Mô hình liên kết nhà nước, nhà trường/viện nghiên cứu và doanh nghiệp ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

The linkage model among the state, universities/research institutes and enterprises in Viet Nam: current situation and solutions

PGS. TS. Nguyễn Ngọc Toàn
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: toankyoto@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Chủ trương thúc đẩy mô hình liên kết Nhà nước, nhà trường/viện nghiên cứu và doanh nghiệp ở Việt Nam đã được triển khai qua nhiều năm, khung pháp lý đã tương đối đầy đủ và hệ sinh thái đã có đủ chủ thể, nhưng các kết quả khảo sát cho thấy, mô hình liên kết đang đứt gãy ở bốn điểm: giữa nghiên cứu và sản xuất; giữa doanh nghiệp trong nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; giữa nghiên cứu và nguồn tài chính chấp nhận rủi ro và trong phối hợp giữa Nhà nước với doanh nghiệp. Nguyên nhân chung là thiếu thiết chế trung gian chuyên nghiệp và cấu trúc khuyến khích còn hướng các chủ thể tới né tránh rủi ro. Từ đó, bài viết đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp hoàn thiện mô hình liên kết, lấy thiết chế trung gian và cơ chế lợi ích – rủi ro làm trọng tâm.

Từ khóa: Liên kết ba nhà; hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; năng lực hấp thụ; thiết chế trung gian; thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Abstract: The policy of promoting the linkage model among the State, universities/research institutes and enterprises in Viet Nam has been implemented over many years; the legal framework is now relatively complete and the innovation ecosystem already comprises all the necessary actors. Survey evidence, however, shows that the linkage model is broken at four points: between research and production, between domestic enterprises and the foreign-invested sector, between research and risk-tolerant finance, and in the coordination between the State and enterprises. The common root cause is the absence of professional intermediary institutions and an incentive structure that still steers actors towards risk avoidance. On that basis, the paper proposes a set of guiding viewpoints and solutions for improving the linkage model, with intermediary institutions and benefit–risk mechanisms at its core.

Keywords: Triple-helix linkage; innovation ecosystem; absorptive capacity; intermediary institutions; commercialisation of research results.

1. Đặt vấn đề

Ở Việt Nam, liên kết Nhà nước, nhà trường/viện nghiên cứu và doanh nghiệp, thường gọi là liên kết ba nhà, đã được quan tâm từ sớm và ngày càng được đặt ở vị trí trung tâm của chính sách phát triển. Tuy nhiên, các cuộc khảo sát gần đây của Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy, liên kết ba nhà còn rời rạc và kém hiệu quả. Doanh nghiệp đóng góp 77,8% tổng chi cho nghiên cứu và phát triển của cả nước nhưng gần như toàn bộ là chi trong nội bộ doanh nghiệp chứ không gắn với liên kết ba nhà. Trong khi đó, kinh phí từ doanh nghiệp chỉ chiếm 0,79% tổng chi của hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ công lập (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2024a, 2024b). Trong 32.409 nhà nghiên cứu làm việc tại doanh nghiệp chỉ có 333 người có trình độ tiến sĩ, chưa tới 1%, còn hơn ba phần tư số tiến sĩ của cả nước tập trung ở các cơ sở giáo dục đại học (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2024a). Hoạt động sáng chế của đại học gần như tách rời đặt hàng của doanh nghiệp (Lưu Hoàng Long, 2025). Nói cách khác, nguồn lực tài chính, nguồn lực trí tuệ và nhu cầu thị trường đang nằm ở ba nơi khác nhau và thiếu kết nối. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu nhận diện đúng các điểm đứt gãy, nguyên nhân của chúng và đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện mô hình liên kết ba nhà vận hành hiệu quả, phù hợp với điều kiện Việt Nam.

