đạo của Đảng bộ đối với công tác giáo dục quốc phòng, an ninh, nghiên cứu khảo sát sáu nhân tố, gồm: (1) Nội dung chương trình; (2) Chất lượng giảng viên; (3) Phương pháp giảng dạy; (4) Cơ sở vật chất; (5) Tổ chức và quản lý; (6) Kết quả và mức độ hài lòng. Kết quả đánh giá của giảng viên và sinh viên được tổng hợp tại Bảng 3.

Bảng 3. Đánh giá về các nhân tố ảnh hưởng

Nhân tốGiảng viên (n = 62) M/SDSinh viên (n = 729) M/SD
F1. Nội dung chương trình4,38/0,694,32/0,81
F2. Chất lượng giảng viên4,46/0,664,40/0,80
F3. Phương pháp giảng dạy4,36/0,774,33/0,82
F4. Cơ sở vật chất4,39/0,694,31/0,83
F5. Tổ chức và quản lý4,32/0,784,33/0,82
F6. Kết quả và mức độ hài lòng4,39/0,724,35/0,82
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả (thang Likert 5 mức; M: điểm trung bình, SD: độ lệch chuẩn).

Kết quả khảo sát (Bảng 3) cho thấy, các nhân tố được đánh giá ở mức cao, với điểm trung bình từ 4,31 – 4,4 đối với sinh viên và từ 4,32 – 4,46 đối với giảng viên. Trong đó, chất lượng giảng viên (F2) được đánh giá cao nhất ở cả hai nhóm, lần lượt đạt 4,4 và 4,46.

Ngược lại, cơ sở vật chất (F4) có điểm trung bình thấp nhất theo đánh giá của sinh viên (4,31), trong khi tổ chức và quản lý (F5) có điểm thấp nhất theo đánh giá của giảng viên (4,32). Bên cạnh việc tiếp tục bảo đảm chất lượng đội ngũ giảng viên, điều kiện cơ sở vật chất và công tác tổ chức, quản lý cũng cần được quan tâm nhằm nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng, an ninh trong nhà trường. Điều này đặt ra yêu cầu đối với Đảng bộ các trường đại học trong việc xác định nhiệm vụ trọng tâm, lãnh đạo phân bổ nguồn lực, tăng cường phối hợp giữa các đơn vị chức năng và nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát. Việc triển khai đồng bộ các nội dung này góp phần bảo đảm các điều kiện cần thiết cho hoạt động giáo dục quốc phòng, an ninh, đồng thời nâng cao hiệu quả thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng bộ trong lĩnh vực này.

Thứ nhất, nhóm nhân tố chủ quan

(1) Nội dung chương trình (F1). Điểm trung bình của nhân tố này đạt 4,38 đối với giảng viên (SD = 0,69) và 4,32 đối với sinh viên (SD = 0,81). Cả hai nhóm đều đánh giá tích cực về nội dung chương trình, trong đó mức đánh giá của giảng viên cao hơn sinh viên. Qua phỏng vấn sâu, một số ý kiến đề cập yêu cầu thường xuyên cập nhật nội dung để đáp ứng yêu cầu thực tiễn và mục tiêu giáo dục quốc phòng, an ninh.

(2) Chất lượng giảng viên (F2). Với điểm trung bình 4,46 ở nhóm giảng viên (SD = 0,66) và 4,40 ở nhóm sinh viên (SD = 0,80), đây là nhân tố được đánh giá cao nhất trong sáu nhân tố khảo sát. Điều này nhấn mạnh sự quan tâm của cả hai nhóm đối với chất lượng đội ngũ giảng viên trong giáo dục quốc phòng, an ninh cho sinh viên.

(3) Phương pháp giảng dạy (F3). Nhân tố này đạt điểm trung bình 4,36 đối với giảng viên (SD = 0,77) và 4,33 đối với sinh viên (SD = 0,82), với mức chênh lệch không đáng kể giữa hai nhóm. Các ý kiến phỏng vấn sâu cũng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy trước sự phát triển nhanh của giáo dục đại học để phù hợp với mục tiêu môn học và đặc điểm người học.

