Developing the private sector economy in the digital era: international experiences and policy implications for Vietnam
TS. Đoàn Xuân Phúc
Bộ Tư lệnh Pháo binh – Tên lửa
Email: doanxuanphuc25312@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Kinh tế tư nhân giữ vai trò quan trọng đối với tăng trưởng, việc làm, huy động nguồn lực và đổi mới sáng tạo. Trong kỷ nguyên số, công nghệ mới đang làm thay đổi phương thức sản xuất, kinh doanh và đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực doanh nghiệp cũng như hiệu quả quản lý nhà nước. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, kinh nghiệm của Hàn Quốc và Malaysia; đồng thời, đánh giá thực trạng kinh tế tư nhân ở Việt Nam. Kết quả cho thấy, khu vực này còn hạn chế về quy mô, công nghệ, năng suất, nhân lực và khả năng tham gia chuỗi giá trị. Trên cơ sở Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị và kinh nghiệm quốc tế, bài viết đề xuất các hàm ý về hoàn thiện thể chế, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, phát triển nhân lực và tăng cường liên kết nhằm nâng cao năng lực nội sinh, sức cạnh tranh của kinh tế tư nhân Việt Nam.
Từ khóa: Kinh tế tư nhân; kỷ nguyên số; chuyển đổi số; đổi mới sáng tạo; quản lý nhà nước.
Abstract: The private sector plays an important role in economic growth, employment generation, resource mobilization, and innovation. In the digital era, emerging technologies are transforming production and business practices, creating a need to enhance enterprise capabilities and improve the effectiveness of state management. This article analyzes the theoretical foundations and examines the experiences of South Korea and Malaysia, while also assessing the current state of Vietnam’s private sector. The findings indicate that this sector continues to face limitations in terms of scale, technology, productivity, human resources, and the capacity to participate in value chains. Based on Resolution No. 68-NQ/TW dated May 4, 2025, issued by the Politburo, and international experiences, the article proposes several policy implications, including institutional reform, digital transformation, innovation, human resource development, and stronger linkages, with a view to enhancing the endogenous capacity and competitiveness of Vietnam’s private sector.
Keywords: private sector; digital era; digital transformation; innovation; state management.
1. Đặt vấn đề
Kinh tế tư nhân ngày càng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường, góp phần huy động nguồn lực xã hội, tạo việc làm, thúc đẩy cạnh tranh và đổi mới sáng tạo. Ở Việt Nam, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế, đặt mục tiêu đến năm 2030 đóng góp khoảng 55 – 58% GDP và đến năm 2045 trên 60% GDP (Bộ Chính trị, 2025). Trong bối cảnh chuyển đổi số, công nghệ mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường, giảm chi phí và nâng cao năng suất, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu mới về vốn, công nghệ, nhân lực và năng lực quản trị. Kinh nghiệm từ Hàn Quốc và Malaysia cho thấy, vai trò quan trọng của thể chế, hạ tầng số, đổi mới sáng tạo và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam, qua đó đề xuất một số bài học và hàm ý chính sách nhằm nâng cao năng lực, sức cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới.
2. Một số vấn đề lý luận về phát triển kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên số
2.1. Khái niệm phát triển kinh tế tư nhân
Kinh tế tư nhân là bộ phận của nền kinh tế dựa chủ yếu trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và bao gồm nhiều hình thức tổ chức kinh doanh khác nhau. Trong nền kinh tế thị trường, khu vực này có vai trò huy động vốn, lao động và các nguồn lực xã hội; tạo việc làm; thúc đẩy cạnh tranh; phát triển sản phẩm, dịch vụ và mở rộng thị trường (Bộ Chính trị, 2025).
Theo cách tiếp cận kinh tế học thể chế, hoạt động của doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào nguồn lực nội tại mà còn chịu ảnh hưởng đáng kể của thể chế, quyền tài sản, pháp luật, chi phí giao dịch và chất lượng quản trị nhà nước (North, D. C, 1990). Vì vậy, phát triển kinh tế tư nhân cần được nhìn nhận đồng thời từ hai phương diện: năng lực nội tại của doanh nghiệp và môi trường thể chế mà doanh nghiệp hoạt động.
