The development responsibility of foreign investors in Vietnam amid the implementation of the Global Minimum Tax Policy
TS. Nguyễn Thị Thu Hà
Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên
Email: hantt2024.tn@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Việc thực hiện chính sách thuế tối thiểu toàn cầu đang làm thay đổi căn bản phương thức cạnh tranh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), làm giảm hiệu quả của các ưu đãi thuế truyền thống và đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình quản lý FDI tại các quốc gia tiếp nhận đầu tư. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị đã xác lập định hướng phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng chất lượng, hiệu quả, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, phát triển xanh và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế. Tuy nhiên, trách nhiệm của nhà đầu tư nước ngoài chủ yếu vẫn được tiếp cận dưới góc độ tuân thủ pháp luật hoặc trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, chưa được xem là một cấu phần của chiến lược phát triển quốc gia. Trên cơ sở kế thừa các lý thuyết về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, kinh doanh có trách nhiệm và phát triển bền vững, bài viết đề xuất Khung Trách nhiệm phát triển của nhà đầu tư nước ngoài (Foreign Investor Development Responsibility Framework) và các giải pháp vận dụng khung trách nhiệm này.
Từ khóa: Trách nhiệm phát triển; nhà đầu tư nước ngoài; quản lý nhà nước; thuế tối thiểu toàn cầu; chất lượng FDI; Nghị quyết số 10-NQ/TW.
Abstract: The implementation of the Global Minimum Tax Policy is fundamentally changing the way countries compete to attract foreign direct investment (FDI), reducing the effectiveness of traditional tax incentives and creating a need to reform FDI management models in host countries. In this context, Resolution No. 10-NQ/TW dated 8 June, 2026 of the Politburo sets out orientations for developing the foreign-invested economic sector toward quality, efficiency, innovation, technology transfer, green development, and enhanced economic self-reliance. However, the responsibilities of foreign investors have largely been approached from the perspective of legal compliance or corporate social responsibility, rather than being regarded as a component of the national development strategy. Building on theories of corporate social responsibility, responsible business conduct, and sustainable development, this article proposes a Foreign Investor Development Responsibility Framework and solutions for applying this framework.
Keywords: Development responsibility; foreign investors; state management; Global Minimum Tax; FDI quality; Resolution No. 10-NQ/TW.
1. Đặt vấn đề
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là nguồn lực quan trọng đối với phát triển kinh tế, không chỉ bổ sung vốn mà còn góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển kỹ năng và nguồn nhân lực, nâng cao năng lực sản xuất, đồng thời mở rộng khả năng tham gia của nền kinh tế tiếp nhận vào các mạng lưới sản xuất quốc tế và chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu (UNCTAD, 1998; UNCTAD, 2026). Tuy nhiên, hiệu quả phát triển của FDI không chỉ được quyết định bởi quy mô vốn đầu tư mà còn phụ thuộc vào chất lượng dự án, hành vi của nhà đầu tư, năng lực hấp thụ của nền kinh tế và hiệu quả quản lý nhà nước.
Trước những thách thức về xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (BEPS) trong nền kinh tế toàn cầu hóa và số hóa, Khung hợp tác toàn diện OECD/G20 về BEPS đã xây dựng Giải pháp Hai trụ cột (Two-Pillar Solution) nhằm cải cách hệ thống thuế quốc tế. Trong đó, Trụ cột Một tập trung phân bổ lại một phần quyền đánh thuế đối với lợi nhuận của các tập đoàn đa quốc gia lớn cho các quốc gia thị trường; Trụ cột Hai thiết lập cơ chế thuế tối thiểu toàn cầu với mức thuế suất hiệu dụng tối thiểu 15% đối với các tập đoàn đa quốc gia thuộc phạm vi áp dụng, qua đó, góp phần hạn chế chuyển lợi nhuận và cạnh tranh thuế xuống đáy (OECD, 2021; OECD, 2022). Khi OECD/G20 triển khai Trụ cột Hai, lợi thế cạnh tranh dựa trên ưu đãi thuế truyền thống dần suy giảm, buộc các quốc gia chuyển trọng tâm từ thu hút vốn sang nâng cao chất lượng thể chế, đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng hệ sinh thái đầu tư có năng lực cạnh tranh.