2. Thực trạng liên kết Nhà nước, nhà trường/viện nghiên cứu và doanh nghiệp ở Việt Nam

2.1. Khái quát về thể chế liên kết ba nhà

Chủ trương gắn kết nghiên cứu với sản xuất đã được Đảng đề ra và lãnh đạo thực hiện qua nhiều nhiệm kỳ, từ Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 về phát triển khoa học và công nghệ, Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về chủ động tham gia Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tới Nghị quyết số 57-NQ/TW 22/12/2024 xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, với yêu cầu lấy doanh nghiệp làm trung tâm, viện nghiên cứu và trường đại học là chủ thể nghiên cứu mạnh, Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2012; Bộ Chính trị, 2019; Bộ Chính trị, 2024). Nghị quyết số 68-NQ/TW 04/5/2025 xác lập vị trí một động lực quan trọng nhất của kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 19-NQ/TW 28/7/2026 đặt đổi mới thể chế và quản trị quốc gia làm khâu đột phá của mô hình phát triển mới (Bộ Chính trị, 2025; Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026).

Về pháp luật, hệ thống đã được hoàn thiện đáng kể. Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 lần đầu quy định cơ chế đặt hàng và quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp (Quốc hội, 2013). Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 chuyển trọng tâm quản lý từ kiểm soát đầu vào sang đánh giá kết quả đầu ra, quy định khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, nguyên tắc chấp nhận rủi ro và giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách cho tổ chức chủ trì (Quốc hội, 2025). Nghị định số 264/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 quy định Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia với quy mô tối thiểu 2.000 tỷ đồng trong năm năm đầu, Nhà nước góp tối đa 30% vốn điều lệ ở cấp quốc gia và 49% ở cấp địa phương, theo nguyên tắc đầu tư công, quản trị tư và dùng đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư (Chính phủ, 2025). Bên cạnh đó là hệ thống ưu đãi thuế cho hoạt động nghiên cứu, các chương trình khoa học và công nghệ quốc gia, mạng lưới khu công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia và địa phương, vườn ươm và tổ chức thúc đẩy kinh doanh.

Nhìn tổng thể, khung chủ trương và pháp lý cho liên kết ba nhà đã tương đối đầy đủ. Vấn đề vì vậy không phải là thiếu cơ chế, mà là các cơ chế ấy đã vận hành hiệu quả đến đâu trong thực tế.

2.2. Một số kết quả đạt được

Thứ nhất, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đã hình thành đủ các chủ thể cần thiết. Theo Hà Huy Ngọc (2026), cả nước có 423 tổ chức nghiên cứu và phát triển, khoảng 4.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, 208 quỹ đầu tư, 84 vườn ươm và 20 trung tâm khởi nghiệp sáng tạo. Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam được xếp thứ 56 trong 100 quốc gia, với Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh thuộc nhóm 200 thành phố khởi nghiệp sáng tạo toàn cầu.

Thứ hai, doanh nghiệp đã trở thành chủ thể chính của hoạt động nghiên cứu và phát triển, đúng với định hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm. Theo kết quả điều tra năm 2024, trong tổng chi nghiên cứu và phát triển 42.784 tỷ đồng của cả nước năm 2023, khu vực doanh nghiệp thực hiện 33.270 tỷ đồng, chiếm 77,8%, đồng thời là nguồn cấp 58,1% kinh phí. Tỷ trọng nguồn chi ngoài ngân sách nhà nước đạt khoảng 67%, vượt mục tiêu trên 60% mà Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra cho năm 2030 (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2024a). Một số tập đoàn lớn trong nước đã hình thành viện nghiên cứu riêng và hợp tác nghiên cứu, đào tạo với các đại học trong các lĩnh vực công nghệ mới.

Thứ ba, thiết chế nghiên cứu nội bộ doanh nghiệp bắt đầu phát huy tác dụng. Theo điều tra đổi mới sáng tạo năm 2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ, 74,4% các doanh nghiệp có bộ phận nghiên cứu và phát triển có hoạt động đổi mới sáng tạo so với mức chỉ 30,2% ở nhóm không có bộ phận này. 68,3% doanh nghiệp có quỹ phát triển khoa học và công nghệ có hoạt động đổi mới sáng tạo so với chỉ 32,4% ở nhóm không có quỹ (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Chênh lệch hơn hai lần ở cả hai trường hợp cho thấy chính thiết chế nghiên cứu nội bộ tạo ra khả năng đổi mới và khả năng tiếp nhận công nghệ.