Phát triển kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên số được hiểu là quá trình gia tăng về số lượng, quy mô và chất lượng của các chủ thể kinh tế tư nhân, đồng thời nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh, khả năng đổi mới sáng tạo và mức độ tham gia vào chuỗi giá trị trong nước và quốc tế. Do đó, đánh giá sự phát triển của khu vực tư nhân không nên chỉ dựa vào số lượng doanh nghiệp hoặc quy mô vốn mà cần xem xét cả năng suất lao động, năng lực công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, khả năng đổi mới sáng tạo và khả năng mở rộng thị trường.
2.2. Những đặc điểm của phát triển kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên số
Thứ nhất, công nghệ số làm giảm chi phí gia nhập và mở rộng thị trường. Doanh nghiệp có thể sử dụng nền tảng số, thương mại điện tử và các công cụ tiếp thị trực tuyến để tiếp cận khách hàng mà không nhất thiết phải đầu tư lớn vào mạng lưới phân phối truyền thống.
Thứ hai, dữ liệu trở thành nguồn lực quan trọng của hoạt động sản xuất, kinh doanh. Khả năng thu thập, phân tích và khai thác dữ liệu giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng dự báo, cá nhân hóa sản phẩm và tối ưu hóa quá trình sản xuất.
Thứ ba, đổi mới sáng tạo và năng lực công nghệ trở thành yếu tố ngày càng quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh. Doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh về giá và nguồn lực vật chất mà còn cạnh tranh về công nghệ, tốc độ đổi mới và khả năng thích ứng với thị trường.
Thứ tư, chuyển đổi số làm thay đổi yêu cầu đối với nguồn nhân lực và quản trị doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần đội ngũ lao động có kỹ năng số, khả năng sử dụng dữ liệu, công nghệ và phương thức quản trị hiện đại.
Thứ năm, quá trình số hóa tạo ra cả cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo OECD, số hóa có thể giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận thị trường với chi phí thấp hơn, nâng cao năng suất và tạo điều kiện mở rộng quy mô; ngược lại, khoảng cách về công nghệ và kỹ năng số có thể làm gia tăng chênh lệch giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ (OECD, 2024),(OECD, 2026).
2.3. Các yếu tố tác động và yêu cầu đối với quản lý nhà nước
Có thể khái quát các yếu tố tác động đến phát triển kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên số thành bốn nhóm.
(1) Thể chế và môi trường kinh doanh. Đây là nền tảng bảo đảm quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng và khả năng tiếp cận nguồn lực.
(2) Nguồn lực và năng lực nội sinh của doanh nghiệp, bao gồm vốn, nhân lực, trình độ quản trị, công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo.
(3) Hệ sinh thái doanh nghiệp và liên kết đổi mới sáng tạo, thể hiện thông qua quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước, tổ chức tài chính, trường đại học, viện nghiên cứu và các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng.
(4) Mức độ chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, quyết định khả năng doanh nghiệp tiếp cận công nghệ, thị trường và chuỗi giá trị toàn cầu.
Từ đó, vai trò của Nhà nước cần chuyển mạnh từ can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh sang kiến tạo thể chế, phát triển hạ tầng, cung cấp dịch vụ công, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng. Hỗ trợ của Nhà nước cần hướng đến nâng cao năng lực tự chủ của doanh nghiệp, tránh tạo ra sự phụ thuộc hoặc làm méo mó cạnh tranh.
3. Kinh nghiệm quốc tế về phát triển kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên số
3.1. Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc là trường hợp điển hình của mô hình công nghiệp hóa dựa trên sự kết hợp giữa định hướng chiến lược của Nhà nước và năng lực mở rộng thị trường của khu vực tư nhân. Trong quá trình công nghiệp hóa, Hàn Quốc tập trung nguồn lực cho các ngành công nghiệp chiến lược và hình thành các tập đoàn lớn, tạo điều kiện để doanh nghiệp Hàn Quốc nhanh chóng mở rộng sản xuất và thị trường quốc tế. Theo OECD, 30 tập đoàn kinh doanh lớn nhất chiếm khoảng 32% tổng doanh số quốc gia; riêng bốn tập đoàn lớn, gồm: Samsung, Hyundai Motor, SK và LG có trung bình khoảng 70 công ty thành viên mỗi tập đoàn vào năm 2017 và chiếm gần một nửa giá trị vốn hóa thị trường chứng khoán Hàn Quốc (Amsden, 1989; Kim,1997; OECD, 2018).