(4) Cơ sở vật chất (F4). Điểm trung bình của nhân tố này là 4,39 đối với giảng viên (SD = 0,69) và 4,31 đối với sinh viên (SD = 0,83). Đáng chú ý, đây là nhân tố có điểm trung bình thấp nhất trong đánh giá của sinh viên. Mặc dù mức đánh giá vẫn tương đối cao, sự khác biệt giữa hai nhóm gợi mở yêu cầu tiếp tục quan tâm đến điều kiện cơ sở vật chất phục vụ hoạt động giảng dạy, học tập và thực hành.

(5) Tổ chức và quản lý (F5). Nhân tố này được giảng viên đánh giá ở mức 4,32 (SD = 0,78), trong khi điểm trung bình của sinh viên là 4,33 (SD = 0,82). Mức điểm gần tương đương phản ánh sự thống nhất tương đối giữa hai nhóm về nhân tố tổ chức và quản lý. Trong thực tiễn, việc phân công trách nhiệm, phối hợp giữa các đơn vị và theo dõi quá trình thực hiện nhiệm vụ là những nội dung cần được xem xét khi đánh giá vai trò lãnh đạo của đảng bộ trong lĩnh vực này.

(6) Kết quả và mức độ hài lòng (F6). Điểm trung bình của nhân tố đạt 4,39 đối với giảng viên (SD = 0,72) và 4,35 đối với sinh viên (SD = 0,82). Cả hai nhóm đều có đánh giá tích cực về kết quả và mức độ hài lòng đối với hoạt động giáo dục quốc phòng, an ninh. Đây là một phương diện tham khảo trong việc xem xét hiệu quả tổ chức thực hiện nhiệm vụ và nhận diện những nội dung cần tiếp tục cải thiện.

Thứ hai, nhóm nhân tố khách quan

(1) Cơ chế, chính sách và sự chỉ đạo của cấp trên. Theo kết quả phỏng vấn sâu, kế hoạch giáo dục quốc phòng, an ninh của nhà trường phải bảo đảm phù hợp với các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trong khi đó, việc triển khai nhiệm vụ đòi hỏi nguồn lực về cơ sở vật chất, đội ngũ và điều kiện đào tạo, nhưng khả năng đầu tư ở một số trường còn hạn chế so với yêu cầu thực tế. Những yếu tố này ảnh hưởng đến quá trình cụ thể hóa chủ trương thành nghị quyết, chương trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện. Do đó, vai trò lãnh đạo của Đảng bộ thể hiện ở việc định hướng xây dựng kế hoạch phù hợp với quy định hiện hành, đồng thời tổng hợp khó khăn, kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét, tháo gỡ những vướng mắc về nguồn lực.

(2) Môi trường xã hội và tình hình an ninh thế giới, khu vực. Theo các ý kiến phỏng vấn sâu, những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực và quá trình hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu nâng cao bản lĩnh chính trị, tinh thần cảnh giác và nhận thức về quốc phòng, an ninh cho sinh viên. Các vấn đề về chủ quyền quốc gia, an ninh phi truyền thống và an ninh mạng cũng làm cho nội dung giáo dục ngày càng đa dạng, đòi hỏi phải gắn kiến thức cơ bản với tình hình thực tiễn. Trong bối cảnh đó, Đảng bộ giữ vai trò định hướng chính trị, tư tưởng, góp phần bảo đảm nội dung giáo dục quốc phòng, an ninh phù hợp với yêu cầu bảo vệ Tổ quốc và nâng cao nhận thức, trách nhiệm của sinh viên trong quá trình hội nhập quốc tế.

3.3. Kết quả phân tích hồi quy và thảo luận

Để xem xét mối liên hệ giữa các nhân tố và vai trò lãnh đạo của Đảng bộ, nghiên cứu sử dụng hồi quy tuyến tính đa biến, trong đó biến phụ thuộc là điểm trung bình của bốn thang đo P1 – P4 và sáu biến độc lập là điểm trung bình của các thang đo F1 – F6. Mô hình được ước lượng riêng cho nhóm sinh viên (n = 729) và nhóm giảng viên (n = 62). Kết quả được trình bày tại Bảng 4.