Tại Việt Nam, khu vực FDI đã có những đóng góp quan trọng đối với tăng trưởng, xuất khẩu và tạo việc làm, song hiệu quả lan tỏa về chuyển giao công nghệ, liên kết với doanh nghiệp trong nước, phát triển công nghiệp hỗ trợ và nâng cao giá trị gia tăng nội địa vẫn còn hạn chế. Đồng thời, những vấn đề, như: chuyển giá, né tránh nghĩa vụ thuế, ô nhiễm môi trường và vi phạm pháp luật lao động cho thấy mô hình quản lý FDI dựa chủ yếu vào ưu đãi và quy mô vốn đầu tư không còn phù hợp với yêu cầu phát triển mới. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị đã xác lập định hướng chuyển từ tư duy “thu hút FDI” sang “phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”, lấy chất lượng, hiệu quả, đổi mới sáng tạo và năng lực tự chủ của nền kinh tế làm mục tiêu trọng tâm (Bộ Chính trị, 2026).
Từ thực tiễn và khoảng trống nghiên cứu hiện nay, bài viết đề xuất cách tiếp cận Trách nhiệm phát triển của nhà đầu tư nước ngoài (Foreign Investor Development Responsibility – FIDR) nhằm mở rộng nội hàm trách nhiệm của nhà đầu tư từ yêu cầu tuân thủ pháp luật và trách nhiệm xã hội sang trách nhiệm tạo lập giá trị phát triển cho quốc gia tiếp nhận đầu tư. Từ đó, nghiên cứu xây dựng Khung trách nhiệm phát triển của nhà đầu tư nước ngoài (Khung FIDR) vàđề xuất mô hình quản lý nhà nước đối với FDI dựa trên trách nhiệm phát triển, góp phần chuyển đổi phương thức quản lý từ ưu tiên thu hút vốn và ưu đãi đầu tư sang quản lý theo chất lượng đóng góp, cam kết phát triển và kết quả tạo lập năng lực nội sinh của nền kinh tế.
2. Tổng quan nghiên cứu
Có nhiều nghiên cứu về trách nhiệm của nhà đầu tư nước ngoài được phát triển theo các hướng tiếp cận khác nhau, phản ánh sự chuyển dịch từ tư duy bảo hộ đầu tư sang phát triển bền vững và quản trị phát triển.
Thứ nhất, hướng nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư trong pháp luật đầu tư quốc tế tập trung làm rõ sự cân bằng giữa quyền của nhà đầu tư và quyền điều tiết của quốc gia tiếp nhận đầu tư. Các nghiên cứu của Salacuse (2021), Sattorova (2018), Choudhury (2020), Van der Ploeg (2024) và một số học giả khác đều cho rằng các hiệp định đầu tư thế hệ mới đang từng bước mở rộng nghĩa vụ của nhà đầu tư sang các lĩnh vực, như: bảo vệ môi trường, quyền con người, phòng chống tham nhũng và phát triển bền vững. Ở Việt Nam, Ngô Trọng Quân & Ngô Thảo Ngân (2022) cũng ghi nhận xu hướng bổ sung nghĩa vụ của nhà đầu tư trong các hiệp định đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu tiếp cận trách nhiệm dưới góc độ nghĩa vụ pháp lý, chưa lý giải đầy đủ trách nhiệm phát triển của nhà đầu tư đối với quốc gia tiếp nhận.