Các chaebol như Samsung, Hyundai, SK và LG đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa và xuất khẩu của Hàn Quốc. Tuy nhiên, sự tập trung kinh tế cũng tạo ra những vấn đề về cạnh tranh và khoảng cách năng suất giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa. OECD cho thấy 30 tập đoàn lớn nhất chỉ sử dụng khoảng 2,7% tổng số lao động năm 2017, trong khi năng suất lao động của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong ngành chế tạo chỉ bằng 32,5% năng suất của doanh nghiệp lớn năm 2014, giảm từ 53,8% năm 1988 (OECD, 2018). OECD năm 2023 tiếp tục cho thấy năng suất lao động của doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ khoảng 26% mức của doanh nghiệp lớn, đồng thời hơn 83% người lao động Hàn Quốc làm việc trong doanh nghiệp nhỏ và vừa (OECD, 2018; OECD, 2023).
Từ những hạn chế đó, Hàn Quốc từng bước điều chỉnh chính sách theo hướng tăng cường cạnh tranh, cải thiện quản trị doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Năng lực nghiên cứu và đổi mới của Hàn Quốc được đầu tư ở mức cao: tổng chi cho R&D đạt 4,6% GDP năm 2020, trong đó chi R&D của khu vực doanh nghiệp đạt 3,7% GDP. Tuy nhiên, phân bổ R&D còn tập trung cao ở doanh nghiệp lớn: doanh nghiệp lớn chiếm 62,5% tổng chi R&D của khu vực doanh nghiệp, trong khi doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 25,4% và doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo chiếm 12,1% (OECD, 2023).
Hàn Quốc cũng chú trọng thu hẹp khoảng cách công nghệ và chuyển đổi số giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mặc dù có hệ thống công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) phát triển và mức độ phổ cập công nghệ số cao, OECD nhận định nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn chậm hơn doanh nghiệp lớn trong tiếp nhận các công nghệ mới. Đáng chú ý, hơn 70% tổng chi R&D của khu vực doanh nghiệp tập trung ở các doanh nghiệp có từ 500 lao động trở lên, trong khi các doanh nghiệp dưới 50 lao động chi chưa đến 14%; riêng 5 doanh nghiệp lớn nhất chiếm 33,8% tổng R&D của khu vực doanh nghiệp năm 2019, còn 10 doanh nghiệp lớn nhất chiếm 47% (OECD, 2023).
Vì vậy, Hàn Quốc từng bước chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào các tập đoàn lớn sang kết hợp sức mạnh của doanh nghiệp lớn với phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực công nghệ. OECD nhấn mạnh yêu cầu tạo sân chơi bình đẳng hơn giữa chaebol với doanh nghiệp nhỏ và vừa và doanh nghiệp khởi nghiệp, đồng thời tăng cường cạnh tranh, cải thiện quản trị doanh nghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực đổi mới (OECD, 2018, 2023).
3.2. Kinh nghiệm của Malaysia
Malaysia phát triển khu vực kinh tế tư nhân gắn với công nghiệp hóa, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và hội nhập vào chuỗi giá trị khu vực. Từ những cải cách chính sách từ thập niên 1980, Malaysia đã thu hút được dòng vốn FDI lớn, qua đó trở thành một trung tâm sản xuất chip và điện tử quan trọng trong khu vực. OECD cho rằng việc tiếp tục cải thiện môi trường cạnh tranh, đơn giản hóa quy định và tạo sân chơi bình đẳng hơn giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân sẽ góp phần nâng cao năng lực phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.
