Bảo đảm sinh kế gắn với công bằng xã hội cho đồng bào Khmer ở thành phố Cần Thơ

Ensuring livelihood security in association with social equity for the Khmer community in Can Tho City

ThS. Quách Văn Nghiêm
Học viện Chính trị khu vực IV
Email: quachnghiem2021@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích mức độ gắn kết giữa bảo đảm sinh kế của đồng bào Khmer ở thành phố Cần Thơ với công bằng xã hội trên các phương diện tiếp cận nguồn lực, cơ hội phát triển, tham gia và thụ hưởng thành quả phát triển. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, điều tra xã hội học, thống kê mô tả và so sánh, phân tích. Trên cơ sở tổng kết những kết quả đạt được, bài viết chỉ ra những vấn đề đặt ra trong gắn kết giữa bảo đảm sinh kế với công bằng xã hội. Từ đó, đề xuất các hàm ý chính sách theo hướng lấy công bằng xã hội làm nguyên tắc xuyên suốt trong thiết kế, tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách bảo đảm sinh kế; đồng thời, bổ sung cách tiếp cận nghiên cứu về bảo đảm sinh kế gắn với công bằng xã hội, cũng như cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện chính sách dân tộc và phát triển bao trùm.

Từ khóa: Bảo đảm sinh kế; công bằng xã hội; đồng bào Khmer; thành phố Cần Thơ; chính sách dân tộc.

Abstract: The article analyzes the degree of connection between ensuring the livelihoods of Khmer people in Can Tho City and social equity in terms of access to resources, development opportunities, participation, and enjoyment of development achievements. The article uses methods of analysis, document synthesis, sociological survey, descriptive statistics, comparison, and analysis. Based on summarizing the achieved results, the article points out issues arising in connecting livelihood assurance with social equity. From there, it proposes policy implications towards taking social equity as a guiding principle in designing, organizing implementation, and evaluating livelihood assurance policies. It also supplements research approaches on livelihood assurance linked to social equity and provides a scientific basis for perfecting ethnic policies and inclusive development.

Keywords: Ensuring livelihoods; social equity; Khmer people; Can Tho City; ethnic policy.

1. Đặt vấn đề

Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội luôn là mục tiêu xuyên suốt trong đường lối phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: phát triển nhanh và bền vững phải gắn với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển; đồng thời chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Trong bối cảnh đó, bảo đảm sinh kế không chỉ có ý nghĩa tạo việc làm, nâng cao thu nhập mà còn là điều kiện quan trọng để mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn lực, cơ hội phát triển và thụ hưởng thành quả phát triển một cách công bằng.

Thành phố Cần Thơ có 411.345 người Khmer, chiếm 12,77% dân số toàn thành phố, là địa phương có quy mô dân số Khmer lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long (UBND thành phố Cần Thơ, 2025b). Những năm qua, việc triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia, chính sách dân tộc và chính sách an sinh xã hội đã thúc đẩy cải thiện điều kiện sống của đồng bào Khmer. Tuy nhiên, sự khác biệt về khả năng tiếp cận nguồn lực sản xuất, việc làm, dịch vụ xã hội cơ bản và cơ hội phát triển giữa các nhóm dân cư vẫn còn tồn tại, nhất là ở những địa bàn chịu nhiều tác động của điều kiện tự nhiên và quá trình chuyển đổi sinh kế (UBND thành phố Cần Thơ, 2025a).

Thời gian qua, các nghiên cứu đã đề cập khá nhiều đến sinh kế, sinh kế bền vững, giảm nghèo và thích ứng với biến đổi khí hậu; tuy nhiên, còn thiếu những nghiên cứu tiếp cận bảo đảm sinh kế của đồng bào Khmer dưới góc độ công bằng xã hội. Để đánh giá vấn đề này, bài viết sử dụng khung phân tích, gồm ba phương diện: (1) Công bằng trong tiếp cận các nguồn lực phát triển; (2) Công bằng trong tạo lập cơ hội phát triển; (3) Công bằng trong tham gia, thụ hưởng thành quả phát triển. Ba phương diện này được lựa chọn nhằm phản ánh đầy đủ quá trình từ tiếp cận nguồn lực, mở rộng cơ hội phát triển đến kết quả tham gia và thụ hưởng thành quả phát triển của đồng bào Khmer. Trên cơ sở khung phân tích đó, bài viết đánh giá mức độ gắn kết giữa bảo đảm sinh kế với công bằng xã hội, đồng thời đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm sinh kế của đồng bào Khmer ở thành phố Cần Thơ.