Thứ tư, các trường đại học đã bước đầu chuyển sang mô hình kinh doanh tri thức. Nhiều trường đã thành lập trung tâm chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp phái sinh và hợp tác đào tạo, nghiên cứu với tập đoàn công nghệ trong và ngoài nước. Số đơn đăng ký sáng chế của một số đại học tăng nhanh, như trường hợp Đại học Quốc gia Hà Nội với 218 đơn trong giai đoạn 2019 – 2023 (Lưu Hoàng Long, 2025).

Thứ năm, Nhà nước bước đầu thể hiện vai trò kiến tạo và chia sẻ rủi ro. Nghị định số 264/2025/NĐ-CP là bước tiến quan trọng về thiết kế quỹ đầu tư mạo hiểm, với cơ chế hoạt động tiệm cận nguyên lý vốn mồi đã được kiểm chứng ở Israel (Vũ Sỹ Cường, 2026). Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đã được luật hóa. Các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia và địa phương được thành lập. Một số tập đoàn công nghệ toàn cầu đã đặt trung tâm nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam.

2.3. Hạn chế và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả đạt được, liên kết ba nhà bộc lộ nhiều đứt gãy, khiến mô hình liên kết chưa hoạt động hiệu quả như kỳ vọng.

Bảng 1. Bốn điểm đứt gãy trong liên kết ba nhà ở Việt Nam và bằng chứng định lượng

Điểm đứt gãyBằng chứng định lượngNguồn
Nghiên cứu – sản xuấtDoanh nghiệp thực hiện 77,8% chi R&D nhưng chỉ cấp 0,79% kinh phí cho hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ công lập; 333 tiến sĩ trong 32.409 nhà nghiên cứu tại doanh nghiệp so với 20.911 tiến sĩ ở đại học; 4/218 đơn sáng chế của Đại học Quốc gia Hà Nội xuất phát từ đặt hàng doanh nghiệpBộ Khoa học và Công nghệ (2024a, 2024b); Lưu Hoàng Long (2025)
Doanh nghiệp trong nước – FDIKhu vực FDI chi 10,1% tổng R&D; chiếm hơn 73% kim ngạch xuất khẩu; chuyển giao công nghệ chủ yếu qua nhập khẩu máy mócBộ Khoa học và Công nghệ (2024a); Cục Hải quan (2026)
Nghiên cứu – tài chính chấp nhận rủi roNhóm chỉ số đầu tư trong GII 2025 giảm 12 bậc xuống hạng 62; 1,7 trong 2,3 tỷ USD vốn tư nhân năm 2024 là mua lại doanh nghiệp trưởng thành; 25,5% doanh nghiệp đánh giá tiêu cực khả năng tiếp cận nguồn lực bên ngoàiWIPO (2025); Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia và cộng sự (2025); Bộ Khoa học và Công nghệ (2025)
Nhà nước – doanh nghiệpChỉ 24,1% doanh nghiệp nhận được hỗ trợ đổi mới công nghệ; 31,8% không tiếp cận được vì chưa biết chính sách, 8,7% không biết đầu mốiBộ Khoa học và Công nghệ (2025)
Nguồn: Tổng hợp của tác giả.

Một là, đứt gãy giữa nghiên cứu và sản xuất, giữa nhà trường/viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Sản xuất và nghiên cứu đang vận hành gần như tách rời nhau. Theo điều tra tiềm lực khoa học và công nghệ năm 2024, trong tổng chi 21.707 tỷ đồng của hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ, nguồn ngân sách nhà nước chiếm 85,06% còn nguồn từ doanh nghiệp chỉ chiếm 0,79% (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2024b). Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp thực hiện 77,8% chi nghiên cứu nhưng gần như toàn bộ là chi trong nội bộ (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2024a). Điều này cho thấy, các tổ chức khoa học và công nghệ và doanh nghiệp hầu như đầu tư từ nguồn độc lập mà không có liên kết với nhau.

