Quản trị tích hợp an sinh xã hội cho người cao tuổi ở nông thôn Việt Nam

Integrated social security governance for older persons in rural Vietnam

TS. Tạ Thị Hương
Học viện Hành chính và Quản trị công
Email: Tahuong@apag.eduvn

(Quanlynhanuoc.vn) – Già hóa dân số tại khu vực nông thôn Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đổi mới phương thức bảo đảm an sinh xã hội cho người cao tuổi. Bằng phương pháp phân tích chính sách và tổng hợp dữ liệu thứ cấp chính thức, bài viết hệ thống hóa khung tiếp cận quản trị tích hợp an sinh xã hội dựa trên một số chiều cạnh như chính sách, chủ thể, dịch vụ, dữ liệu, nguồn lực và trách nhiệm giải trình. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù diện bao phủ bảo hiểm y tế và trợ cấp xã hội từng bước được cải thiện, hệ thống an sinh xã hội hiện hành vẫn tồn tại nhiều khoảng trống và điểm nghẽn trong quá trình vận hành. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các định hướng giải pháp then chốt nhằm chuyển đổi từ quản lý theo từng chế độ sang quản trị nhu cầu tích hợp, trong đó nhấn mạnh việc phát triển cấp xã thành đầu mối kết nối dịch vụ, xây dựng chuỗi chăm sóc “già hóa tại nơi cư trú”, thể chế hóa hỗ trợ người chăm sóc gia đình, phân tầng nguy cơ dựa trên dữ liệu tích hợp và đổi mới vai trò của Nhà nước hướng tới quản trị kết quả an sinh cho người cao tuổi.

Từ khóa: An sinh xã hội; người cao tuổi nông thôn; quản trị tích hợp; chăm sóc dài hạn; già hóa tại nơi cư trú; quản lý theo trường hợp.

Abstract: Population aging in rural Vietnam is creating an urgent need to reform how social security is provided to older people. Using policy analysis and a synthesis of official secondary data, this article develops a framework for integrated social security governance across several dimensions, including policy, actors, services, data, resources, and accountability. The research findings indicate that, although health insurance coverage and social assistance have gradually improved, the current social security system still has many gaps and operational bottlenecks. Based on this, the article proposes key solution strategies to transition from program-based management to integrated needs-based governance, emphasizing the development of commune-level units as service coordination hubs, the establishment of “aging in place” care chains, institutionalizing support for family caregivers, implementing risk stratification based on integrated data, and reforming the role of the government toward outcomes-based social security governance for older people.

Keywords: Social security; Rural elderly; Integrated governance; Long-term care; Aging in place; Case management.

1. Đặt vấn đề

Già hóa dân số đang tác động ngày càng sâu rộng đến kinh tế – xã hội và hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam. Theo Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024, cả nước có khoảng 14,2 triệu người từ 60 tuổi trở lên (tăng 2,8 triệu người so với năm 2019 và 4,7 triệu người so với năm 2014); tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên đạt 9,3%, chỉ số già hóa tăng lên 60,2% và dự báo đạt xấp xỉ 18 triệu người vào năm 2030 (Tổng cục Thống kê, 2025a), trong khi Bộ Y tế ghi nhận hiện có gần 16,5 triệu người cao tuổi (Tú Ân, 2026). Sự gia tăng này đang trở thành một đặc điểm cấu trúc mới trong quá trình phát triển. Đáng chú ý, phần lớn người cao tuổi sống ở nông thôn, một không gian có cấu trúc rủi ro an sinh tuổi già đặc thù: “có tới 62% lực lượng người cao tuổi hiện nay (tương đương khoảng 8,8 triệu người) đang sinh sống tại các vùng nông thôn thuần nông. Việc thu nhập phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động sản xuất nông nghiệp khiến nguồn tài chính của các cụ khi về già trở nên bấp bênh hơn bao giờ hết” (Trí Dũng, 2026). Theo số liệu VNAS 2022 do UNFPA tổng hợp, 9,5% người cao tuổi thuộc diện nghèo hoặc cận nghèo; tỷ lệ này ở nông thôn là 10,4% (thành thị: 7,8%) và ở phụ nữ là 11,4% (nam giới: 6,9%) (UNFPA, 2026, p. 38), phản ánh rõ bất lợi an sinh phân bố không đồng đều theo giới và địa bàn. Thêm vào đó, việc làm phi chính thức ở nông thôn năm 2025 vẫn chiếm tới 73,3% (khoảng 23,46 triệu trên tổng số 32,0 triệu lao động) (Cục Thống kê, 2026), trực tiếp cản trở việc tham gia bảo hiểm xã hội và tích lũy lương hưu. Thực tế, khoảng 76% người cao tuổi không có lương hưu, cùng với rủi ro nghèo tập trung ở phụ nữ, người dân tộc thiểu số và lao động phi chính thức (Jackson, 2026), đã định hình thách thức lớn về an ninh thu nhập tuổi già.

Về sức khỏe và chăm sóc, nhu cầu của người cao tuổi mang tính đa chiều: gần 61% mắc từ ba bệnh được chẩn đoán trở lên, khoảng 55% khó khăn khi đi lại và 45% gặp ít nhất một khó khăn trong sinh hoạt hằng ngày (ADL); tỷ lệ hạn chế ADL tăng cao rõ rệt ở nhóm tuổi già hơn, phụ nữ và cư dân nông thôn (VNAS, 2022 trích trong UNFPA, 2026, p. 38). Bất lợi của người cao tuổi nông thôn do đó gắn chặt với sự suy giảm năng lực chức năng và nhu cầu chăm sóc ngày càng tăng. Ứng phó bối cảnh này, hệ thống chính sách từng bước được hoàn thiện: Luật Người cao tuổi năm 2009 xác định người cao tuổi là công dân từ đủ 60 tuổi và quy định trách nhiệm của Nhà nước, gia đình, xã hội (Quốc hội, 2009); Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 bổ sung trợ cấp hưu trí xã hội cho người từ đủ 75 tuổi không có lương hưu (hoặc từ đủ 70 đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo/cận nghèo), đồng thời mở cơ chế giảm dần độ tuổi hưởng theo ngân sách (Quốc hội, 2024); tiếp đó, Nghị định số 335/2026/NĐ-CP nâng mức trợ cấp hưu trí xã hội từ 500.000 lên 540.000 đồng/tháng từ ngày 01/7/2026 (Chính phủ, 2026).