Thứ hai, hướng nghiên cứu về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility – CSR) và lý thuyết các bên liên quan mở rộng phạm vi trách nhiệm của doanh nghiệp từ cổ đông sang người lao động, cộng đồng, Nhà nước và các chủ thể liên quan (Freeman, 1984; Carroll, 1991). Các nghiên cứu cho rằng, doanh nghiệp cần thực hiện đồng thời trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và xã hội. Tuy nhiên, CSR chủ yếu được xây dựng từ góc nhìn quản trị doanh nghiệp, mang tính tự nguyện và chưa phản ánh đầy đủ trách nhiệm của nhà đầu tư đối với chuyển giao công nghệ, phát triển doanh nghiệp nội địa hay nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thứ ba, hướng nghiên cứu về kinh doanh có trách nhiệm (Responsible Business Conduct – RBC) nhấn mạnh việc tích hợp trách nhiệm đối với con người, môi trường và xã hội vào hoạt động kinh doanh cốt lõi và toàn bộ chuỗi cung ứng. Theo cơ chế thẩm định dựa trên rủi ro, doanh nghiệp phải nhận diện, phòng ngừa, giảm thiểu, theo dõi và khắc phục các tác động tiêu cực phát sinh từ hoạt động, sản phẩm, dịch vụ và các quan hệ kinh doanh (United Nations, 2011; OECD, 2018; OECD, 2023).
Thứ tư, hướng nghiên cứu về đầu tư bền vững và chất lượng FDI nhấn mạnh rằng, đóng góp của FDI đối với quốc gia tiếp nhận không chỉ được xem xét ở quy mô dòng vốn mà còn ở chất lượng và kết quả phát triển mà dòng vốn đó tạo ra, thể hiện qua nâng cao năng suất và đổi mới sáng tạo, phát triển kỹ năng và chất lượng việc làm, thúc đẩy liên kết và lan tỏa tới doanh nghiệp trong nước, cũng như hỗ trợ quá trình chuyển đổi xanh (OECD, 2022; OECD, 2026). Các nghiên cứu đã góp phần hình thành khung chính sách nhằm nâng cao chất lượng FDI và tăng cường tác động phát triển của dòng vốn đầu tư. Tuy nhiên, trọng tâm vẫn là chất lượng của dòng vốn hoặc môi trường đầu tư, chưa chuyển hóa các mục tiêu phát triển thành trách nhiệm cụ thể của từng nhà đầu tư.
Thứ năm, hướng nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với FDI tập trung vào hoàn thiện thể chế, chính sách đầu tư, nâng cao hiệu lực quản lý, cải cách thủ tục hành chính và cải thiện môi trường đầu tư. Trong bối cảnh mới, các nghiên cứu cũng nhấn mạnh yêu cầu thu hút FDI có chọn lọc, nâng cao chất lượng và hiệu quả đầu tư, đồng thời chuyển dần chính sách ưu đãi từ dựa trên lợi nhuận sang gắn với hiệu quả đầu tư và giá trị gia tăng (Nguyễn Tấn Thành, 2025).
Thứ sáu, hướng nghiên cứu về thuế tối thiểu toàn cầu tập trung phân tích tác động của Trụ cột Hai đối với hiệu quả của các chính sách ưu đãi thuế, quyết định phân bổ đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia và khả năng cạnh tranh thu hút FDI của các quốc gia tiếp nhận đầu tư (OECD, 2022; Hugger & cộng sự, 2024). Các công trình đều thống nhất rằng thuế tối thiểu toàn cầu làm suy giảm vai trò của ưu đãi thuế và đòi hỏi đổi mới chính sách FDI. Tuy nhiên, phần lớn mới dừng ở giải pháp duy trì sức hấp dẫn của môi trường đầu tư, chưa tiếp cận thuế tối thiểu toàn cầu như động lực chuyển đổi mô hình quản lý FDI dựa trên trách nhiệm phát triển.