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu gồm: phân tích, tổng hợp tài liệu; điều tra xã hội học; thống kê mô tả và phương pháp so sánh, phân tích. Nguồn dữ liệu được khai thác từ các văn kiện của Đảng, chính sách của Nhà nước, báo cáo của UBND thành phố Cần Thơ và các công trình nghiên cứu liên quan.

Phương pháp điều tra xã hội học được thực hiện thông qua điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc đối với 188 hộ đồng bào Khmer và 156 cán bộ trực tiếp tham gia hoặc liên quan đến công tác dân tộc, giảm nghèo và bảo đảm sinh kế. Địa bàn khảo sát được lựa chọn có chủ đích tại 5 xã, phường (xã Trần Đề, xã Lịch Hội Thượng, xã Nhơn Mỹ, phường Khánh Hòa, xã Long Phú) của thành phố Cần Thơ có đông đồng bào Khmer và chịu tác động khác nhau của các yếu tố bất lợi đối với sinh kế. Bảng hỏi được xây dựng bám sát mục tiêu nghiên cứu, khảo sát thử trước khi điều tra chính thức nhằm điều chỉnh nội dung, cách diễn đạt và cấu trúc câu hỏi. Sau khi thu thập, toàn bộ phiếu khảo sát được rà soát, loại bỏ các phiếu không hợp lệ, mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS và Excel. Dữ liệu được kiểm tra tính đầy đủ, logic và nhất quán giữa các biến; các kết quả phân tích chỉ sử dụng những phiếu hợp lệ, qua đó bảo đảm tính khách quan, độ tin cậy và ý nghĩa thống kê của các kết quả nghiên cứu.

3. Kết quả nghiên cứu

Thứ nhất, bảo đảm sinh kế gắn với công bằng trong tiếp cận các nguồn lực phát triển.

Quán triệt chủ trương của Đảng về ưu tiên phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thành phố Cần Thơ đã triển khai đồng bộ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021 – 2030 cùng nhiều chính sách về tín dụng ưu đãi, hỗ trợ sản xuất, nhà ở, nước sinh hoạt, đào tạo nghề và đầu tư hạ tầng. Theo báo cáo của UBND thành phố, đã ban hành trên 170 văn bản quản lý, điều hành và hướng dẫn thực hiện chính sách bảo đảm sinh kế (UBND thành phố Cần Thơ, 2025a). Các chính sách được cụ thể hóa theo hướng ưu tiên hộ nghèo, cận nghèo, hộ thiếu đất sản xuất và những địa bàn có đông đồng bào Khmer sinh sống, chịu nhiều ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu, qua đó từng bước mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn lực thiết yếu phục vụ phát triển sinh kế.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, nguồn lực đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số được tăng cường đáng kể. Cụ thể, tổng nguồn vốn phân bổ, điều chỉnh cho ba địa phương cũ của thành phố Cần Thơ (gồm thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Hậu Giang) giai đoạn 2022 – 2025 đạt 1.517.701 triệu đồng, trong đó ngân sách trung ương 1.270.633 triệu đồng, ngân sách địa phương 157.056 triệu đồng, vốn tín dụng Ngân hàng Chính sách xã hội 82.348 triệu đồng, vốn lồng ghép 7.664 triệu đồng và vốn huy động khác 11.203 triệu đồng (UBND thành phố Cần Thơ, 2025a). Riêng tín dụng ưu đãi thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2022 – 2024 đã hỗ trợ 1.371 lượt hộ vay với tổng nguồn vốn 94,3 tỷ đồng; các chương trình tín dụng khác tiếp tục hỗ trợ 13.335 lượt hộ dân tộc thiểu số vay vốn phát triển sản xuất và tạo việc làm. Đồng thời, các chính sách về nhà ở, nước sinh hoạt, hạ tầng và hỗ trợ sản xuất được triển khai đồng bộ, tạo điều kiện cải thiện điều kiện sản xuất và đời sống của đồng bào Khmer (Sở Dân tộc và Tôn giáo thành phố Cần Thơ, 2025). Khảo sát thực tế tại địa bàn nghiên cứu cũng cho thấy, đa số hộ Khmer đã tiếp cận được ít nhất một nguồn hỗ trợ của Nhà nước, trong đó 62,8% hộ đã tiếp cận vốn vay phục vụ sinh kế. Kết quả này tương đồng với nhận định của Nguyễn Tiến Dũng về khả năng tiếp cận các nguồn vốn sinh kế là tiền đề quan trọng quyết định khả năng lựa chọn và duy trì sinh kế bền vững của cư dân (Nguyễn Tiến Dũng, 2020). Tuy nhiên, điểm nổi bật ở thành phố Cần Thơ là việc phân bổ nguồn lực không chỉ hướng tới mục tiêu hỗ trợ sản xuất mà còn gắn với thực hiện chính sách dân tộc và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa đồng bào Khmer với mặt bằng chung của địa phương.