Trong lĩnh vực y tế, dù tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân đạt 95,16% vào cuối năm 2025 (Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2026), chỉ tiêu này vẫn chưa được tách riêng cho người cao tuổi ở nông thôn. Về y tế cơ sở, Quyết định số 1116/QĐ-TTg ngày 22/6/2026 sửa đổi Chương trình Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đến năm 2030 đã đẩy mạnh dự phòng: từ năm 2026 thực hiện khám sàng lọc miễn phí định kỳ hằng năm, lập hồ sơ quản lý sức khỏe và hướng tới mục tiêu quản lý ít nhất 90% người cao tuổi mắc bệnh không lây nhiễm vào năm 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2026). Thực tế cho thấy, Việt Nam không còn “thiếu chính sách”, mà đã định hình nhiều lớp bảo vệ từ thu nhập, y tế đến trợ giúp xã hội. Vấn đề cốt lõi là các lớp bảo vệ này đã được kết nối, vận hành đồng bộ và liên tục hay chưa. Kế thừa các công trình trên Tạp chí Quản lý nhà nước về thực thi chính sách an sinh (Nguyễn, 2026) và hệ sinh thái chăm sóc người cao tuổi (Tạ, 2025), bài viết tập trung luận giải khoảng trống: quản trị sự kết nối giữa bảo đảm thu nhập, chăm sóc sức khỏe và chăm sóc xã hội/dài hạn cho người cao tuổi ở khu vực nông thôn. Đóng góp mới của bài viết là đề xuất một khung phân tích quản trị tích hợp một số chiều cạnh (chính sách, chủ thể, dịch vụ, dữ liệu, nguồn lực và trách nhiệm giải trình), qua đó cung cấp cơ sở khoa học để giải quyết các khoảng trống trong mối liên kết giữa 3 trụ cột an sinh ở khu vực nông thôn. Bài viết hướng tới trả lời 3 câu hỏi nghiên cứu: (1) Những đặc thù nào khiến nhu cầu an sinh của người cao tuổi nông thôn đòi hỏi phương thức quản trị tích hợp? (2) Những khoảng trống thể chế và vận hành nào đang tồn tại giữa các lớp bảo vệ về thu nhập, y tế và chăm sóc? (3) Cơ chế quản trị công cần đổi mới ra sao để chuyển từ quản lý phân tán sang mô hình tích hợp bảo đảm an sinh tổng thể?

Về phương pháp, bài viết sử dụng phân tích chính sách và tổng hợp dữ liệu thứ cấp chính thức từ Cục Thống kê, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Chính phủ, ILO, UNFPA và WHO. Do không có điều tra thực địa độc lập, các kết luận mang tính phân tích thể chế và đề xuất giải pháp quản lý công, không được diễn giải dưới dạng đánh giá tác động nhân quả.

2. Khung tiếp cận quản trị tích hợp an sinh xã hội cho người cao tuổi

2.1. Nhu cầu an sinh đa chiều của người cao tuổi và yêu cầu tích hợp

An sinh tuổi già có tính đặc thù do các rủi ro về thu nhập, sức khỏe và nhu cầu chăm sóc thường xuất hiện đồng thời, tích lũy và tác động qua lại. Suy giảm khả năng lao động làm giảm thu nhập; bệnh mạn tính và suy giảm chức năng làm gia tăng chi phí y tế và nhu cầu chăm sóc dài hạn; trong khi biến đổi cấu trúc gia đình và di cư lao động có thể làm suy giảm khả năng chăm sóc của gia đình. Vì vậy, một người cao tuổi có thể đồng thời cần đến sự bảo vệ của nhiều chính sách, dịch vụ và chủ thể khác nhau, đặt ra yêu cầu phối hợp giữa các cấu phần của hệ thống an sinh xã hội.

Từ góc độ chăm sóc, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) nhấn mạnh việc kết nối dịch vụ y tế và chăm sóc xã hội nhằm bảo đảm quá trình chăm sóc liên tục, có sự phối hợp, thay vì cung ứng các dịch vụ riêng lẻ (WHO, 2021); đồng thời khuyến nghị phát triển hệ thống chăm sóc dài hạn gắn với mục tiêu bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân, phù hợp với nhu cầu và nguồn lực quốc gia (WHO, 2024). Cụ thể hơn, hướng dẫn chăm sóc tích hợp dành cho người cao tuổi (ICOPE) đề xuất quy trình từ sàng lọc, đánh giá chuyên sâu đến lập kế hoạch chăm sóc cá nhân, tổ chức thực hiện và theo dõi; trong đó chú trọng cả năng lực nội tại, nhu cầu hỗ trợ xã hội và vai trò của người chăm sóc (WHO, 2025). Tuy nhiên, tích hợp chăm sóc mới chỉ phản ánh một bộ phận của an sinh tuổi già, vốn còn bao gồm bảo đảm thu nhập, bảo hiểm xã hội và trợ giúp xã hội. Ở phạm vi rộng hơn, Chương trình Quốc gia về việc làm thỏa đáng tại Việt Nam giai đoạn 2022–2026 hướng tới một hệ thống an sinh xã hội và chăm sóc xã hội bao trùm, nhất quán, tích hợp, dựa trên cách tiếp cận vòng đời, rủi ro, khả năng chống chịu và đáp ứng giới (ILO, 2023). Đây là cơ sở để mở rộng tư duy tích hợp từ cung ứng dịch vụ chăm sóc sang phối hợp các cấu phần an sinh xã hội ở cấp độ hệ thống.

Tại Việt Nam, định hướng tích hợp chăm sóc đã bước đầu được cụ thể hóa thông qua mô hình do Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) và các đối tác thí điểm triển khai tại Thái Nguyên, Thanh Hóa, Nghệ An, Vĩnh Long và Đà Nẵng. Mô hình kết nối các hoạt động sàng lọc nhu cầu, lập kế hoạch chăm sóc cá nhân và quản lý ca bệnh. Sau sáu tháng triển khai, khoảng 1.500 người cao tuổi được sàng lọc và lập kế hoạch chăm sóc; hơn 1.000 cán bộ và người chăm sóc gia đình được tập huấn; đồng thời, hình thành quy trình thực hiện, tài liệu hướng dẫn và phần mềm quản lý dịch vụ (UNFPA Việt Nam, 2022). Kết quả này cho thấy tính khả thi bước đầu của việc phối hợp và quản lý dịch vụ chăm sóc người cao tuổi trong thực tiễn tại Việt Nam.