Tổng quan các công trình trong và ngoài nước cho thấy, mặc dù đã có nhiều hướng tiếp cận về nghĩa vụ của nhà đầu tư, trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR), kinh doanh có trách nhiệm (RBC), đầu tư bền vững, đánh giá chất lượng và quản lý nhà nước đối với FDI, tác động của thuế tối thiểu toàn cầu, song các nghiên cứu mới chủ yếu liên quan đến trách nhiệm của nhà đầu tư nước ngoài. Thực tế vẫn tồn tại những khoảng trống đáng kể, gồm: (1) Chưa có sự phân biệt rõ giữa trách nhiệm của nhà đầu tư nước ngoài với trách nhiệm của doanh nghiệp FDI; (2) Chưa làm rõ trách nhiệm chủ động tạo lập giá trị phát triển thông qua chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp trong nước và nâng cao năng lực nội sinh.
Từ những khoảng trống đó, bài viết đề xuất cách tiếp cận Trách nhiệm phát triển của nhà đầu tư nước ngoài và xây dựng Khung trách nhiệm phát triển của nhà đầu tư nước ngoài (Khung FIDR) trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các lý thuyết về các bên liên quan, CSR, RBC, pháp luật đầu tư quốc tế, đầu tư bền vững, chất lượng FDI, nhà nước kiến tạo phát triển và quản trị công theo kết quả.
3. Khung trách nhiệm phát triển của nhà đầu tư nước ngoài (Khung FIDR)
Khung FIDR được xây dựng như một cách tiếp cận tích hợp nhằm đổi mới nhận thức về trách nhiệm của nhà đầu tư trong bối cảnh thực hiện chính sách thuế tối thiểu toàn cầu và định hướng phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo Nghị quyết số 10-NQ/TW. Khác với các cách tiếp cận truyền thống chỉ nhấn mạnh nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR), kinh doanh có trách nhiệm (RBC) hoặc các tiêu chí Môi trường – Xã hội – Quản trị (ESG Environmental – Social – Governance), FIDR xem nhà đầu tư nước ngoài là chủ thể không chỉ có trách nhiệm hạn chế các tác động tiêu cực mà còn phải chủ động tạo lập giá trị phát triển cho quốc gia tiếp nhận đầu tư.
Theo đó, trách nhiệm phát triển của nhà đầu tư nước ngoài được hiểu là tổng thể các nghĩa vụ pháp lý, cam kết đầu tư, chuẩn mực hành vi và yêu cầu đóng góp mà nhà đầu tư phải thực hiện nhằm bảo đảm hoạt động đầu tư vừa tuân thủ pháp luật, quản trị hiệu quả các rủi ro kinh tế, xã hội và môi trường, vừa tạo ra những giá trị gia tăng về công nghệ, nguồn nhân lực, đổi mới sáng tạo, liên kết sản xuất và năng lực nội sinh của nền kinh tế. Cách tiếp cận này được xây dựng trên hai chiều trách nhiệm có quan hệ bổ trợ lẫn nhau: trách nhiệm phòng ngừa và khắc phục các tác động tiêu cực thông qua tuân thủ pháp luật và thực hành kinh doanh có trách nhiệm; trách nhiệm kiến tạo và đóng góp thông qua chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước và hỗ trợ chuyển đổi xanh. Hai chiều trách nhiệm này được xem xét thống nhất trong toàn bộ vòng đời của dự án đầu tư, bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng, phát triển bền vững và lợi ích công cộng.
Từ cách tiếp cận đó, Khung FIDR hướng tới bốn mục tiêu cơ bản. Một là, hình thành một khái niệm tích hợp về trách nhiệm phát triển của nhà đầu tư nước ngoài, khắc phục sự phân tách giữa các cách tiếp cận hiện hành về nghĩa vụ pháp lý, CSR, RBC, ESG và FDI chất lượng. Hai là, chuyển trọng tâm đánh giá FDI từ quy mô vốn và các yếu tố đầu vào sang hành vi của nhà đầu tư, chất lượng đóng góp và kết quả phát triển. Ba là, tạo cơ sở để Nhà nước xác định trách nhiệm phù hợp với từng loại nhà đầu tư, lĩnh vực, quy mô dự án và mức độ ưu đãi được hưởng. Bốn là, cung cấp nền tảng lý luận cho việc xây dựng mô hình quản lý nhà nước đối với FDI dựa trên trách nhiệm phát triển.