Một nội dung ngày càng được chú trọng là hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận công nghệ, thị trường và nâng cao năng suất. OECD nhận định số hóa có vai trò quan trọng đối với khả năng mở rộng quy mô của doanh nghiệp nhỏ và vừa, giúp doanh nghiệp tiếp cận thị trường mà không cần đầu tư lớn vào marketing và phân phối, đồng thời nâng cao hiệu quả và năng suất. Tuy nhiên, mức độ ứng dụng công nghệ giữa các doanh nghiệp còn không đồng đều. Chỉ 6% doanh nghiệp nhỏ và 20% doanh nghiệp quy mô vừa đầu tư cho R&D, trong khi 72% lực lượng lao động được phân loại là lao động có kỹ năng thấp hoặc bán kỹ năng. Những hạn chế về kỹ năng, công nghệ và năng lực quản trị tiếp tục ảnh hưởng đến quá trình số hóa và đổi mới của doanh nghiệp nhỏ và vừa (OECD, 2024).
Tuy nhiên, Malaysia cũng cho thấy những vấn đề cần lưu ý trong quá trình phát triển khu vực kinh tế tư nhân. OECD năm 2026 cho biết tăng trưởng năng suất của Malaysia trong những năm gần đây thấp hơn mục tiêu; tình trạng phức tạp về quy định và thiếu hụt kỹ năng tiếp tục cản trở đổi mới và tăng trưởng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khảo sát doanh nghiệp năm 2025 được OECD dẫn lại cho thấy, 95% doanh nghiệp được khảo sát cho biết vẫn gặp tình trạng thiếu hụt kỹ năng, 50% xem tuân thủ quy định là một trở ngại lớn, trong khi 1/3 doanh nghiệp cho rằng hạ tầng internet chưa đáp ứng yêu cầu. Đầu tư cho R&D của Malaysia cũng chỉ ở mức khoảng 1% GDP (OECD, 2026).
Vì vậy, Malaysia đang chuyển mạnh từ chính sách chú trọng thu hút đầu tư và mở rộng sản xuất sang nâng cao năng suất, số hóa doanh nghiệp, phát triển kỹ năng và cải thiện môi trường cạnh tranh. OECD năm 2026 ghi nhận Malaysia đặt mục tiêu tăng năng suất lao động bình quân 3,6%/năm trong giai đoạn 2026 -2030, đồng thời theo kế hoạch phát triển tổng thể kinh tế số Malaysia (Malaysia Digital Economy Blueprint) hướng tới tăng 30% mức năng suất lao động trong giai đoạn 2020 – 2029. Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng được định hướng tập trung hơn vào đổi mới sáng tạo, số hóa và năng lực xuất khẩu (OECD, 2026).
4. Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam trong kỷ nguyên số
Trong 40 năm đổi mới, khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, quy mô và phạm vi hoạt động, ngày càng trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị ghi nhận khu vực kinh tế tư nhân hiện có hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động của nền kinh tế (Bộ Chính trị, 2025). Những con số này cho thấy khu vực tư nhân không chỉ có vai trò quan trọng trong tạo việc làm và huy động nguồn lực xã hội mà còn ngày càng có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế đất nước.
Sự phát triển của khu vực doanh nghiệp tiếp tục được thể hiện qua khả năng gia nhập và mở rộng hoạt động trên thị trường. Năm 2025, cả nước có gần 297,5 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 27,4% so với năm 2024; bình quân mỗi tháng có khoảng 24,8 nghìn doanh nghiệp gia nhập trở lại thị trường. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế đạt gần 6,4 triệu tỷ đồng, tăng 77,8% so với năm trước (Cục Thống kê, Bộ Tài chính, 2026).
Cùng với sự phát triển về số lượng doanh nghiệp, quá trình chuyển đổi số đang tạo ra không gian phát triển mới cho khu vực kinh tế tư nhân. Năm 2024, kinh tế số Việt Nam ước chiếm khoảng 18,3% GDP và duy trì tốc độ tăng trưởng trên 20%/năm, cao hơn đáng kể tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Hạ tầng số tiếp tục được mở rộng, với 96,4% thôn, bản có Internet cáp quang và 82,9% hộ gia đình sử dụng Internet cáp quang băng rộng; mạng 5G cũng đã được thương mại hóa, tạo điều kiện để doanh nghiệp triển khai các mô hình kinh doanh và dịch vụ dựa trên nền tảng số (Bộ Công Thương, 2026).