Từ các tiếp cận và kinh nghiệm trên, có thể thấy quản trị tích hợp an sinh xã hội đối với người cao tuổi không đồng nghĩa với việc hợp nhất các chương trình, quỹ hay cơ quan quản lý mà là tăng cường sự liên kết, phối hợp giữa các chính sách, tổ chức và dịch vụ dựa trên nhu cầu thực tế của người cao tuổi. Theo đó, tính chuyên môn hóa của từng lĩnh vực vẫn được duy trì, nhưng sự phân tách về chức năng không được trở thành rào cản đối với khả năng tiếp cận và thụ hưởng an sinh xã hội một cách liên tục, đồng bộ của người cao tuổi.

2.2. Nội hàm của quản trị tích hợp an sinh xã hội

Trên cơ sở kết hợp định hướng của ILO về một hệ thống an sinh xã hội và chăm sóc xã hội “bao trùm, nhất quán và tích hợp” với cách tiếp cận của WHO về chăm sóc tích hợp lấy con người làm trung tâm, tác giả đề xuất một định nghĩa: quản trị tích hợp an sinh xã hội cho người cao tuổi là quá trình Nhà nước kiến tạo và điều phối sự liên kết giữa chính sách, chủ thể, dữ liệu, nguồn lực và hệ thống cung ứng dịch vụ nhằm đáp ứng liên tục các nhu cầu về bảo đảm thu nhập, chăm sóc sức khỏe và chăm sóc xã hội của người cao tuổi, trên cơ sở lấy người cao tuổi làm trung tâm và bảo đảm trách nhiệm giải trình.

Như vậy, quản trị tích hợp an sinh xã hội cho người cao tuổi biểu hiện ở một số điểm sau:

Thứ nhất, tích hợp chính sách. Các chính sách về thu nhập, bảo hiểm y tế, chăm sóc sức khỏe, trợ giúp xã hội và chăm sóc dài hạn cần có khả năng bổ sung và chuyển tiếp cho nhau. Khoảng trống xuất hiện khi một người không đủ điều kiện theo chính sách này nhưng cũng chưa thể chuyển sang chính sách khác, hoặc khi một quyền lợi y tế không được nối tiếp bằng hỗ trợ chăm sóc sau điều trị.

Thứ hai, tích hợp chủ thể và trách nhiệm. Người cao tuổi đồng thời tương tác với cơ quan bảo hiểm xã hội, hệ thống y tế, chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội và gia đình. Quản trị tích hợp phải xác định rõ ai chịu trách nhiệm phát hiện nhu cầu, ai cung cấp dịch vụ, ai chuyển gửi và ai theo dõi kết quả.

Thứ ba, tích hợp dịch vụ. Hệ thống phải tạo được sự liên tục từ phòng ngừa, khám và điều trị, phục hồi chức năng đến hỗ trợ tại nhà, chăm sóc ban ngày và chăm sóc dài hạn. Đây chính là tinh thần của chuỗi chăm sóc dài hạn liên tục được WHO nhấn mạnh (WHO, 2021, 2024).

Thứ tư, tích hợp dữ liệu và quản lý các trường hợp. Dữ liệu không chỉ phục vụ việc kiểm tra điều kiện hưởng mà còn cần giúp nhận diện tổ hợp rủi ro của người cao tuổi, đặc biệt là nhóm có nhiều nhu cầu đồng thời.

Thứ năm, tích hợp nguồn lực và trách nhiệm giải trình. Một hệ thống chỉ thực sự tích hợp khi có thể trả lời: nguồn lực nào chi trả cho nhu cầu nào; cấp nào chịu trách nhiệm; dịch vụ do ai cung cấp; chất lượng được giám sát ra sao và ai chịu trách nhiệm khi người cao tuổi bị bỏ sót giữa các hệ thống.

3. Thực trạng về an sinh xã hội cho người cao tuổi nông thôn Việt Nam

3.1. Những bất cập trong an sinh xã hội hiện hành đối với người cao tuổi nông thôn Việt Nam

(1) Về bảo đảm thu nhập: còn khoảng trống giữa mở rộng bao phủ và an ninh thu nhập thực chất

Bảo đảm thu nhập là trụ cột cốt lõi của hệ thống an sinh xã hội dành cho người cao tuổi. Mặc dù diện bao phủ bảo hiểm xã hội đã tăng từ 23% năm 2015 lên 38% năm 2022 và dự kiến đạt khoảng 45,1% lực lượng lao động vào năm 2025 (Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2026; Gama et al., 2025), sự mở rộng này chủ yếu cải thiện triển vọng hưu trí cho lực lượng lao động hiện tại, chưa thể khắc phục ngay những thiếu hụt tích lũy của thế hệ đã qua tuổi lao động. Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 được đánh giá là một bước cải cách thể chế quan trọng, hướng tới mục tiêu bao phủ phổ quát (Gama et al., 2025). Tuy nhiên, tại khu vực nông thôn, nơi lao động phi chính thức chiếm tới 74,1% năm 2024 (Tổng cục Thống kê, 2025b), việc mở rộng phạm vi bao phủ bảo hiểm xã hội dựa trên đóng góp vẫn gặp nhiều khó khăn.

Ở tầng an sinh không dựa trên đóng góp, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 và Nghị định số 335/2026/NĐ-CP ngày 21/8/2026 đã thiết lập chế độ trợ cấp hưu trí xã hội với mức 540.000 đồng/tháng áp dụng đối với người từ đủ 75 tuổi không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội và mở rộng đến nhóm từ 70-74 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo (Chính phủ, 2026; Quốc hội, 2024). Tuy nhiên, xét từ góc độ quản trị tích hợp chính sách, thiết kế này vẫn bộc lộ hai khoảng trống lớn:

Một là, khoảng trống bao phủ. Đây là khoảng trống bảo vệ giữa bảo hiểm xã hội và trợ giúp xã hội, liên quan đến nhóm người cao tuổi chưa được bao phủ bởi các chế độ bảo hiểm xã hội dựa trên đóng góp, đồng thời không đáp ứng điều kiện thụ hưởng các chương trình trợ giúp xã hội không dựa trên đóng góp (ILO, 2017). Trong đó, những người từ đủ tuổi nghỉ hưu đến dưới 75 tuổi, không có lương hưu và không thuộc diện hộ nghèo theo quy định, vẫn chưa được tiếp cận các nguồn hỗ trợ định kỳ từ ngân sách. Mặc dù không thuộc danh sách hộ nghèo, nhiều người trong nhóm này có thu nhập thực tế rất thấp, khả năng lao động suy giảm và phải gánh chịu chi phí y tế lớn;