Về nhân lực, các cơ sở giáo dục đại học có 20.911 tiến sĩ; các tổ chức nghiên cứu và phát triển có 3.706 người; trong khi khu vực doanh nghiệp, nơi đang có 32.409 nhà nghiên cứu làm việc, chỉ có 333 tiến sĩ, tức khoảng 1% (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2024a). Điều này có nghĩa là nhân lực nghiên cứu trong khu vực doanh nghiệp còn yếu dẫn đến khả năng hấp thụ công nghệ hạn chế, trong khi lại thiếu kết nối với các trường đại học. Trường hợp Đại học Quốc gia Hà Nội minh họa rõ hệ quả: trong 218 đơn đăng ký sáng chế nộp trong giai đoạn 2019 – 2023 chỉ có 4 đơn xuất phát từ đặt hàng của doanh nghiệp, tương đương 1,83%. Trong 84 bằng độc quyền được cấp không có bằng nào bắt nguồn từ đặt hàng của doanh nghiệp và trong số sáng chế, giải pháp hữu ích đang được bảo hộ chỉ có 4 trường hợp được khai thác thương mại, chiếm chưa tới 5% (Lưu Hoàng Long, 2025).

Hai là, đứt gãy giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉ chi 4.311 tỷ đồng cho nghiên cứu và phát triển năm 2023, tương đương 10,1% tổng chi cho nghiên cứu và phát triển của cả nước. Điều này cho thấy khu vực này mạnh về sản xuất nhưng không tạo tri thức tại Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2024a). Trong khi đó, khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm hơn 73% kim ngạch xuất khẩu năm 2025 (Cục Hải quan, 2026). Chuyển giao công nghệ từ khu vực có vốn nước ngoài diễn ra chủ yếu qua nhập khẩu máy móc và di chuyển lao động, không qua liên kết với viện, trường và nhà cung ứng trong nước. Đây là biểu hiện cụ thể của luận điểm của Cohen và Levinthal (1990) rằng, chuyển giao công nghệ không tự động tạo ra lan tỏa khi năng lực hấp thụ của bên tiếp nhận còn yếu.

Ba là, đứt gãy giữa nghiên cứu tiên phong và nguồn tài chính chấp nhận rủi ro. Trong Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2025, nhóm chỉ số về đầu tư của Việt Nam giảm mười hai bậc xuống hạng 62 (WIPO, 2025). Thị trường vốn đầu tư tư nhân năm 2024 đạt khoảng 2,3 tỷ USD nhưng 1,7 tỷ USD trong đó là các thương vụ mua lại doanh nghiệp đã trưởng thành, tức dòng vốn chảy vào chuyển giao quyền sở hữu chứ không vào hình thành năng lực mới, và phần lớn trong gần 150 nhà đầu tư mạo hiểm đang hoạt động đến từ nước ngoài (Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia và cộng sự, 2025). Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp đã có pháp lý từ năm 2013 nhưng việc trích lập khó triển khai do thủ tục. Hệ thống tín dụng chủ yếu vẫn dựa trên thế chấp tài sản bảo đảm hữu hình không phù hợp với các doanh nghiệp công nghệ có tài sản chủ yếu là tài sản vô hình (Vũ Sỹ Cường, 2026).

Bốn là, đứt gãy trong phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và giữa Nhà nước với doanh nghiệp. Việc quản lý khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đầu tư, giáo dục đào tạo và tài chính thuộc nhiều cơ quan khác nhau dẫn tới mặc dù các cơ quan đều có sự quan tâm, đầu tư nhưng trách nhiệm phân tán và các chương trình còn chồng chéo. Năm 2024 chỉ 24,1% doanh nghiệp cho biết đã nhận được chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ, 16,8% nhận được hỗ trợ tín dụng, 9,4% nhận được tư vấn kỹ thuật và 5,2% tham gia nhiệm vụ khoa học công nghệ có sử dụng ngân sách. Đáng chú ý, trong số doanh nghiệp không tiếp cận được hỗ trợ, 31,8% trả lời là chưa biết về chính sách và 8,7% không biết đầu mối liên hệ, trong khi chỉ 2,6% cho rằng thủ tục xét duyệt phức tạp (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Rào cản lớn nhất, do vậy, không phải là thủ tục mà là thông tin. Chính sách đã có nhưng không đến được với đối tượng thụ hưởng.