Những kết quả trên cho thấy, công bằng trong tiếp cận nguồn lực đã từng bước được hiện thực hóa thông qua hệ thống chính sách ưu tiên và cơ chế phân bổ theo nhu cầu, giúp đồng bào Khmer có thêm điều kiện vật chất và thể chế để duy trì, phục hồi và phát triển sinh kế trong bối cảnh đời sống còn nhiều khó khăn.

Thứ hai, kết quả bảo đảm sinh kế gắn với công bằng trong cơ hội phát triển.

Thành phố Cần Thơ chú trọng tạo lập điều kiện để đồng bào Khmer phát triển năng lực, đa dạng hóa sinh kế và nâng cao khả năng tự phát triển. Thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cùng các chương trình phát triển của địa phương, nhiều hoạt động đào tạo nghề, hỗ trợ chuyển đổi nghề, phát triển sản xuất và đầu tư hạ tầng được triển khai đồng bộ, mở rộng cơ hội phát triển cho đồng bào Khmer. Kết quả nghiên cứu ghi nhận, giai đoạn 2021 – 2025 thành phố đã tổ chức 542 lớp đào tạo nghề, hỗ trợ 5.802 hộ chuyển đổi nghề, triển khai 130 mô hình phát triển sản xuất và đa dạng hóa sinh kế, đầu tư 218 công trình hạ tầng và hỗ trợ hơn 120.637 người dân thụ hưởng các dự án của Chương trình (UBND thành phố Cần Thơ, 2025b).

Bên cạnh đó, việc đầu tư cơ sở giáo dục, phát triển trường phổ thông dân tộc nội trú, tăng cường đào tạo kỹ năng và chuyển giao tiến bộ khoa học – kỹ thuật đã tạo điều kiện để đồng bào Khmer nâng cao năng lực sản xuất, mở rộng khả năng lựa chọn sinh kế và cải thiện thu nhập. Kết quả khảo sát của tác giả cho thấy, có tới 85,1% số hộ người dân Khmer sẵn sàng chuyển đổi nghề nghiệp khi có cơ hội được hỗ trợ về vốn, kỹ thuật và đào tạo nghề. Điều này phản ánh xu hướng chủ động chuyển đổi sinh kế và nhu cầu mở rộng cơ hội phát triển của cộng đồng.

Như vậy, công bằng xã hội không chỉ được thể hiện ở việc bảo đảm quyền tiếp cận các nguồn lực mà còn ở việc tạo lập cơ hội phát triển bình đẳng cho đồng bào Khmer thông qua đầu tư vào giáo dục, đào tạo nghề, phát triển kỹ năng và đa dạng hóa sinh kế. Điều này tạo nền tảng giúp người dân từng bước phát huy năng lực nội sinh, nâng cao khả năng tự chủ trong phát triển kinh tế và cải thiện chất lượng cuộc sống.Top of FormBottom of Form

Thứ ba, kết quả bảo đảm sinh kế gắn với công bằng trong tham gia và thụ hưởng thành quả phát triển.

Thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các chương trình, kế hoạch phát triển sinh kế cho đồng bào Khmer tại địa phương, thành phố Cần Thơ đã chú trọng phát huy vai trò của cộng đồng trong tuyên truyền, giám sát, bình xét đối tượng thụ hưởng và triển khai các dự án phát triển tại cơ sở. Người dân được tham gia từ khâu đề xuất nhu cầu, họp lấy ý kiến cộng đồng đến theo dõi, giám sát việc thực hiện, nâng cao tính công khai, minh bạch và hiệu quả của chính sách (UBND thành phố Cần Thơ, 2025b).

Cùng với việc mở rộng sự tham gia, đồng bào Khmer cũng từng bước được thụ hưởng nhiều hơn các thành quả phát triển. Thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số tăng từ 51,70 triệu đồng năm 2020 lên 66 triệu đồng năm 2025; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 3,75% năm 2023 xuống còn 1,58% năm 2025 (UBND phố Cần Thơ, 2025b). Đồng thời, hầu hết hộ dân tộc thiểu số được sử dụng điện lưới quốc gia, nước sinh hoạt hợp vệ sinh, tiếp cận hệ thống giáo dục, y tế và các công trình hạ tầng thiết yếu (Sở Dân tộc và Tôn giáo thành phố Cần Thơ, 2025), nâng cao chất lượng cuộc sống và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số với mặt bằng chung của thành phố.

Những kết quả trên cho thấy, công bằng xã hội trong bảo đảm sinh kế không chỉ được thể hiện ở việc tạo điều kiện để đồng bào Khmer tham gia vào quá trình phát triển mà còn ở việc được thụ hưởng ngày càng đầy đủ hơn các thành quả phát triển kinh tế – xã hội. Đây là cơ sở quan trọng để củng cố niềm tin của đồng bào đối với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời, thúc đẩy phát triển bao trùm và bền vững.

4. Những vấn đề đặt ra từ kết quả thực tiễn nghiên cứu

Mặc dù việc bảo đảm sinh kế của đồng bào Khmer trên địa bàn thành phố Cần Thơ đã đạt được nhiều kết quả tích cực, song dưới góc độ công bằng xã hội vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục giải quyết. Những vấn đề này không chỉ phản ánh những hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách mà còn cho thấy, mức độ gắn kết giữa bảo đảm sinh kế với mục tiêu công bằng xã hội chưa thật sự bền vững. Điều đó thể hiện ở việc công bằng trong tiếp cận nguồn lực, trong tạo lập cơ hội phát triển cũng như trong tham gia và thụ hưởng thành quả phát triển vẫn còn những khoảng cách nhất định giữa yêu cầu chính sách và thực tiễn.

Một là, công bằng trong tiếp cận các nguồn lực phát triển chưa được bảo đảm đầy đủ theo nhu cầu và mức độ thiếu hụt thực tế của đồng bào Khmer.

Về bản chất, công bằng xã hội không đồng nghĩa với việc phân bổ nguồn lực theo cùng một tiêu chí cho mọi đối tượng mà đòi hỏi phải ưu tiên nhiều hơn cho những nhóm còn thiếu hụt khả năng phát triển. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, việc xác định đối tượng thụ hưởng vẫn chủ yếu dựa trên tiêu chí địa bàn và nhóm chính sách, trong khi mức độ khó khăn của từng hộ chưa được phản ánh đầy đủ. Sau khi điều chỉnh phân định vùng theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 (Thủ tướng Chính phủ, 2021a) và Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 (Thủ tướng Chính phủ, 2021b), nhiều địa bàn không còn thuộc diện đặc biệt khó khăn nên một bộ phận đồng bào Khmer không còn được hưởng các chính sách ưu tiên, mặc dù điều kiện sinh kế và thu nhập vẫn còn thấp, phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp (UBND thành phố Cần Thơ, 2025b).