Hai là, khoảng trống về mức độ đầy đủ của quyền lợi. Mức trợ cấp 540.000 đồng/tháng hiện hành mới chỉ đóng vai trò là mức sàn thu nhập tối thiểu, chưa đủ để bảo đảm toàn bộ nhu cầu sinh hoạt và chi phí chăm sóc y tế. Dữ liệu VNAS 2022 cho thấy tỷ lệ người cao tuổi thuộc hộ nghèo, cận nghèo ở nông thôn là 10,4%, cao hơn so với khu vực thành thị 2,6 điểm phần trăm (UNFPA, 2026, p. 38). Thực trạng này cho thấy bảo đảm thu nhập tuổi già ở nông thôn không chỉ đặt ra thách thức về phạm vi bao phủ của chính sách mà còn gắn với bất bình đẳng vùng miền và những bất lợi tích lũy trong suốt vòng đời.

(2) Về chăm sóc sức khỏe: còn khoảng cách giữa tỷ lệ bao phủ bảo hiểm và tiếp cận dịch vụ thực chất

Mặc dù tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân đạt khoảng 95,16% vào cuối năm 2025 (Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2026), việc bảo đảm chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi đòi hỏi phải phân biệt 3 cấp độ: có thẻ bảo hiểm y tế, khả năng tiếp cận dịch vụ và khả năng thụ hưởng chuỗi dịch vụ phù hợp với đặc thù của người cao tuổi. Khác với dân số trẻ, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi tập trung vào quản lý đa bệnh mạn tính, theo dõi chức năng và hỗ trợ lâu dài. Dữ liệu VNAS 2022 cho thấy gần 61% người cao tuổi mắc từ ba bệnh trở lên, 55% gặp khó khăn trong việc di chuyển và 45% bị hạn chế trong các hoạt động sinh hoạt hằng ngày; các tỷ lệ này ở nông thôn và ở nữ giới cao hơn đáng kể (UNFPA, 2026, p. 38).

Về thể chế, Quyết định số 1116/QĐ-TTg ngày 22/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ đánh dấu bước tiến quan trọng với quy định về khám sức khỏe định kỳ, sàng lọc miễn phí ít nhất 1 lần mỗi năm và việc lập hồ sơ quản lý sức khỏe cho người cao tuổi (Thủ tướng Chính phủ, 2026). Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả chính sách, hồ sơ sức khỏe cần trở thành “cửa vào” của hệ thống quản trị tích hợp, kết nối chẩn đoán bệnh với đánh giá suy giảm chức năng và chuyển gửi đến dịch vụ xã hội, thay vì chỉ dừng ở việc lưu trữ thông tin y tế. Khung chăm sóc tích hợp ICOPE của WHO, với phương pháp đánh giá đa chiều về năng lực nội tại, vận động, nhận thức, dinh dưỡng, tâm lý và hỗ trợ xã hội, cung cấp cơ sở tham khảo để bổ sung cho mô hình quản lý bệnh mạn tính hiện hành (WHO, 2025).

Tại khu vực nông thôn, việc chuyển hóa quyền lợi bảo hiểm y tế thành kết quả chăm sóc sức khỏe thực chất vẫn còn gặp rào cản do khoảng cách địa lý và năng lực cung ứng của y tế cơ sở. UNFPA chỉ ra rằng khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc chính thức, đặc biệt là chăm sóc tại nhà do nhân lực được đào tạo và trả công, vẫn còn hạn chế và có sự bất bình đẳng giữa các vùng miền (UNFPA Việt Nam, 2025). Vì vậy, nâng cao năng lực y tế cơ sở, chuyển từ vai trò chủ yếu “khám ban đầu và chuyển tuyến” sang “trung tâm quản lý và theo dõi sức khỏe liên tục” sẽ là giải pháp đột phá nhằm thu hẹp khoảng cách giữa mức độ bao phủ bảo hiểm y tế và khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe thực chất.

(3) Chăm sóc xã hội và chăm sóc dài hạn vẫn còn là lỗ hổng trong kiến trúc hệ thống an sinh hiện hành

Chăm sóc dài hạn được WHO xác định là hệ thống dịch vụ và hỗ trợ đa ngành (kết hợp y tế và xã hội) nhằm duy trì năng lực chức năng, phẩm giá và chất lượng cuộc sống cho người suy giảm khả năng tự chăm sóc (WHO, 2021, 2024). Tại Việt Nam, đây vẫn là một mắt xích chưa hoàn thiện. Theo Điều tra biến động dân số và kế hoạch hoá gia đình năm 2021, khoảng 80% người cao tuổi cần trợ giúp trong các hoạt động hằng ngày do người thân trong gia đình (chủ yếu là phụ nữ) chăm sóc (Tổng cục Thống kê, 2022). Tuy nhiên, ở nông thôn Việt Nam, trụ cột chăm sóc gia đình truyền thống đang dần suy yếu dưới tác động của làn sóng di cư lao động, xu hướng thu nhỏ quy mô gia đình và gánh nặng lên người chăm sóc cũng ngày càng tăng khi họ lớn tuổi. Đáng chú ý, khoảng 90% người cao tuổi có nguyện vọng được chăm sóc tại gia đình và cộng đồng (Tổng cục Thống kê, 2022). Thực tế này đặt ra yêu cầu định hình chính sách chăm sóc dài hạn theo chiến lược “già hóa tại chỗ” (aging in place), tức là hỗ trợ người cao tuổi sống tại gia đình gắn với sự đồng hành của mạng lưới dịch vụ chuyên môn. Dịch vụ chăm sóc tại nhà chính thức hiện mới chỉ đáp ứng khoảng 3–5% nhu cầu của người cao tuổi và phân bổ không đồng đều (UNFPA Việt Nam, 2025). Tuy nhiên, các mô hình thí điểm quản lý trường hợp và chăm sóc tích hợp do UNFPA hỗ trợ tại 5 tỉnh/thành phố (Thái Nguyên, Thanh Hóa, Nghệ An, Vĩnh Long, Đà Nẵng) đã cung cấp những minh chứng thực tiễn ban đầu (UNFPA Việt Nam, 2022).