Khung FIDR xác định nhà đầu tư nước ngoài là chủ thể trung tâm của trách nhiệm phát triển vì đây là chủ thể quyết định chiến lược đầu tư, công nghệ, quy mô vốn, mô hình quản trị và định hướng phân bổ nguồn lực của dự án. Do đó, trách nhiệm phát triển không chỉ được xem xét ở doanh nghiệp FDI trực tiếp triển khai dự án mà còn phải được nhìn nhận trong toàn bộ cấu trúc sở hữu và kiểm soát của nhà đầu tư. Đồng thời, Khung FIDR còn bao gồm các chủ thể liên quan, như: doanh nghiệp thực hiện dự án, Nhà nước của quốc gia tiếp nhận đầu tư và các bên gồm người lao động, doanh nghiệp trong nước, nhà cung ứng, cộng đồng địa phương và các tổ chức xã hội. Trong cấu trúc này, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, xác lập tiêu chuẩn, giám sát và bảo đảm thực hiện trách nhiệm; còn các bên liên quan vừa là đối tượng thụ hưởng vừa tham gia giám sát và phản hồi quá trình thực hiện trách nhiệm phát triển.
Về phạm vi áp dụng, Khung FIDR được thiết kế cho toàn bộ vòng đời của dự án đầu tư, từ giai đoạn nghiên cứu, lựa chọn địa điểm, thẩm định, cấp phép và xác lập cam kết đến xây dựng, vận hành, mở rộng, tái cơ cấu và chấm dứt dự án. Trách nhiệm của nhà đầu tư đồng thời được mở rộng tới các hoạt động trong chuỗi giá trị mà nhà đầu tư có quyền kiểm soát hoặc có khả năng tác động đáng kể. Cách tiếp cận này giúp chuyển từ mô hình quản lý chủ yếu xử lý vi phạm sau khi phát sinh hậu quả sang quản trị chủ động, trong đó trách nhiệm được xác lập ngay từ khâu lựa chọn dự án và được giám sát liên tục trong suốt quá trình đầu tư.
Về cấu trúc, khung FIDR gồm bảy trụ cột trách nhiệm, phản ánh toàn diện các khía cạnh của trách nhiệm phát triển, bao gồm: (1) Tuân thủ pháp luật và liêm chính đầu tư; (2) Trách nhiệm kinh tế – tài khóa; (3) Trách nhiệm công nghệ và đổi mới sáng tạo; (4) Trách nhiệm phát triển nguồn nhân lực; (5) Trách nhiệm liên kết và phát triển doanh nghiệp trong nước; (6) Trách nhiệm xã hội, môi trường và chuyển đổi xanh; (7) Trách nhiệm đối với năng lực tự chủ và khả năng chống chịu của nền kinh tế. Các trụ cột này được tổ chức thành hai tầng trách nhiệm, gồm tầng nền tảng áp dụng cho mọi nhà đầu tư và tầng trách nhiệm phát triển gia tăng áp dụng theo quy mô, lĩnh vực và mức độ hưởng ưu đãi của dự án. Đồng thời, việc thực hiện trách nhiệm được đánh giá theo ba mức độ gồm tuân thủ, đóng góp và kiến tạo, qua đó phân biệt rõ giữa nhà đầu tư chỉ đáp ứng các yêu cầu tối thiểu với nhà đầu tư tạo ra tác động lan tỏa và giá trị phát triển bền vững.