Bảng 4. Kết quả phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của Đảng bộ

Nhân tố (biến độc lập)Sinh viên (n = 729)Giảng viên (n = 62)
β chuẩn hóaSig. (p)VIFβ chuẩn hóaSig. (p)VIF
F1. Nội dung chương trình0,1190,0028,360,2270,0226,55
F2. Chất lượng giảng viên0,0550,1277,140,1170,1594,81
F3. Phương pháp giảng dạy0,257< 0,00110,650,1270,1234,66
F4. Cơ sở vật chất0,155< 0,0019,150,267< 0,0013,68
F5. Tổ chức và quản lý0,1170,01111,720,1040,2285,19
F6. Kết quả và mức độ hài lòng0,268< 0,0018,490,2110,0276,18
R2/R2 hiệu chỉnh0,870/0,8690,923/0,915
Kiểm định F (Sig.)F(6,722) = 802.47 (< 0,001)F(6,55) = 109,87 (< 0,001)
Durbin-Watson1,8882,104
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả (biến phụ thuộc: điểm trung bình P1 – P4; β: hệ số hồi quy chuẩn hóa; số in đậm là hệ số có ý nghĩa thống kê ở mức 5%).

Kết quả kiểm định cho thấy, mô hình hồi quy có ý nghĩa thống kê ở cả nhóm sinh viên và nhóm giảng viên, với p < 0,001. Hệ số R2 đạt 0,870 ở nhóm sinh viên và 0,923 ở nhóm giảng viên; R2 hiệu chỉnh tương ứng là 0,869 và 0,915. Như vậy, mô hình giải thích được tỷ lệ biến thiên tương đối cao của điểm đánh giá vai trò lãnh đạo trong hai nhóm khảo sát. Thống kê Durbin-Watson lần lượt đạt 1,888 và 2,104. Tuy nhiên, mức độ phù hợp của mô hình cần được xem xét đồng thời với các chỉ số đa cộng tuyến và quy mô mẫu, nhất là ở nhóm giảng viên.

Xét từng nhân tố, ở nhóm sinh viên, năm trong sáu nhân tố có hệ số hồi quy đạt ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Trong đó, kết quả và mức độ hài lòng (F6) có hệ số β = 0,268, phương pháp giảng dạy (F3: β = 0,257), cơ sở vật chất (F4: β = 0,155), nội dung chương trình (F1: β = 0,119) và tổ chức, quản lý (F5: β = 0,117). Chất lượng giảng viên (F2) chưa đạt ý nghĩa thống kê (p = 0,127). Các hệ số có ý nghĩa đều mang dấu dương, thể hiện mối liên hệ cùng chiều giữa điểm đánh giá các nhân tố tương ứng và điểm đánh giá vai trò lãnh đạo của Đảng bộ, khi kiểm soát các biến còn lại trong mô hình. Dù vậy, do mức độ tương quan cao giữa các biến độc lập, chưa nên căn cứ riêng vào độ lớn của β để khẳng định mức độ ảnh hưởng tương đối của từng nhân tố.

Ở nhóm giảng viên, ba nhân tố có hệ số hồi quy đạt ý nghĩa thống kê ở mức 5%, gồm cơ sở vật chất (F4: β = 0,267; p < 0,001), nội dung chương trình (F1: β = 0,227; p = 0,022) và kết quả, mức độ hài lòng (F6: β = 0,211; p = 0,027). Ba nhân tố còn lại là (F2), (F3) và (F5) chưa đạt ý nghĩa thống kê ở mức này. Kết quả gợi ý rằng, trong mô hình của nhóm giảng viên, đánh giá về cơ sở vật chất, nội dung chương trình và kết quả, mức độ hài lòng có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê với đánh giá về vai trò lãnh đạo của Đảng bộ. Tuy nhiên, kết quả hồi quy ở nhóm giảng viên cần được xem xét trong mối tương quan với quy mô mẫu khảo sát (n = 62) và các chỉ số đánh giá mô hình.

Đối chiếu hai nhóm khảo sát, (F1), (F4) và (F6) là ba nhân tố có hệ số hồi quy đạt ý nghĩa thống kê ở cả hai nhóm. Tuy nhiên, hệ số VIF của một số biến độc lập ở nhóm sinh viên tương đối cao, đặc biệt là F3 (10,65) và F5 (11,72). Vì vậy, cần thận trọng khi diễn giải và so sánh hệ số hồi quy riêng lẻ giữa các nhân tố, bởi đa cộng tuyến có thể ảnh hưởng đến độ ổn định của các ước lượng (O’Brien, 2007).