Cùng với Quyết định số 1116/QĐ-TTg về việc phát triển mô hình chăm sóc ban ngày, câu lạc bộ và tình nguyện viên cơ sở (Thủ tướng Chính phủ, 2026), thể chế an sinh đang dịch chuyển từ tư duy khám chữa bệnh đơn thuần sang phát triển một hệ sinh thái dịch vụ đa dạng. Để hoàn thiện kiến trúc này, bài toán quản trị đặt ra là phải xây dựng cơ chế kết nối đồng bộ giữa các thành tố như đối tượng, dữ liệu, quy trình chuyển gửi, tiêu chuẩn chất lượng và nguồn lực tài chính.

3.2. Những điểm nghẽn của quản trị tích hợp an sinh xã hội cho người cao tuổi nông thôn

Những bất cập trong bảo đảm thu nhập, chăm sóc sức khỏe và chăm sóc xã hội nêu trên không chỉ đơn thuần là hệ quả của sự thiếu hụt nguồn lực tài chính hay cơ sở vật chất, mà sâu xa hơn, chúng bắt nguồn từ các điểm nghẽn mang tính hệ thống trong mô hình quản trị công hiện hành. Việc nhận diện và giải quyết các điểm nghẽn ở cấp độ quản trị này là điều kiện tiên quyết để chuyển đổi từ phương thức quản lý phân tán, cắt khúc sang kiến tạo một hệ thống an sinh xã hội tích hợp, thích ứng bền vững với quá trình già hóa dân số ở khu vực nông thôn.

Một là, nhu cầu mang tính tích hợp nhưng chính sách vẫn chủ yếu được quản lý theo từng chế độ.

Điểm nghẽn đầu tiên nằm ở sự khác biệt giữa cấu trúc nhu cầu của người cao tuổi và cấu trúc chính sách. Một người cao tuổi có thể đồng thời cần thu nhập, thuốc điều trị bệnh mạn tính, phục hồi chức năng và người hỗ trợ sinh hoạt. Tuy nhiên, mỗi nhu cầu lại được tiếp nhận qua một hệ thống khác nhau với điều kiện hưởng, dữ liệu, cơ quan thực hiện và nguồn tài chính khác nhau. Điều đó không có nghĩa là các chính sách hiện hành sai hoặc cần phải được hợp nhất. Vấn đề nằm ở chỗ thiếu các cơ chế chuyển tiếp đủ mạnh. Một người không có lương hưu nhưng đã nhận trợ cấp hưu trí xã hội và bảo hiểm y tế vẫn có thể không được hệ thống tự động nhận diện khi chức năng suy giảm. Ngược lại, một người cao tuổi có lương hưu nhưng sống một mình và phụ thuộc vào sự chăm sóc vẫn có thể nằm ngoài hệ thống hỗ trợ xã hội. Đây chính là điểm khác biệt giữa quản lý chế độ và quản trị nhu cầu. Quản lý chế độ trả lời “người này có thuộc điều kiện hưởng chính sách nào đó không”; quản trị tích hợp phải trả lời thêm “người này hiện có những rủi ro nào và cần những hỗ trợ nào để duy trì cuộc sống an toàn, độc lập và có phẩm giá”.

Hai là, khoảng cách giữa chăm sóc sức khỏe và chăm sóc xã hội.

Y tế – chăm sóc sức khỏe và chăm sóc xã hội có logic chuyên môn khác nhau, nhưng đối với người cao tuổi, hai lĩnh vực này giao nhau rất rõ ràng. Điều trị tại bệnh viện có thể thành công về mặt lâm sàng, nhưng kết quả cuối cùng vẫn bị hạn chế nếu bệnh nhân trở về nhà mà không có phục hồi chức năng, hỗ trợ sinh hoạt hoặc người chăm sóc. WHO coi kết nối giữa hệ thống y tế và xã hội là yếu tố nền tảng của chuỗi chăm sóc dài hạn (WHO, 2021). Đối với Việt Nam, điểm giao này cần được cụ thể hóa thành quy trình chuyển tiếp: đánh giá chức năng trước khi xuất viện; thông tin cho tuyến cơ sở; kế hoạch theo dõi; xác định người chăm sóc; và kích hoạt dịch vụ xã hội khi người bệnh có mức độ phụ thuộc cao. Ở nông thôn, khoảng trống này có thể nghiêm trọng hơn vì trên thực tế, mật độ phân bố dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp cho người cao tuổi thường thấp hơn và bằng chứng của UNFPA cho thấy sự thiếu hụt dịch vụ chăm sóc chính thức ở khu vực nông thôn (UNFPA, 2022).

Ba là, dữ liệu mạnh về xác định quyền lợi nhưng chưa đầy đủ về nhận diện nhu cầu.

Việt Nam có lợi thế ngày càng lớn về dữ liệu dân cư, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và hồ sơ sức khỏe điện tử. Tuy nhiên, quản trị tích hợp đòi hỏi dữ liệu phải tiến thêm một bước nữa.

Biết rằng một người 78 tuổi không có lương hưu và đang có bảo hiểm y tế là cần thiết, nhưng vẫn chưa đủ. Để lập kế hoạch hỗ trợ, hệ thống còn cần biết họ có sống một mình không, có thể tự đi lại không, có suy giảm nhận thức hay không, ai là người chăm sóc và người chăm sóc có khả năng tiếp tục đảm nhận vai trò đó hay không. Do vậy, tích hợp dữ liệu không chỉ là “kết nối cơ sở dữ liệu” mà còn là thiết kế dữ liệu phục vụ cho việc ra quyết định quản trị. Một bộ chỉ báo tối thiểu về thu nhập, bệnh mạn tính, các hoạt động sinh hoạt hàng ngày cơ bản/phức tạp (ADL/IADL) và nguồn lực chăm sóc có thể giúp phân tầng nguy cơ và xác định nhóm cần quản lý ca bệnh.

Bốn là, gia đình thực hiện phần lớn hoạt động chăm sóc nhưng chưa được tích hợp đầy đủ như một chủ thể của chính sách.