Khoảng cách giữa chính sách và nhu cầu thực tế còn thể hiện ở việc một số nguồn lực sản xuất cơ bản chưa đáp ứng được yêu cầu của người dân. Báo cáo đánh giá Chương trình mục tiêu quốc gia cho thấy chỉ tiêu hỗ trợ đất sản xuất không đạt được do địa phương không còn quỹ đất; một số chỉ tiêu về đất ở và đào tạo nghề cũng không đạt kế hoạch (UBND thành phố Cần Thơ, 2025a). Điều này cho thấy, vẫn còn một bộ phận đồng bào chưa được bảo đảm đầy đủ quyền tiếp cận các nguồn lực thiết yếu để phát triển sinh kế.

Một vấn đề khác là công bằng trong tiếp cận nguồn lực mới chủ yếu dừng ở việc “được hỗ trợ”, chưa bảo đảm công bằng về năng lực sử dụng nguồn lực. Nguồn lực chỉ thực sự tạo ra công bằng khi người dân có đủ năng lực để khai thác và chuyển hóa thành thu nhập, việc làm và chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, kết quả khảo sát cho thấy, có tới 73% người dân được hỏi chưa qua đào tạo nghề; trình độ học vấn, kỹ năng nghề và khả năng tiếp cận thông tin còn nhiều hạn chế. Điều này làm cho cùng một chính sách hỗ trợ nhưng khả năng tiếp nhận và phát huy hiệu quả giữa các nhóm hộ có sự khác biệt đáng kể. Như vậy, khoảng cách về năng lực phát triển đang trở thành một biểu hiện của thiếu công bằng trong bảo đảm sinh kế.

Hai là, những vấn đề đặt ra trong bảo đảm công bằng về cơ hội phát triển.

Vấn đề nổi bật là công bằng trong cơ hội phát triển chưa được hiện thực hóa đầy đủ. Những năm qua, thành phố đã mở rộng đáng kể cơ hội học nghề, tạo việc làm, vay vốn và phát triển sinh kế cho đồng bào Khmer. Tuy nhiên, các kết quả thống kê chủ yếu phản ánh số lượng người được đào tạo hoặc được giải quyết việc làm, trong khi chưa phản ánh đầy đủ chất lượng việc làm, tính ổn định của thu nhập và khả năng phát triển lâu dài sau hỗ trợ. Báo cáo của thành phố cho biết đã đào tạo khoảng 4.670 người dân tộc thiểu số và giải quyết việc làm cho trên 7.800 lao động dân tộc thiểu số (Sở Dân tộc và Tôn giáo thành phố Cần Thơ, 2025). Đây là một biểu hiện cho thấy, mặc dù cơ hội phát triển đã được mở rộng nhưng chưa chuyển hóa đầy đủ thành kết quả phát triển bền vững. Kết quả khảo sát cũng thể hiện, có tới 67,1% thanh niên Khmer lựa chọn rời địa phương đi làm xa khi gặp khó khăn về sinh kế. Đây là biểu hiện cho thấy cơ hội phát triển tại chỗ chưa đáp ứng được nhu cầu việc làm và nâng cao thu nhập của một bộ phận thanh niên. Dưới góc độ công bằng xã hội, điều này phản ánh khoảng cách giữa cơ hội được tạo lập với khả năng hiện thực hóa cơ hội trong thực tiễn, khiến nhiều người phải tìm kiếm cơ hội phát triển ở địa phương khác thay vì ngay trên chính nơi cư trú của mình.

Bên cạnh đó, khoảng cách về chất lượng nguồn nhân lực vẫn đang hạn chế quyền phát triển bình đẳng của đồng bào Khmer. Một số chỉ tiêu về giáo dục và đào tạo nghề tại các địa bàn trước sáp nhập chưa đạt kế hoạch; tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi và trình độ dân trí ở một số nơi còn thấp hơn mục tiêu đề ra (UBND thành phố Cần Thơ, 2025a). Thực trạng này cho thấy, cơ hội phát triển giữa các nhóm dân cư chưa thực sự ngang bằng, bởi những người có trình độ học vấn và kỹ năng thấp luôn gặp nhiều bất lợi hơn trong tiếp cận việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp và nâng cao thu nhập. Vì vậy, khoảng cách về nguồn nhân lực đang trở thành rào cản trực tiếp đối với việc thực hiện công bằng xã hội trong bảo đảm sinh kế.