Thương mại điện tử là một trong những lĩnh vực thể hiện rõ nhất tác động của chuyển đổi số đối với khu vực tư nhân. Năm 2024, quy mô thị trường thương mại điện tử Việt Nam vượt 25 tỷ USD, tăng khoảng 20% so với năm 2023 và chiếm khoảng 9% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng; thương mại điện tử chiếm khoảng hai phần ba giá trị của nền kinh tế số Việt Nam (Vũ Khuê, 07/01/2025). Sự phát triển nhanh của các nền tảng thương mại điện tử, thanh toán số, bán hàng qua mạng xã hội và thương mại điện tử xuyên biên giới đã tạo điều kiện để doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận khách hàng với chi phí thấp hơn, mở rộng thị trường vượt ra ngoài phạm vi địa phương và từng bước tiếp cận thị trường quốc tế.
Chuyển đổi số cũng đang thay đổi phương thức quản trị và tổ chức sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Việc sử dụng các nền tảng quản trị doanh nghiệp, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, thanh toán không dùng tiền mặt và các giải pháp tự động hóa giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng quản lý, giảm chi phí giao dịch, cải thiện chất lượng dịch vụ và phản ứng nhanh hơn với biến động của thị trường. Trong 6 tháng đầu năm 2024, doanh số trên 5 sàn bán lẻ trực tuyến lớn đạt trên 97 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 80% so với cùng kỳ năm 2023; tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản thanh toán đạt 87,08% (Bộ Công Thương, 2025). Đây là những điều kiện quan trọng thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân chuyển từ phương thức kinh doanh truyền thống sang các mô hình kinh doanh dựa trên nền tảng số.
Đáng chú ý, chuyển đổi số đang tạo ra cơ hội đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Với đặc điểm hạn chế về vốn, nhân lực và mạng lưới phân phối, doanh nghiệp nhỏ và vừa trước đây thường gặp khó khăn trong mở rộng thị trường và tiếp cận khách hàng. Công nghệ số giúp giảm đáng kể một số chi phí gia nhập thị trường thông qua thương mại điện tử, marketing số, thanh toán điện tử và các nền tảng trung gian. Đồng thời, dữ liệu và các công cụ số cho phép doanh nghiệp quy mô nhỏ tiếp cận khách hàng rộng hơn, quản lý hoạt động hiệu quả hơn và từng bước tham gia vào chuỗi cung ứng trong nước và quốc tế. Theo đánh giá của Chính phủ, đổi mới công nghệ và chuyển đổi số được xem là công cụ quan trọng để doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo ra không gian phát triển mới; đây cũng là nhóm doanh nghiệp có ý nghĩa quyết định đối với việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao của kinh tế số (Bộ Công Thương, 2025).
Bên cạnh đó, sự phát triển của hạ tầng và dịch vụ số đang góp phần cải thiện môi trường kinh doanh. Việc mở rộng dịch vụ công trực tuyến, định danh điện tử, thanh toán số và các cơ sở dữ liệu quốc gia giúp giảm thời gian, chi phí giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước. Đến năm 2024, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình của cả nước đạt khoảng 45%; Cổng Dịch vụ công quốc gia đã tích hợp 4.475 thủ tục hành chính, tương đương 70,8% tổng số thủ tục hành chính (Bộ Công Thương, 2025). Những kết quả này góp phần thúc đẩy quá trình số hóa hoạt động quản lý nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong đăng ký, kê khai, thực hiện nghĩa vụ và tiếp cận dịch vụ công.
Những kết quả trên cho thấy khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam đang chuyển dần từ mô hình phát triển chủ yếu dựa vào mở rộng quy mô sang mô hình kết hợp giữa mở rộng thị trường, số hóa hoạt động, đổi mới công nghệ và nâng cao năng suất. Sự phát triển nhanh của kinh tế số, thương mại điện tử và hạ tầng số đang tạo thêm cơ hội để doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, rút ngắn khoảng cách với doanh nghiệp lớn, tiếp cận thị trường quốc tế và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị.