Các thành viên gia đình hiện vừa là “nhà cung cấp chăm sóc” lớn nhất, vừa là nơi gánh chịu phần lớn chi phí vô hình của việc chăm sóc khi về già. Khi khoảng 80% người cao tuổi cần hỗ trợ trong các hoạt động sinh hoạt hằng ngày, chủ yếu do thành viên gia đình, năng lực và sức khỏe của người chăm sóc trở thành yếu tố trực tiếp quyết định kết quả an sinh của người cao tuổi (Tổng cục Thống kê, 2022). Tuy nhiên, nếu chính sách chỉ yêu cầu “phát huy vai trò gia đình” mà thiếu đào tạo, tư vấn, thiết bị hỗ trợ, hỗ trợ nghỉ thay thế hoặc dịch vụ chăm sóc tại nhà, gánh nặng này vẫn sẽ thuộc về các hộ gia đình. Vì phụ nữ chiếm phần lớn vai trò người chăm sóc nên vấn đề này đồng thời liên quan đến khía cạnh bình đẳng giới. Quản trị tích hợp vì vậy phải nhìn gia đình không chỉ là nguồn lực sẵn có mà còn là một đối tác cần được hỗ trợ.

Năm là, chênh lệch vùng miền/Khoảng cách địa lý làm giảm hiệu quả bao trùm của chính sách.

Một khung pháp lý thống nhất không bảo đảm kết quả thực hiện đồng nhất ở mọi địa bàn. Chi phí cung ứng dịch vụ cho dân cư phân tán, thiếu nhân lực chuyên môn và khoảng cách địa lý đến cơ sở y tế đang tạo ra nhiều rào cản hơn đối với người cao tuổi ở các khu vực nông thôn, miền núi và vùng sâu, vùng xa. Nhận định này được củng cố bởi hai nhóm bằng chứng: (1) VNAS 2022 cho thấy người cao tuổi nông thôn có tỷ lệ sống trong hộ nghèo/cận nghèo và tỷ lệ khó khăn trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày cao hơn người cao tuổi thành thị (UNFPA, 2026, p. 38); (2) UNFPA cho rằng đầu tư vào hệ thống chăm sóc cần đặc biệt chú ý khu vực nông thôn và vùng dân tộc thiểu số để cải thiện khả năng tiếp cận (UNFPA Viet Nam, 2022). Vì vậy, sự chênh lệch giữa các vùng miền không chỉ là vấn đề phân bố cơ sở dịch vụ mà còn là sự giao thoa giữa những bất lợi về kinh tế, sức khỏe và năng lực cung ứng. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết: việc phân bổ nguồn lực không thể chỉ dựa vào quy mô dân số, mà phải căn cứ theo cấu trúc nhu cầu thực tế của từng địa phương, bao gồm tỷ lệ người cao tuổi, mức độ suy giảm chức năng, khoảng cách địa lý, tỷ lệ nghèo và năng lực thực tế của hệ thống dịch vụ y tế sở tại.

4. Định hướng hoàn thiện quản trị tích hợp an sinh xã hội cho người cao tuổi ở nông thôn

4.1. Chuyển từ quản lý từng chế độ sang quản lý nhu cầu đối với nhóm người cao tuổi có nguy cơ cao

Bước chuyển mang tính nền tảng là thay đổi theo hướng: không chỉ quản lý “hồ sơ chính sách” mà còn từng bước quản lý “trường hợp người cao tuổi” đối với nhóm có nhu cầu phức hợp. Tất nhiên, không phải mọi người cao tuổi đều cần quản lý trường hợp. Những người khỏe mạnh, độc lập và có mạng lưới gia đình tốt không cần một quy trình hành chính phức tạp. Quản lý trường hợp nên tập trung vào các nhóm nguy cơ cao: sống một mình, thu nhập thấp, đa bệnh, suy giảm các hoạt động sinh hoạt hàng ngày cơ bản/phức tạp, khuyết tật, không có người chăm sóc hoặc người chăm sóc quá tải.

Đánh giá ban đầu có thể sử dụng 4 nhóm thông tin tối thiểu: an ninh thu nhập; tình trạng sức khỏe; mức độ độc lập chức năng; và nguồn lực chăm sóc của gia đình. Cách làm này phù hợp với nguyên lý đánh giá lấy con người làm trung tâm của ICOPE (WHO, 2025). Sau đánh giá, người cao tuổi không phải tự đi tìm từng chính sách mà được kết nối tới những quyền lợi và dịch vụ phù hợp. Đây chính là điểm phân biệt giữa “nhiều chính sách cùng tồn tại” và một hệ thống tích hợp.

4.2. Phát triển đơn vị cấp xã thành điểm kết nối dịch vụ

Đối với nông thôn, quản trị tích hợp khó có thể vận hành nếu tất cả các chức năng điều phối đặt ở cấp tỉnh hoặc ở các cơ sở chuyên môn xa cộng đồng. Cấp xã là nơi có khả năng nhận diện hoàn cảnh thực tế của người cao tuổi và kết nối giữa chính quyền, trạm y tế, Hội Người cao tuổi, cộng tác viên xã hội và gia đình. Do vậy, cấp xã cần xác định đầu mối quản lý trường hợp và, trước mắt, có thể lựa chọn một số địa bàn có mức độ già hóa cao, tỷ lệ người cao tuổi sống một mình lớn hoặc có điều kiện tiếp cận dịch vụ khó khăn để thí điểm cơ chế đầu mối kết nối trường hợp ở cấp cơ sở. Điều cần thiết là xác định rõ quy trình liên ngành trong quản lý trường hợp người cao tuổi (ai phát hiện; ai đánh giá ban đầu; ai quyết định chuyển gửi; cơ quan nào tiếp nhận; trường hợp nào cần theo dõi và ai chịu trách nhiệm đảm bảo phản hồi). Kinh nghiệm thí điểm của UNFPA tại 5 địa phương, trong đó đã sử dụng sàng lọc nhu cầu, kế hoạch chăm sóc cá nhân và phần mềm quản lý, cho thấy Việt Nam đã có nền tảng thực tiễn để tiếp tục phát triển mô hình này (UNFPA Việt Nam, 2022).

4.3. Kết nối bảo đảm thu nhập, sức khỏe và chăm sóc thành ba lớp bổ trợ nhau

Trong quản trị tích hợp, ba lớp không thể thay thế cho nhau. Thu nhập giúp người cao tuổi đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và các chi phí ngoài phạm vi bảo hiểm. Bảo hiểm y tế và hệ thống y tế giúp phòng ngừa, điều trị và quản lý bệnh tật. Chăm sóc dài hạn hỗ trợ khi người cao tuổi không còn khả năng tự thực hiện đầy đủ các hoạt động sinh hoạt. Do vậy, cải cách chính sách an sinh tuổi già trong thời gian tới cần đồng thời giải quyết ba vấn đề: tiếp tục mở rộng hưu trí đóng góp đối với các thế hệ lao động hiện nay; thu hẹp khoảng trống an ninh thu nhập của những người đã bước vào tuổi già mà không có lương hưu; và phát triển khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc khi xuất hiện phụ thuộc chức năng. Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc tiếp tục giảm dần tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội, phù hợp với điều kiện phát triển và khả năng ngân sách (Quốc hội, 2024). Đây là một cơ chế quan trọng để tiếp tục xử lý nhóm ở giữa hệ thống đóng góp và hỗ trợ không đóng góp trong tương lai.