Bốn điểm đứt gãy trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng có một nguyên nhân chung: thiếu các thiết chế trung gian chuyên nghiệp giúp kết nối các bên. Nhận định này đồng nhất với kết luận của Phạm Thị Thanh Xuân & cộng sự (2026) rằng vấn đề của mô hình liên kết ba nhà, bốn nhà tại Việt Nam không nằm ở sự thiếu vắng chủ thể, mà ở chỗ thiếu một thiết chế trung gian đủ năng lực hấp thụ vốn, phân bổ rủi ro, điều phối lợi ích giữa các bên và tổ chức thương mại hóa công nghệ. Các tổ chức định giá công nghệ, sàn giao dịch công nghệ chưa vận hành thực chất. Nguyễn Thị Liên Hương và Nguyễn Minh Ngọc (2025) cũng chỉ ra khoảng trống kết nối trong hệ sinh thái khởi nghiệp nhìn từ vai trò của các tổ chức nghiên cứu, sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ.

Bên cạnh đó, còn có các nguyên nhân về cơ chế lợi ích, chia sẻ rủi ro và năng lực hấp thụ công nghệ. Về cơ chế lợi ích, quyền sở hữu kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách mới được luật hóa từ năm 2025 và cần tiếp tục cụ thể hóa hướng dẫn phân chia lợi ích thương mại hóa. Nhà khoa học và viện, trường vẫn chủ yếu được đánh giá theo số đề tài nghiệm thu, số bài báo công bố chứ chưa theo giá trị chuyển giao. Hệ thống viện công lập được cấp kinh phí theo biên chế nên thiếu động lực tìm kiếm hợp đồng với doanh nghiệp. Về cơ chế rủi ro, cả ba bên đều chịu một cấu trúc khuyến khích hướng tới né tránh rủi ro: cơ quan quản lý và kiểm toán vẫn kiểm tra theo đầu vào; viện, trường sợ sai phạm khi hợp tác với doanh nghiệp; doanh nghiệp tìm thấy nhiều cơ hội sinh lợi khác ít rủi ro hơn đầu tư cho nghiên cứu và phát triển. Về năng lực hấp thụ, gần 94% doanh nghiệp Việt Nam thuộc nhóm nhỏ và siêu nhỏ, không đủ năng lực tự tiếp nhận công nghệ, trong khi tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ có hoạt động đổi mới sáng tạo đang giảm, từ 35,7% xuống 28,8% trong hai năm 2023 – 2024 (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025).

3. Quan điểm và giải pháp hoàn thiện mô hình liên kết Nhà nước, nhà trường/viện nghiên cứu và doanh nghiệp

3.1. Quan điểm

Thứ nhất, liên kết ba nhà phải được thiết kế như một hệ thống thiết chế và cơ chế lợi ích – rủi ro. Kinh nghiệm quốc tế và thực trạng Việt Nam đều cho thấy chủ trương và sự hiện diện của các chủ thể là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Mô hình liên kết chỉ vận hành khi có những tổ chức chuyên trách làm cầu nối và khi cấu trúc lợi ích của từng bên thay đổi để tạo động lực khuyến khích họ liên kết với nhau.

Thứ hai, doanh nghiệp là trung tâm của mô hình liên kết. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, tạo thị trường ban đầu và chia sẻ rủi ro đầu tiên. Viện, trường là chủ thể cung cấp tri thức và nhân lực theo nhu cầu của thị trường. Vai trò của từng chủ thể phải được xác định theo chức năng mà thị trường không tự thực hiện được, không theo thứ bậc hành chính.