Khung FIDR cũng đề xuất cơ chế hình thành trách nhiệm từ bốn nguồn gồm nghĩa vụ theo pháp luật, cam kết đầu tư, trách nhiệm gắn với ưu đãi và các chuẩn mực hành vi theo thông lệ quốc tế. Việc đánh giá trách nhiệm được thực hiện theo chuỗi logic đầu vào – hành vi – đầu ra – kết quả – tác động phát triển, kết hợp hệ thống chỉ tiêu định lượng và đánh giá định tính tương ứng với bảy trụ cột trách nhiệm. Cách tiếp cận này không chỉ đánh giá mức độ tuân thủ mà còn phản ánh đầy đủ chất lượng đóng góp và tác động dài hạn của FDI đối với năng suất, đổi mới sáng tạo, năng lực tự chủ và phát triển bền vững của quốc gia tiếp nhận đầu tư. Vì vậy, FIDR không chỉ là một khung phân tích lý luận mà còn là nền tảng để xây dựng mô hình quản lý nhà nước đối với FDI dựa trên trách nhiệm phát triển trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư đang chuyển mạnh từ ưu đãi thuế sang chất lượng thể chế và chất lượng đóng góp của nhà đầu tư.
4. Mô hình quản lý FDI dựa trên khung trách nhiệm phát triển của nhà đầu tư nước ngoài
Trên cơ sở khái niệm về FIDR và Khung FIDR, bài viết đề xuất Mô hình quản lý nhà nước đối với FDI dựa trên trách nhiệm phát triển của nhà đầu tư nước ngoài. Mô hình được xây dựng từ yêu cầu đổi mới quản lý FDI gắn quyền lợi và ưu đãi đầu tư với trách nhiệm phát triển, chuyển từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ theo kết quả, từ kiểm soát tuân thủ sang quản trị dựa trên chất lượng đóng góp và tác động phát triển. Sáu mục tiêu chủ yếu của mô hình gồm: (1) Nâng cao chất lượng FDI; (2) Bảo đảm tương xứng giữa quyền lợi và trách nhiệm; (3) Tăng cường liên kết giữa FDI với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo trong nước; (4) Hạn chế các tác động tiêu cực; (5) Phân loại nhà đầu tư theo mức độ đóng góp; và (6) Chuyển hóa FDI thành năng lực phát triển nội sinh.
Cấu trúc của mô hình gồm năm hợp phần liên kết chặt chẽ: định hướng chiến lược và xác định nhu cầu phát triển; sàng lọc, lựa chọn nhà đầu tư trên cơ sở năng lực thực hiện trách nhiệm phát triển; chuyển hóa FIDR thành các cam kết có thể đo lường; thiết kế cơ chế hỗ trợ đầu tư theo kết quả thực hiện; và giám sát, đánh giá, phân loại và điều chỉnh chính sách.
Mô hình được triển khai theo chu trình tám bước, từ xác định nhu cầu phát triển, xây dựng hồ sơ trách nhiệm, xúc tiến và thẩm định dự án, đàm phán cam kết, tổ chức hỗ trợ, giám sát định kỳ đến điều chỉnh chính sách trên cơ sở kết quả thực tế.
Để bảo đảm tính khả thi, nghiên cứu đề xuất hệ thống đồng bộ các công cụ quản lý mô hình, gồm: công cụ pháp luật, quy hoạch và chiến lược, công cụ kinh tế, hợp đồng và cam kết, cơ sở dữ liệu, xếp hạng nhà đầu tư, thanh tra, kiểm tra và đối thoại công – tư; đồng thời, xây dựng hai nhóm chỉ số đánh giá đối với nhà đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước. Mô hình cũng xác định rõ vai trò của cơ quan trung ương, chính quyền địa phương, nhà đầu tư và các bên liên quan; đề xuất các điều kiện triển khai, kiểm soát rủi ro và lộ trình áp dụng theo ba giai đoạn: xây dựng nền tảng, thí điểm có chọn lọc và thể chế hóa, mở rộng. Về lý luận, Mô hình quản lý nhà nước đối với FDI dựa trên trách nhiệm phát triển chuyển hóa FIDR từ một khung phân tích trách nhiệm thành nguyên tắc tổ chức quản lý nhà nước; về thực tiễn, mô hình tạo cơ sở đổi mới toàn diện quản lý FDI theo hướng lựa chọn nhà đầu tư có trách nhiệm, gắn ưu đãi với kết quả phát triển, tăng cường trách nhiệm giải trình và thúc đẩy sự gắn kết giữa khu vực FDI với quá trình phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam.