4.4. Xây dựng chuỗi chăm sóc dài hạn theo nguyên tắc “già hóa tại nơi cư trú”

Khi khoảng 90% người cao tuổi mong muốn được chăm sóc tại nhà, chính sách chăm sóc dài hạn không nên đồng nhất với việc xây dựng thêm các cơ sở dưỡng lão (Tổng cục Thống kê, 2022). Một cấu trúc phù hợp hơn với nông thôn Việt Nam là chuỗi dịch vụ nhiều tầng: tự chăm sóc và dự phòng; hỗ trợ của gia đình; mạng lưới cộng đồng; chăm sóc tại nhà; chăm sóc ban ngày; phục hồi chức năng; và chăm sóc nội trú đối với những trường hợp thực sự cần thiết. Già hóa tại nơi cư trú (Ageing in place) không có nghĩa là gia đình phải tự chịu toàn bộ trách nhiệm. Ngược lại, điều kiện để người cao tuổi có thể sống tại nhà lâu hơn là phải có dịch vụ chuyên môn hỗ trợ phía sau. WHO nhấn mạnh rằng hệ thống chăm sóc dài hạn bền vững cần tích hợp dịch vụ y tế và xã hội, lực lượng chăm sóc, tài chính và cơ chế bảo đảm chất lượng (WHO, 2021, 2024).

Đối với Việt Nam, nhất là ở khu vực nông thôn, Nhà nước cần từng bước xác định gói dịch vụ chăm sóc dài hạn tối thiểu, tiêu chí đánh giá mức độ phụ thuộc, tiêu chuẩn người chăm sóc và cơ sở cung cấp, cơ chế kiểm định chất lượng và phương thức tài chính phù hợp.

4.5. Thể chế hóa hỗ trợ người chăm sóc gia đình

Vì gia đình vẫn là nguồn chăm sóc chủ yếu, chính sách đối với người chăm sóc tại gia đình cần được xem là một phần của chính sách dành cho người cao tuổi. Trước mắt, có thể ưu tiên những biện pháp có tính khả thi cao: đào tạo kỹ năng chăm sóc tại cộng đồng; tư vấn quản lý thuốc và dinh dưỡng; hướng dẫn đề phòng việc bị ngã, loét tỳ đè và chăm sóc người suy giảm nhận thức; hỗ trợ tiếp cận dụng cụ trợ giúp; đường dây tư vấn; nhóm hỗ trợ người chăm sóc; và phát triển dịch vụ chăm sóc thay thế ngắn hạn. Về dài hạn, cần nghiên cứu cơ chế tài chính phù hợp cho trường hợp phụ thuộc nặng. Tuy nhiên, việc này cần được đặt trong chương trình nghiên cứu chính sách chăm sóc dài hạn quốc gia để xác định rõ ràng, đầy đủ bằng chứng về nhu cầu, chi phí và khả năng đóng góp. Cách tiếp cận này cũng phù hợp với WHO khi coi người chăm sóc không trả công vừa là nhà cung cấp dịch vụ, vừa là nhóm cần được hệ thống hỗ trợ để tránh các hệ quả bất lợi về sức khỏe và kinh tế (WHO, 2024).

4.6. Xây dựng dữ liệu tích hợp phục vụ phân tầng nguy cơ và quản lý trường hợp

Chuyển đổi số tạo điều kiện về mặt kỹ thuật để thay đổi cách thức quản trị an sinh xã hội đối với người cao tuổi. Có thể từng bước kết nối dữ liệu dân cư, bảo hiểm xã hội/bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội và hồ sơ sức khỏe theo nguyên tắc đúng thẩm quyền và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Với người cao tuổi có nguy cơ cao, cần bổ sung bộ dữ liệu tối thiểu về các hoạt động sinh hoạt hàng ngày cơ bản/phức tạp (ADL/IADL), hoàn cảnh sống và mạng lưới người chăm sóc. Khi đó, hệ thống có thể chủ động phát hiện thay vì chỉ chờ người dân nộp hồ sơ (ví dụ, một người đủ tuổi nhưng chưa tiếp cận quyền lợi; một người cao tuổi thường xuyên nhập viện; một người sống một mình sau xuất viện hoặc một người chăm sóc có dấu hiệu quá tải).

Tuy nhiên, dữ liệu chỉ có ý nghĩa quản trị khi nó dẫn đến hành động. Vì vậy, mỗi chỉ báo nguy cơ phải gắn với một quy trình phản hồi và một chủ thể chịu trách nhiệm.

4.7. Đổi mới vai trò của Nhà nước từ quản lý chương trình sang quản trị kết quả an sinh xã hội cho người cao tuổi

Một hệ thống an sinh tích hợp không đồng nghĩa với việc Nhà nước phải trực tiếp cung cấp mọi dịch vụ. Gia đình, cộng đồng, tổ chức xã hội và khu vực tư có thể tham gia với những lợi thế riêng. Tuy nhiên, Nhà nước vẫn phải giữ vai trò trung tâm trong việc kiến tạo thể chế, bảo đảm nguồn lực cơ bản, thiết lập chuẩn chất lượng, điều phối mạng lưới và bảo vệ các nhóm yếu thế. Trong chăm sóc dài hạn, Nhà nước cần tránh hai cực đoan: hoặc bao cấp toàn bộ dịch vụ, khó bền vững về tài chính; hoặc thị trường hóa hoàn toàn, khiến khả năng chi trả quyết định khả năng được chăm sóc. Vai trò thích hợp hơn là thiết lập gói bảo đảm cơ bản, huy động đa dạng nhà cung cấp, sử dụng đặt hàng hoặc mua dịch vụ khi phù hợp và giám sát chất lượng.