Thứ ba, ưu tiên khâu hấp thụ và lan tỏa công nghệ, lấy nâng cao năng lực nghiên cứu tối thiểu của doanh nghiệp làm điều kiện tiên quyết của liên kết. Với cấu trúc doanh nghiệp chủ yếu nhỏ và siêu nhỏ, cần lựa chọn các công nghệ phù hợp với năng lực hấp thụ.

Thứ tư, tác động đồng thời vào hai vế của tương quan lợi ích: vừa tăng lợi ích và giảm rủi ro cho các bên tham gia liên kết, vừa thu hẹp cơ hội thu lợi không dựa trên đổi mới sáng tạo. Chỉ tăng lợi ích cho liên kết trong khi vẫn còn những cách khác sinh lợi cao và ít rủi ro hơn thì doanh nghiệp sẽ không chuyển hướng sang nâng cấp khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Thứ năm, phân nhóm phương thức liên kết theo quy mô doanh nghiệp và loại nhiệm vụ. Doanh nghiệp lớn có thể liên kết trực tiếp với viện, trường trong các nhiệm vụ công nghệ chiến lược; doanh nghiệp vừa và nhỏ cần tổ chức trung gian làm cầu nối; doanh nghiệp khởi nghiệp cần đại học và quỹ mạo hiểm. Không thể dùng chung một công cụ cho mọi đối tượng.

Thứ sáu, lấy mức độ sử dụng thực tế của cơ chế và kết quả thương mại hóa làm thước đo hoàn thiện mô hình, thay cho số văn bản được ban hành, số đề tài được nghiệm thu hay số biên bản ghi nhớ được ký kết.

3.2. Giải pháp

Một là, phát triển mạng lưới các tổ chức trung gian công nghệ phục vụ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo đó, cần bổ sung chức năng tiếp nhận, hấp thụ, cải tiến và chuyển giao công nghệ cho một số viện nghiên cứu công lập, trung tâm ứng dụng tiến bộ kỹ thuật cấp tỉnh và trường đại học kỹ thuật, với dịch vụ tư vấn, thử nghiệm, chứng nhận và đào tạo được Nhà nước hỗ trợ một phần chi phí. Kinh phí cấp cho các tổ chức này phải gắn với kết quả phục vụ doanh nghiệp, không cấp theo biên chế. Đồng thời, hình thành bộ phận chuyên trách sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ tại các viện, trường lớn, và xây dựng hệ thống tổ chức định giá công nghệ, sàn giao dịch công nghệ vận hành thực chất.

Hai là, hoàn thiện cơ chế lợi ích. Hướng dẫn thực hiện quy định của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 về giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách cho tổ chức chủ trì, kèm nghĩa vụ thương mại hóa trong thời hạn nhất định và quy định rõ tỷ lệ phân chia lợi ích cho nhà khoa học. Đổi mới tiêu chí đánh giá, xếp hạng viện, trường và nhà khoa học theo giá trị hợp đồng chuyển giao và kết quả thương mại hóa. Cho phép viện, trường và nhà khoa học góp vốn bằng tài sản trí tuệ vào doanh nghiệp.

Ba là, xây dựng và hoàn thiện cơ chế tài chính chia sẻ rủi ro. Đưa Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia theo Nghị định số 264/2025/NĐ-CP vào vận hành thực chất với bốn điều kiện: đánh giá hiệu quả theo toàn danh mục và theo chu kỳ quỹ thay vì theo từng khoản đầu tư; Nhà nước không tham gia lựa chọn dự án; thu hút nhà quản lý quỹ có kinh nghiệm; và định hướng vào giai đoạn sớm mà thị trường đang bỏ ngỏ. Thí điểm mô hình quỹ hợp tác công – tư hai cấp gồm quỹ mẹ huy động và dẫn vốn với Nhà nước là nhà đầu tư vốn mồi, và các công ty dự án độc lập trực tiếp triển khai nghiên cứu và thương mại hóa, cho phép doanh nghiệp, quỹ đầu tư, trường đại học và nhà khoa học cùng góp vốn (Phạm Thị Thanh Xuân và cộng sự, 2026). Áp dụng tài trợ hoàn trả có điều kiện cho nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng của doanh nghiệp; sửa quy định về quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp theo hướng mở rộng nội dung chi, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm; xây dựng khuôn khổ pháp lý cho phép dùng tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm theo lộ trình.