5. Giải pháp vận dụng khung trách nhiệm phát triển của nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
Trên cơ sở khung FIDR và Mô hình quản lý FDI dựa trên trách nhiệm phát triển, nghiên cứu đề xuất định hướng đổi mới toàn diện quản lý nhà nước đối với FDI ở Việt Nam theo hướng lấy trách nhiệm phát triển làm nguyên tắc tổ chức và đánh giá hiệu quả quản lý. Theo đó, quản lý FDI cần chuyển từ mục tiêu thu hút vốn sang phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, từ quản lý từng dự án sang quản lý nhà đầu tư và hệ sinh thái đầu tư, từ ưu đãi đầu vào sang ưu đãi gắn với cam kết và kết quả, từ kiểm soát tuân thủ sang quản trị trách nhiệm trong toàn bộ vòng đời dự án, đồng thời áp dụng cơ chế phân loại nhà đầu tư và tăng cường vai trò kiến tạo của Nhà nước trong phát triển năng lực hấp thụ của nền kinh tế.
Để hiện thực hóa định hướng này, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp.
Một là, từng bước thể chế hóa FIDR trong hệ thống pháp luật và chính sách đầu tư thông qua việc bổ sung nguyên tắc trách nhiệm phát triển, hoàn thiện cơ chế ghi nhận và thực thi cam kết đầu tư, xây dựng cơ chế điều chỉnh hoặc thu hồi ưu đãi khi nhà đầu tư không thực hiện cam kết và bảo đảm tính tương thích với các cam kết quốc tế.
Hai là, xây dựng Bộ tiêu chí FIDR quốc gia và các bộ tiêu chí chuyên ngành dựa trên bảy trụ cột trách nhiệm, kết hợp đánh giá định lượng với đánh giá định tính để phản ánh đúng chất lượng đóng góp của từng dự án và từng nhóm nhà đầu tư.
Ba là, đổi mới toàn diện quy trình quản lý FDI theo hướng thẩm định đồng thời nhà đầu tư và dự án, xây dựng hồ sơ trách nhiệm và hồ sơ rủi ro của nhà đầu tư, chuyển xúc tiến đầu tư từ quảng bá ưu đãi đại trà sang tìm kiếm đối tác phát triển phù hợp với nhu cầu chiến lược của nền kinh tế.
Bốn là, tăng cường chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, hoàn thiện quản lý thuế, môi trường, xã hội và liêm chính kinh doanh, xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp và nền tảng số phục vụ giám sát FIDR.
Năm là, đổi mới tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực quản lý thông qua cơ chế điều phối liên ngành, đào tạo đội ngũ cán bộ, tăng cường trách nhiệm giải trình, phát huy vai trò của các bên liên quan và giám sát xã hội.
Sáu là, triển khai mô hình khung FIDR theo lộ trình ba giai đoạn, gồm: hoàn thiện cơ sở lý luận và chuẩn bị thể chế; thí điểm tại một số ngành, địa phương và dự án chiến lược; sau đó thể chế hóa và mở rộng trên phạm vi toàn quốc. Việc triển khai phải bảo đảm các điều kiện về ổn định chính sách, minh bạch tiêu chí, nâng cao năng lực hấp thụ của nền kinh tế, chia sẻ dữ liệu, phối hợp giữa trung ương và địa phương và tham vấn thường xuyên với nhà đầu tư cùng các bên liên quan.
Những giải pháp này hướng tới xây dựng mô hình quản lý FDI dựa trên trách nhiệm phát triển của nhà đầu tư nước ngoài, lấy chất lượng đóng góp và kết quả phát triển làm trung tâm, qua đó nâng cao hiệu quả thu hút, sử dụng FDI và tăng cường năng lực phát triển bền vững của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cạnh tranh chiến lược mới.