Ba là, những vấn đề đặt ra trong bảo đảm công bằng về tham gia và thụ hưởng thành quả phát triển.

Công bằng xã hội không chỉ đòi hỏi người dân được thụ hưởng chính sách mà còn phải được tham gia vào quá trình hình thành, thực hiện và giám sát chính sách. Tuy nhiên, các báo cáo hiện nay chủ yếu phản ánh sự tham gia của người dân ở các khâu tuyên truyền, họp dân, bình xét và giám sát thực hiện, chưa cho thấy vai trò của cộng đồng trong việc xác định nhu cầu, lựa chọn nội dung hỗ trợ hay đánh giá hiệu quả chính sách (UBND thành phố Cần Thơ, 2025b). Điều này cho thấy, quyền tham gia của người dân vẫn thiên về thực hiện hơn là đồng kiến tạo chính sách. Kết quả khảo sát cũng cho thấy, điểm tương đồng, mặc dù có tới 85,1% số hộ sẵn sàng chuyển đổi nghề nghiệp khi có cơ hội, nhưng trong số đó khoảng 60% chỉ chấp nhận chuyển đổi khi có sự hỗ trợ của Nhà nước hoặc các tổ chức liên quan. Điều này không chỉ cho thấy, năng lực tự chủ sinh kế của một bộ phận đồng bào Khmer còn hạn chế mà còn phản ánh việc hiện thực hóa chính sách dân tộc ở một số trường hợp mới dừng lại ở mức hỗ trợ tiếp cận nguồn lực mà chưa thật sự chuyển hóa thành năng lực phát triển nội sinh của người dân.

Một vấn đề khác là công bằng trong thụ hưởng thành quả phát triển chưa thật sự bền vững và đồng đều giữa các nhóm đồng bào Khmer. Mặc dù đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số đã được cải thiện, báo cáo của thành phố vẫn chỉ ra rằng nhiều hộ còn có thu nhập thấp, nguồn thu chưa ổn định và điều kiện sống còn nhiều khó khăn (UBND thành phố Cần Thơ, 2025b). Mặt khác, một số chỉ tiêu quan trọng của Chương trình mục tiêu quốc gia như giảm nghèo, đất sản xuất, giáo dục và đào tạo nghề chưa hoàn thành theo kế hoạch (UBND thành phố Cần Thơ, 2025a). Điều này phản ánh thành quả phát triển chưa được phân phối đồng đều và chưa tạo được nền tảng sinh kế vững chắc cho tất cả các nhóm đồng bào Khmer. Khoảng cách giữa kết quả phát triển chung với mức độ thụ hưởng thực tế của từng nhóm đối tượng vẫn là biểu hiện của tính công bằng xã hội chưa được hiện thực hóa đầy đủ.

5. Hàm ý chính sách

Kết quả nghiên cứu cho thấy, những hạn chế trong bảo đảm sinh kế của đồng bào Khmer hiện nay không chủ yếu xuất phát từ việc thiếu chính sách mà từ khoảng cách giữa mục tiêu công bằng xã hội với quá trình tổ chức thực hiện. Vì vậy, nâng cao hiệu quả bảo đảm sinh kế trong giai đoạn tới cần lấy công bằng xã hội làm nguyên tắc xuyên suốt từ xác định đối tượng, phân bổ nguồn lực đến tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả chính sách.

Thứ nhất, chuyển từ tư duy hỗ trợ bình quân sang bảo đảm công bằng theo nhu cầu và mức độ thiếu hụt của từng nhóm đối tượng.