Bốn là, nâng cao năng lực hấp thụ của doanh nghiệp. Hỗ trợ chi phí tuyển dụng nhân lực nghiên cứu trình độ cao tại doanh nghiệp trong những năm đầu. Cho phép doanh nghiệp đặt hàng viện, trường công lập theo cơ chế đồng tài trợ. Triển khai chương trình phát triển nhà cung ứng nội địa gắn với nâng cấp khu công nghiệp thành cụm liên kết ngành có trung tâm kỹ thuật dùng chung. Gắn ưu đãi đầu tư nước ngoài với mức độ chuyển giao công nghệ và liên kết thực chất với viện, trường và doanh nghiệp trong nước, thay vì theo quy mô vốn đăng ký. Mục tiêu đến năm 2030 là nâng tỷ trọng kinh phí từ doanh nghiệp trong chi của hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ công lập từ 0,79% lên trên 10% và tỷ lệ tiến sĩ trong số nhà nghiên cứu tại doanh nghiệp từ khoảng 1% lên tối thiểu 5%.

Năm là, đổi mới thể chế quản lý theo hướng chấp nhận rủi ro. Ban hành cơ chế pháp lý phân biệt rõ thất bại khách quan trong nghiên cứu với vi phạm quy định, theo đó mỗi nhiệm vụ sử dụng ngân sách từ một quy mô nhất định phải có hồ sơ rủi ro được phê duyệt cùng thuyết minh, và kết quả không đạt nằm trong phạm vi rủi ro đã phê duyệt, đúng quy trình, không vụ lợi thì được miễn trừ trách nhiệm. Ban hành hướng dẫn thanh tra, kiểm toán nhiệm vụ khoán chi theo nguyên tắc kiểm tra sự tuân thủ quy trình và sự phù hợp của sản phẩm với cam kết; mở rộng thử nghiệm có kiểm soát theo lĩnh vực. Đây là điều kiện tiên quyết, bởi không có cơ chế bảo vệ người dám quyết định thì mọi cơ chế chia sẻ rủi ro khác chỉ tồn tại trên văn bản.

Sáu là, sử dụng đặt hàng và mua sắm công để tạo cầu ban đầu và triển khai cơ chế đồng đầu tư – đồng kiến tạo đối với công nghệ chiến lược. Quy định tỷ lệ tối thiểu trong mua sắm công dành cho sản phẩm, dịch vụ đổi mới sáng tạo trong nước đạt chuẩn; cho phép mua sắm trước khi thương mại chính thức với các dự án nghiệm thu theo giai đoạn. Đối với danh mục công nghệ chiến lược, thí điểm cơ chế Nhà nước, doanh nghiệp lớn và viện, trường cùng xác định bài toán, cùng góp vốn, cùng chia sẻ rủi ro và cùng hưởng kết quả, với vốn tư nhân đối ứng tối thiểu một nửa, lựa chọn qua cạnh tranh công khai và Nhà nước không giữ quyền chi phối.

Bảy là, hoàn thiện điều phối và thông tin chính sách. Thiết lập đầu mối một cửa cung cấp thông tin và tiếp nhận đề nghị hỗ trợ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo tới doanh nghiệp. Công bố hằng năm hệ chỉ báo đo lường mức độ liên kết, gồm tỷ trọng kinh phí doanh nghiệp trong chi của viện, trường; tỷ lệ nhà nghiên cứu trình độ cao tại doanh nghiệp; tỷ lệ sáng chế xuất phát từ đặt hàng doanh nghiệp; tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu; số hợp đồng chuyển giao và doanh nghiệp phái sinh; quy mô vốn mạo hiểm giai đoạn sớm. Lấy mốc năm 2028 để đánh giá giữa kỳ việc vận hành các cơ chế mới, với câu hỏi trọng tâm là các cơ chế đó có được sử dụng hay không.