Việc các nhân tố F1, F4 và F6 đều đạt ý nghĩa thống kê trong hai mô hình cho thấy mối liên hệ giữa đánh giá về nội dung chương trình, cơ sở vật chất, kết quả và mức độ hài lòng với đánh giá về vai trò lãnh đạo của Đảng bộ có tính nhất quán giữa hai nhóm khảo sát. Kết quả phỏng vấn sâu cũng đề cập yêu cầu cập nhật nội dung chương trình và khắc phục những hạn chế về cơ sở vật chất, thao trường, trang thiết bị. Sự kết hợp giữa dữ liệu khảo sát và thông tin phỏng vấn cung cấp căn cứ tham khảo để xác định những khía cạnh cần quan tâm trong lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ giáo dục quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, các kết quả này phản ánh mối liên hệ giữa các nhân tố trong phạm vi nghiên cứu, chưa đủ cơ sở để khẳng định chiều hướng tác động hoặc xác lập thứ tự ưu tiên chính sách.

4. Giải pháp phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng bộ

Trên cơ sở kết quả phân tích thực trạng và các nhân tố liên quan, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng bộ trong giáo dục quốc phòng, an ninh cho sinh viên. Các giải pháp được đánh giá theo thang đo ba mức về tính cần thiết và tính khả thi; điểm trung bình càng thấp thể hiện mức độ ưu tiên càng cao (Bảng 5).

Bảng 5. Đánh giá mức độ cần thiết và tính khả thi của các giải pháp

Giải phápCần thiết – giảng viênCần thiết – sinh viênKhả thi – giảng viênKhả thi – sinh viên
1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng1,311,281,481,42
2. Nâng cao hiệu lực lãnh đạo của Đảng bộ, quản lý của Hội đồng trường, Ban Giám hiệu1,241,311,291,41
3. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các chủ thể, sinh viên, gia đình1,311,331,421,43
4. Đổi mới nội dung, hình thức giáo dục quốc phòng, an ninh1,41,341,521,42
5. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và các lực lượng tham gia1,311,311,391,4
6. Tăng cường các nguồn lực, trao đổi hợp tác1,231,331,531,41
7. Bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện, trang bị kỹ thuật, thiết bị dạy học1,291,31,441,39
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả.

Kết quả khảo sát cho thấy, các giải pháp đều được đánh giá tích cực về tính cần thiết và tính khả thi, song có sự khác biệt giữa hai nhóm khảo sát. Sinh viên ưu tiên giải pháp nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng (điểm trung bình 1,28); giảng viên ưu tiên giải pháp tăng cường nguồn lực và mở rộng hợp tác (1,23). Về tính khả thi, giảng viên đánh giá cao giải pháp nâng cao hiệu lực lãnh đạo của Đảng bộ và hiệu quả quản lý của Hội đồng trường, Ban Giám hiệu (1,29), trong khi sinh viên đánh giá cao giải pháp bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện và thiết bị dạy học (1,39). Đáng chú ý, giải pháp tăng cường nguồn lực và mở rộng hợp tác có điểm trung bình về tính khả thi là 1,53 trong đánh giá của giảng viên, cho thấy yêu cầu gắn việc huy động nguồn lực với điều kiện thực tế và lộ trình triển khai phù hợp.

Một là, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng. Đảng bộ cần đưa nhiệm vụ giáo dục quốc phòng, an ninh vào nghị quyết và chương trình công tác hằng năm; xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân. Đồng thời, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho đội ngũ cán bộ quản lý, cấp ủy viên và người đứng đầu các đơn vị; gắn trách nhiệm lãnh đạo với kết quả thực hiện nhiệm vụ.

Hai là, nâng cao hiệu lực lãnh đạo của Đảng bộ và hiệu quả quản lý của Hội đồng trường, Ban Giám hiệu. Cần bảo đảm sự thống nhất giữa chủ trương lãnh đạo của Đảng bộ với kế hoạch quản lý, tổ chức thực hiện của nhà trường; phân định rõ trách nhiệm, tăng cường phối hợp giữa các đơn vị. Đồng thời, đưa nhiệm vụ giáo dục quốc phòng, an ninh vào chương trình kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện và khắc phục những hạn chế trong quá trình thực hiện.