Việc phân bổ nguồn lực cần dựa trên nhu cầu thực tế và mức độ dễ bị tổn thương của từng hộ đồng bào Khmer thay vì chủ yếu căn cứ vào tiêu chí địa bàn hoặc nhóm chính sách. Công bằng xã hội trong bảo đảm sinh kế không có nghĩa là mọi đối tượng được hưởng mức hỗ trợ như nhau mà là những nhóm có điều kiện phát triển bất lợi hơn phải được ưu tiên tiếp cận nhiều hơn với đất đai, tín dụng, đào tạo nghề, nước sạch và các dịch vụ công thiết yếu. Điều này sẽ thu hẹp khoảng cách về nguồn lực phát triển, bảo đảm mọi hộ dân đều có điều kiện tối thiểu để xây dựng sinh kế ổn định.

Thứ hai, chuyển trọng tâm từ hỗ trợ nguồn lực sang nâng cao năng lực phát triển của người dân.

Nguồn lực chỉ phát huy hiệu quả khi người dân có đủ năng lực để tiếp nhận, khai thác và chuyển hóa thành kết quả sinh kế. Vì vậy, chính sách cần coi phát triển con người là nội dung trung tâm của bảo đảm sinh kế, trong đó ưu tiên nâng cao trình độ học vấn, kỹ năng nghề, năng lực tiếp cận khoa học – công nghệ, kỹ năng quản lý tài chính hộ gia đình và khả năng thích ứng với sự biến đổi của thị trường lao động. Chỉ khi khoảng cách về năng lực được thu hẹp thì khoảng cách về cơ hội phát triển mới từng bước được thu hẹp theo.

Thứ ba, bảo đảm công bằng trong tạo lập và hiện thực hóa cơ hội phát triển.

Chính sách sinh kế cần được thiết kế theo chuỗi liên kết từ giáo dục, đào tạo nghề, tín dụng, hỗ trợ kỹ thuật đến kết nối việc làm và tiêu thụ sản phẩm, nhằm giúp đồng bào Khmer không chỉ có cơ hội tiếp cận chính sách mà còn có khả năng chuyển hóa các cơ hội đó thành việc làm ổn định, thu nhập bền vững và khả năng phát triển lâu dài.

Cùng với đó, cần chuyển trọng tâm từ bảo đảm sự bình đẳng về cơ hội sang bảo đảm sự công bằng trong khả năng nắm bắt và hiện thực hóa cơ hội. Điều này đòi hỏi chính sách phải quan tâm nhiều hơn đến những nhóm có xuất phát điểm bất lợi, như hộ nghèo, hộ thiếu tư liệu sản xuất, lao động ít được đào tạo, phụ nữ và thanh niên dân tộc Khmer, thông qua các cơ chế hỗ trợ phù hợp với đặc điểm và nhu cầu của từng nhóm. Chỉ khi khoảng cách về năng lực phát triển được thu hẹp, cơ hội phát triển mới thực sự trở thành động lực nâng cao sinh kế và hiện thực hóa công bằng xã hội một cách thực chất.

Thứ tư, nâng cao tính thực chất trong sự tham gia của đồng bào Khmer đối với quá trình xây dựng và thực hiện chính sách sinh kế.

Đồng bào Khmer cần được tham gia đầy đủ hơn vào toàn bộ chu trình chính sách, từ xác định nhu cầu, lựa chọn mô hình sinh kế, xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện đến giám sát và đánh giá kết quả. Theo đó, cần chuyển từ cách tiếp cận “tham gia trong thực hiện chính sách” sang “tham gia trong kiến tạo chính sách”, tạo điều kiện để đồng bào Khmer thực hiện đầy đủ quyền làm chủ trong các quyết định liên quan trực tiếp đến sinh kế và sự phát triển của mình. Việc mở rộng sự tham gia thực chất không chỉ nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả quản trị chính sách mà còn tạo dựng sự đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin của người dân đối với hệ thống chính trị và tăng cường khả năng huy động nội lực của cộng đồng trong phát triển sinh kế bền vững. Đây cũng là cơ sở để thống nhất giữa mục tiêu bảo đảm sinh kế với yêu cầu hiện thực hóa công bằng xã hội trong quá trình phát triển.

Thứ năm, bảo đảm công bằng trong thụ hưởng thành quả phát triển và nâng cao tính bền vững của kết quả sinh kế.