4. Kết luận

Chủ trương và khung pháp lý cho mô hình liên kết ba nhà đã tương đối đầy đủ và hệ sinh thái đã có đủ chủ thể, nhưng số liệu điều tra cho thấy bốn điểm đứt gãy có tính cấu trúc: giữa nghiên cứu và sản xuất, giữa doanh nghiệp trong nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, giữa nghiên cứu và nguồn tài chính chấp nhận rủi ro, và trong phối hợp giữa Nhà nước với doanh nghiệp. Nguyên nhân chung của các điểm đứt gãy ấy là thiếu thiết chế trung gian và cấu trúc khuyến khích còn hướng các chủ thể tới né tránh rủi ro. Từ đó, hoàn thiện mô hình liên kết ba nhà cần được tiếp cận như việc xây dựng một hệ thống thiết chế và cơ chế, trong đó ba nội dung có ý nghĩa quyết định là hình thành mạng lưới tổ chức trung gian công nghệ được tài trợ theo kết quả phục vụ doanh nghiệp, đưa các cơ chế tài chính chia sẻ rủi ro đã có vào vận hành thực chất và ban hành cơ chế bảo vệ người dám quyết định. Phần lớn các giải pháp này không đòi hỏi nhiều kinh phí vì bản chất là thay đổi cơ chế.

Tài liệu tham khảo:
Bài viết là kết quả nghiên cứu của đề tài cấp bộ trọng điểm 2025 – 2026: Nghiên cứu đề xuất mô hình tăng trưởng mới lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, ban hành theo Quyết định số 5712-QĐ/HVCTQG ngày 19/9/2025.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2012). Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2024a). Kết quả cuộc điều tra nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ năm 2024. Hà Nội.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2024b). Kết quả cuộc điều tra tiềm lực khoa học và công nghệ năm 2024. Hà Nội.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Kết quả cuộc điều tra đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp năm 2025. Hà Nội.
Chính phủ (2025). Nghị định số 264/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 quy định về Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và quỹ đầu tư mạo hiểm của địa phương.
Cohen, W. M., & Levinthal, D. A. (1990). Absorptive capacity: A new perspective on learning and innovation. Administrative Science Quarterly, 35(1), 128-152.
Cục Hải quan (2026). Số liệu thống kê xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2025. Bộ Tài chính.
Hà Huy Ngọc (2026). Mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Hải Phòng, tháng 5/2026.
Lưu Hoàng Long (2025). Xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hỗ trợ thương mại hóa tài sản trí tuệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Nghiên cứu Chính sách và Quản lý, 41(4), 63–73.
Nguyễn Thị Liên Hương, & Nguyễn Minh Ngọc (2025). Khoảng trống kết nối trong hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam: Nhìn từ vai trò của các tổ chức nghiên cứu, sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Nghiên cứu Chính sách và Quản lý, 41(4).
Phạm Thị Thanh Xuân, Huỳnh Thị Hồng Nhung, Đinh Thị Thu Hương, Vũ Minh Tiến, Đào Văn Hưng, & Lê Đức Anh (2026). Đề xuất mô hình Quỹ mẹ – công ty con (Quỹ PPP – SPV): Giải pháp thể chế hóa mô hình đa nhà trong nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược tại Việt Nam. Trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Hải Phòng, tháng 5/2026.
Quốc hội (2013). Luật Khoa học và công nghệ năm 2013.
Quốc hội (2025). Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025.
Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia, Hiệp hội Đầu tư vốn tư nhân Việt Nam, & Boston Consulting Group (2025). Vietnam innovation & private capital report 2025.
Vũ Sỹ Cường (2026). Mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: Bài toán huy động nguồn lực tài chính. Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Hải Phòng, tháng 5/2026.
WIPO (2025). Global Innovation Index 2025. World Intellectual Property Organization.