Đồng thời, đánh giá hiệu quả quản trị cần chuyển từ các chỉ tiêu đầu vào và đầu ra đơn giản sang các chỉ tiêu về kết quả. Ngoài số người nhận trợ cấp, tỷ lệ bảo hiểm y tế hay số cơ sở chăm sóc, cần theo dõi tỷ lệ người cao tuổi nguy cơ cao được đánh giá nhu cầu; tỷ lệ được kết nối dịch vụ sau xuất viện; thời gian tiếp cận dịch vụ; mức độ duy trì khả năng sống độc lập; gánh nặng của người chăm sóc; và chênh lệch tiếp cận giữa các vùng. Đó chính là sự chuyển dịch từ “cơ quan đã thực hiện bao nhiêu hoạt động” sang “người cao tuổi đã được bảo vệ như thế nào” –tiêu chí cốt lõi của quản trị lấy người dân làm trung tâm.

5. Kết luận

Già hóa dân số nhanh tại khu vực nông thôn Việt Nam đang tạo ra những thách thức đa chiều về an sinh tuổi già, khi rủi ro suy giảm thu nhập, bệnh tật mạn tính và nhu cầu chăm sóc dài hạn xuất hiện đồng thời trong điều kiện nguồn lực gia đình dần thu hẹp. Bài viết hệ thống chính sách an sinh xã hội hiện hành dù đã mở rộng đáng kể về diện bao phủ, nhưng vẫn vận hành theo phương thức quản lý phân tán, chia rẽ giữa các chế độ bảo đảm thu nhập, chăm sóc y tế và hỗ trợ xã hội. Điều này dẫn đến những khoảng trống bảo vệ nghiêm trọng đối với nhóm người cao tuổi yếu thế ở nông thôn – đặc biệt là nhóm từ đủ tuổi nghỉ hưu đến dưới 75 tuổi không có lương hưu, người mắc suy giảm chức năng và các hộ gia đình đang gánh chịu chi phí chăm sóc vô hình.

Chuyển đổi từ “quản lý theo từng chế độ” sang “quản trị tích hợp lấy nhu cầu người cao tuổi làm trung tâm” là một lựa chọn chiến lược mang tính đột phá nhằm xây dựng một hệ thống an sinh xã hội thích ứng bền vững với quá trình già hóa dân số. Việc kiến tạo mô hình quản trị tích hợp đòi hỏi triển khai đồng bộ các trụ cột giải pháp: lấy cấp xã làm đầu mối kết nối dịch vụ; áp dụng quản lý trường hợp cho nhóm nguy cơ cao; phát triển chuỗi chăm sóc dài hạn theo nguyên tắc “già hóa tại nơi cư trú”; thể chế hóa các chính sách hỗ trợ người chăm sóc gia đình; tích hợp dữ liệu dân cư – y tế – an sinh phục vụ phân tầng nguy cơ; và đổi mới vai trò của Nhà nước từ quản lý chương trình sang quản trị kết quả an sinh. Việc hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi quản trị tích hợp không chỉ giúp thu hẹp khoảng cách an sinh giữa các vùng miền mà còn góp phần bảo đảm quyền được sống an toàn, độc lập và có phẩm giá cho người cao tuổi nông thôn Việt Nam trong tiến trình phát triển.

Tài liệu tham khảo:
Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2026). Kết quả thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế năm 2025. Cổng Thông tin điện tử Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Chính phủ (2025). Nghị định số 176/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về trợ cấp hưu trí xã hội.
Chính phủ (2026). Nghị định số 335/2026/NĐ-CP ngày 21/8/2026 quy định về chính sách trợ giúp xã hội.
Cục Thống kê (2026). Một số nét chính về tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2025 – Tổng cục Thống kê Việt Nam.
Gama, A., Nguyen, H. D., & Knox-Vydmanov, C. (2025). The future of social insurance in Viet Nam: Policy options and recommendations. International Labor Organization. https://doi.org/10.54394/NLRW4215
International Labor Organization (2017). Viet Nam’s social insurance reforms to be gradual, evidence-based. International Labor Organization.
International Labor Organization (2023). Decent Work Country Program Viet Nam 2022–2026: The future of work we create. International Labor Organization.
Jackson, M. (2026). Population aging in Viet Nam: From demographic transition to development opportunity. United Nations Population Fund Viet Nam.
Nguyễn, T. L. (26/3/2026). Thực hiện chính sách an sinh xã hội cho người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/03/26/thuc-hien-chinh-sach-an-sinh-xa-hoi-cho-nguoi-cao-tuoi-o-viet-nam-hien-nay/
Quốc hội (2009). Luật Người cao tuổi năm 2009.
Quốc hội (2024). Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024.
Tạ, T.H. (11/11/2025). Hình thành và phát triển hệ sinh thái chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam nhằm thích ứng với quá trình già hóa dân số. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/11/11/hinh-thanh-va-phat-trien-he-sinh-thai-cham-soc-nguoi-cao-tuoi-o-viet-nam-thich-ung-voi-gia-hoa-dan-so/
Trí Dũng (08/7/2026). Hội thảo nghiên cứu xây dựng mô hình chăm sóc người cao tuổi nhằm thích ứng với quá trình già hóa dân số. Cục Dân số – Bộ Y tế. https://vnpa.moh.gov.vn/hoi-thao-nghien-cuu-xay-dung-mo-hinh-cham-soc-nguoi-cao-tuoi-nham-thich-ung-voi-gia-hoa-dan-so/
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 1116/QĐ-TTg ngày 22/6/2026 sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1579/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đến năm 2030.
Tổng cục Thống kê (2022). Người cao tuổi Việt Nam: Phân tích từ Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình năm 2021. Tổng cục Thống kê và Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc.
Tổng cục Thống kê (2025a). Thông cáo báo chí về kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024.
Tổng cục Thống kê (2025b). Thông cáo báo chí về tình hình lao động và việc làm quý IV và năm 2024.
United Nations Population Fund (2026). UNFPA Viet Nam 10th country program (2022–2026): Evaluation report. United Nations Population Fund.
UNFPA Viet Nam. (2022, May 30). UNFPA’s interventions towards the development of a care ecosystem for older persons in Viet Nam.
UNFPA Viet Nam (2025). Applying foresight to curate a care economy for older persons in Viet Nam. United Nations Population Fund.
World Health Organization (2021). Framework for countries to achieve an integrated continuum of long-term care. World Health Organization.
World Health Organization (2024). Long-term care for older people: Package for universal health coverage. World Health Organization.
World Health Organization (2025). Integrated care for older people (ICOPE): Guidance for person-centered assessment and pathways in primary care (2nd ed.). World Health Organization.