Ba là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng tham gia giáo dục quốc phòng, an ninh. Cần hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Đảng bộ, Ban Giám hiệu, các đơn vị chuyên môn, Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên và gia đình sinh viên; xác định rõ trách nhiệm và phương thức phối hợp của từng chủ thể. Qua đó, tạo sự thống nhất giữa hoạt động giáo dục trong nhà trường với sự hỗ trợ của gia đình và các tổ chức đoàn thể.

Bốn là, đổi mới nội dung và hình thức giáo dục quốc phòng, an ninh. Đảng bộ cần lãnh đạo, định hướng rà soát nội dung chương trình, giáo trình, bảo đảm phù hợp với mục tiêu đào tạo và yêu cầu thực tiễn. Đồng thời, đa dạng hóa hình thức tổ chức học tập, tăng cường kết hợp lý thuyết với thực hành, đổi mới phương pháp giảng dạy và ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp; kịp thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền cập nhật những nội dung cần thiết.

Năm là, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và các lực lượng tham gia. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, năng lực sư phạm và kiến thức thực tiễn cho giảng viên; khuyến khích đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao khả năng gắn kết kiến thức với thực hành. Đồng thời, quan tâm điều kiện làm việc, động viên và phát huy trách nhiệm của các lực lượng tham gia tổ chức giáo dục quốc phòng, an ninh.

Sáu là, tăng cường nguồn lực và mở rộng hợp tác. Cần rà soát nhu cầu, xác định thứ tự ưu tiên và sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có; chủ động mở rộng hợp tác với các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh, đơn vị lực lượng vũ trang và cơ sở giáo dục có liên quan. Việc huy động, phân bổ nguồn lực cần phù hợp với điều kiện của nhà trường, tuân thủ quy định hiện hành và gắn với kế hoạch thực hiện cụ thể.

Bảy là, bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện và thiết bị dạy học. Xây dựng kế hoạch đầu tư theo lộ trình, ưu tiên các hạng mục thiết yếu phục vụ giảng dạy và thực hành như thao trường, bãi tập, trang thiết bị và tài liệu học tập. Đồng thời, tăng cường quản lý, khai thác hiệu quả cơ sở vật chất hiện có, chủ động phối hợp với các đơn vị liên quan để khắc phục những hạn chế về điều kiện bảo đảm.

5. Kết luận

Nghiên cứu tại một số trường đại học trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh cho thấy, vai trò lãnh đạo của Đảng bộ trong giáo dục quốc phòng, an ninh cho sinh viên được giảng viên và sinh viên đánh giá ở mức cao. Các nhân tố liên quan đến nội dung chương trình, chất lượng giảng viên, phương pháp giảng dạy, cơ sở vật chất, tổ chức và quản lý, kết quả và mức độ hài lòng của sinh viên đều được đánh giá tích cực, mặc dù có sự khác biệt nhất định giữa hai nhóm khảo sát. Phân tích hồi quy cho thấy, kết quả và mức độ hài lòng của sinh viên có hệ số hồi quy chuẩn hóa lớn nhất trong mô hình của nhóm sinh viên, trong khi cơ sở vật chất có hệ số lớn nhất ở nhóm giảng viên. Điều này cho thấy, đánh giá về vai trò lãnh đạo của Đảng bộ có mối liên hệ với cả kết quả giáo dục và các điều kiện tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

Từ đó, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng bộ cần được đặt trong mối quan hệ giữa trách nhiệm lãnh đạo, hiệu quả tổ chức thực hiện và chất lượng giáo dục quốc phòng, an ninh cho sinh viên. Đảng bộ các trường đại học cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, tăng cường kiểm tra, giám sát, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các lực lượng và quan tâm bảo đảm các điều kiện phục vụ giảng dạy, học tập, thực hành. Đây là những yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng, an ninh, góp phần thực hiện nhiệm vụ giáo dục toàn diện sinh viên trong tình hình mới.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1992). Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 29/6/1992 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng.
Chính phủ (2014). Nghị định số 13/2014/NĐ-CP ngày 25/02/2014 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh.
Cronbach, L. J. (1951). Coefficient alpha and the internal structure of tests. Psychometrika, 16(3), 297-334. https://doi.org/10.1007/BF02310555
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I, II. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I, II. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội (2013). Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh năm 2013.
O’Brien, R. M. (2007). A caution regarding rules of thumb for variance inflation factors. Quality & Quantity, 41, 673-690. https://doi.org/10.1007/s11135-006-9018-6