6. Kết luận
Trong bối cảnh thực hiện chính sách thuế tối thiểu toàn cầu và triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TW, việc đổi mới tư duy và phương thức quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thành yêu cầu cấp thiết. Bài viết đề xuất Khung Trách nhiệm phát triển của nhà đầu tư nước ngoài như một cách tiếp cận lý luận mới, mở rộng trách nhiệm của nhà đầu tư từ yêu cầu tuân thủ pháp luật và hạn chế tác động tiêu cực sang trách nhiệm chủ động tạo lập giá trị phát triển cho quốc gia tiếp nhận đầu tư. Trên cơ sở đó, nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý nhà nước đối với FDI dựa trên trách nhiệm phát triển, góp phần chuyển đổi phương thức quản lý từ ưu tiên thu hút vốn và ưu đãi sang quản lý theo chất lượng đóng góp và kết quả phát triển. Đồng thời, nghiên cứu nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, đổi mới chính sách hỗ trợ và nâng cao năng lực quản trị nhằm gắn trách nhiệm của nhà đầu tư với mục tiêu phát triển bền vững và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế. Tuy nhiên, FIDR hiện mới là một đề xuất lý luận và khung phân tích ban đầu, cần tiếp tục được kiểm chứng bằng các nghiên cứu thực nghiệm, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá và hoàn thiện để trở thành cơ sở khoa học cho việc đổi mới quản lý FDI ở Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Carroll, A. B. (1991). The pyramid of corporate social responsibility: Toward the moral management of organizational stakeholders. Business Horizons, 34(4), 39–48.
Choudhury, B. (2020). Investor obligations for human rights. ICSID Review – Foreign Investment Law Journal, 35(1–2), 82–104. https://doi.org/10.1093/icsidreview/siaa002
Freeman, R. E. (1984). Strategic management: A stakeholder approach. Pitman.
Hugger, F., González Cabral, A. C., Bucci, M., Gesualdo, M., & O’Reilly, P. (2024). The global minimum tax and the taxation of MNE profit (OECD Taxation Working Papers No. 68). OECD Publishing.
Ngô Trọng Quân & Ngô Thảo Ngân (2022). Quy định về nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài trong các hiệp định đầu tư quốc tế. Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, (5), 82–93.
Nguyễn Tấn Thành (2025). Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên phát triển mới của đất nước. Tạp chí Lý luận chính trị. https://lyluanchinhtri.vn/hoan-thien-quan-ly-nha-nuoc-doi-voi-hoat-dong-dau-tu-truc-tiep-nuoc-ngoai-dap-ung-yeu-cau-ky-nguyen-phat-trien-moi-cua-dat-nuoc-6890.html
OECD (2018). OECD due diligence guidance for responsible business conduct. OECD Publishing.
OECD (2021). Tax challenges arising from digitalization of the economy- Global Anti-Base Erosion Model Rules (Pillar Two): Inclusive Framework on BEPS, OECD/G20 Base Erosion and Profit Shifting Project. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/782bac33-en
OECD (2022). Tax incentives and the global minimum corporate tax: Reconsidering tax incentives after the GloBE rules. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/25d30b96-en
OECD (2023). OECD guidelines for multinational enterprises on responsible business conduct. OECD Publishing.
OECD (2026). FDI quality review of Viet Nam: Driving the next wave of growth. OECD Publishing.
Salacuse, J. W. (2021). The law of investment treaties (3rd ed.). Oxford University Press.
Sattorova, M. (2018). The impact of investment treaty law on host states: Enabling good governance. Hart Publishing.
UNCTAD (1998). Foreign direct investment and development (UNCTAD Series on Issues in International Investment Agreements). United Nations.
UNCTAD (2015). World investment report 2015: Reforming international investment governance. United Nations.
UNCTAD (2026). World investment report 2026: International investment in a turbulent era. United Nations.
United Nations (2011). Guiding principles on business and human rights: Implementing the United Nations “Protect, Respect and Remedy” framework. United Nations.
Van der Ploeg, K. P. (2024). Investor obligations: Transformative and regressive impacts of the business and human rights framework. Business and Human Rights Journal, 9(1), 1–26.