Xét đến cùng, mục tiêu của bảo đảm sinh kế không chỉ là cải thiện đời sống của đồng bào Khmer mà còn phải bảo đảm mọi nhóm đối tượng đều được thụ hưởng công bằng thành quả của quá trình phát triển. Điều đó đòi hỏi chính sách phải hướng tới thu hẹp khoảng cách về thu nhập, mức sống, điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và khả năng phát triển giữa các nhóm đồng bào Khmer cũng như giữa đồng bào Khmer với các nhóm dân cư khác. Vì vậy, trọng tâm của chính sách cần chuyển từ mở rộng số lượng đối tượng thụ hưởng sang nâng cao chất lượng và tính bền vững của kết quả thụ hưởng, bảo đảm những nhóm còn nhiều bất lợi về nguồn lực, năng lực và điều kiện phát triển được ưu tiên hỗ trợ phù hợp để từng bước rút ngắn khoảng cách phát triển và hạn chế nguy cơ tái nghèo, tái khó khăn.

Đồng thời, cần đổi mới cách thức đánh giá hiệu quả chính sách bảo đảm sinh kế theo hướng lấy mức độ hiện thực hóa công bằng xã hội làm một tiêu chí quan trọng. Hiệu quả chính sách không nên chỉ được đo bằng số lượng đối tượng được hỗ trợ, quy mô nguồn lực được phân bổ hay tỷ lệ hoàn thành các chỉ tiêu hành chính, mà cần được đánh giá thông qua những thay đổi thực chất về thu nhập, điều kiện sống, khả năng duy trì sinh kế, mức độ tự chủ của người dân và mức độ thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nhóm đối tượng thụ hưởng. Chỉ khi các kết quả này được cải thiện một cách bền vững thì mục tiêu gắn kết giữa bảo đảm sinh kế và công bằng xã hội mới thực sự được hiện thực hóa.

6. Kết luận

Bài viết đã tiếp cận vấn đề bảo đảm sinh kế của đồng bào Khmer ở thành phố Cần Thơ dưới góc độ công bằng xã hội, qua ba phương diện: công bằng trong tiếp cận các nguồn lực phát triển, công bằng trong tạo lập cơ hội phát triển và công bằng trong tham gia, thụ hưởng thành quả phát triển. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc triển khai các chính sách dân tộc, an sinh xã hội và các chương trình mục tiêu quốc gia đã cải thiện điều kiện sinh kế, mở rộng khả năng tiếp cận nguồn lực, nâng cao cơ hội phát triển và từng bước cải thiện đời sống của đồng bào Khmer. Tuy nhiên, mức độ gắn kết giữa bảo đảm sinh kế với công bằng xã hội vẫn chưa thật sự bền vững, thể hiện ở khoảng cách giữa nhu cầu thực tế với phân bổ nguồn lực, giữa cơ hội phát triển với năng lực hiện thực hóa cơ hội, cũng như giữa quyền tham gia và mức độ thụ hưởng thành quả phát triển.

Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các hàm ý chính sách theo hướng lấy công bằng xã hội làm nguyên tắc xuyên suốt trong thiết kế, tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách bảo đảm sinh kế. Kết quả nghiên cứu bổ sung cách tiếp cận lý luận về bảo đảm sinh kế gắn với công bằng xã hội, đồng thời cung cấp cơ sở tham khảo cho việc hoàn thiện chính sách dân tộc và phát triển bao trùm tại thành phố Cần Thơ và các địa phương có điều kiện tương đồng.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Chính phủ (2017). Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Nguyễn Tiến Dũng (2020). Sinh kế bền vững của cư dân vùng hạn mặn thích ứng với biến đổi khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long. Báo cáo tổng hợp đề tài cấp bộ năm 2020.
Sở Dân tộc và Tôn giáo thành phố Cần Thơ (2025). Báo cáo về thực trạng công tác dân tộc, tôn giáo thành phố Cần Thơ mới, giai đoạn 2021 – 2025.
Thủ tướng Chính phủ (2021a). Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2025
Thủ tướng Chính phủ (2021b). Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giai đoạn I: 2021-2025.
Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ (2025a). Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2025.
Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ (2025b). Báo cáo sơ kết tình hình triển khai Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.