Bên cạnh những kết quả đạt được, phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam vẫn đối mặt với một số hạn chế. Phần lớn doanh nghiệp có quy mô nhỏ, năng lực tích lũy, quản trị và khả năng chống chịu còn hạn chế; năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của kỷ nguyên số, nhất là trong khai thác dữ liệu, AI và tự động hóa. Chất lượng nguồn nhân lực chưa theo kịp yêu cầu mới, trong khi liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp FDI, trường đại học và viện nghiên cứu còn yếu, làm hạn chế khả năng hấp thụ công nghệ và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Bên cạnh đó, khả năng tiếp cận vốn, đất đai, công nghệ, thông tin và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh của một bộ phận doanh nghiệp còn khó khăn. Chất lượng thể chế và môi trường kinh doanh cũng cần tiếp tục được cải thiện theo hướng minh bạch, ổn định, giảm chi phí tuân thủ và thích ứng nhanh với các mô hình kinh doanh mới. Những hạn chế này cho thấy phát triển kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên số cần chuyển từ chú trọng gia tăng số lượng sang nâng cao chất lượng, năng suất, năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo và khả năng tham gia chuỗi giá trị.
5. Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách đối với Việt Nam
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng và nâng cao khả năng tiếp cận nguồn lực của doanh nghiệp tư nhân.
Kinh nghiệm Hàn Quốc và Malaysia cho thấy, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo môi trường phát triển thông qua thể chế, hạ tầng và dịch vụ công. Việc tập trung nguồn lực hoặc duy trì ưu đãi kéo dài cho một số nhóm doanh nghiệp có thể làm gia tăng khoảng cách năng suất và hạn chế cạnh tranh. Bài học đối với Việt Nam là cần kết hợp hoàn thiện môi trường kinh doanh với bảo đảm cơ hội tiếp cận nguồn lực bình đẳng, lấy hiệu quả hoạt động và khả năng tạo giá trị làm căn cứ hỗ trợ.
Theo đó, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh; rà soát, cắt giảm điều kiện kinh doanh không cần thiết và nâng cao tính ổn định, khả năng dự báo của chính sách. Việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm cần được thực hiện ở những lĩnh vực phù hợp với năng lực giám sát. Đồng thời, nâng cao chất lượng dịch vụ công số, giảm thời gian giải quyết thủ tục và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
Cần minh bạch hóa điều kiện tiếp cận vốn, đất đai, thông tin và các chương trình hỗ trợ. Chính sách tín dụng cần khuyến khích đầu tư vào đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, công nghiệp hỗ trợ và sản xuất xanh, phù hợp với năng lực hấp thụ vốn của doanh nghiệp. Trong điều kiện nguồn lực có hạn, hỗ trợ cần có trọng tâm, tiêu chí lựa chọn và đánh giá hiệu quả rõ ràng. Qua đó, nâng cao năng lực tự chủ của khu vực tư nhân, hạn chế hỗ trợ dàn trải và sự phụ thuộc vào ưu đãi.
Thứ hai, thúc đẩy chuyển đổi số phù hợp với năng lực doanh nghiệp, lấy nâng cao năng suất làm mục tiêu.
Kinh nghiệm Hàn Quốc cho thấy, hạ tầng công nghệ thông tin phát triển chưa đủ để thu hẹp khoảng cách ứng dụng công nghệ giữa doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa (doanh nghiệp nhỏ và vừa). Malaysia cũng cho thấy số hóa mở rộng khả năng tiếp cận thị trường, nhưng hiệu quả phụ thuộc vào năng lực quản trị và điều kiện của doanh nghiệp. Đối với Việt Nam, bài học đặt ra là chuyển đổi số phải xuất phát từ nhu cầu sản xuất, kinh doanh, gắn với cải thiện năng suất và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Trước hết, cần phân nhóm doanh nghiệp theo quy mô, lĩnh vực hoạt động và mức độ trưởng thành số để xác định nội dung hỗ trợ phù hợp. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn chế về vốn và quản trị, nên ưu tiên các giải pháp thiết thực như quản lý bán hàng, kế toán, thanh toán điện tử và thương mại điện tử. Những doanh nghiệp có nền tảng tốt hơn có thể từng bước ứng dụng điện toán đám mây, phân tích dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa theo khả năng đầu tư.
Cùng với đó, Nhà nước cần phát triển hạ tầng số, tạo điều kiện tiếp cận nền tảng và dịch vụ công nghệ với chi phí phù hợp; tăng cường tư vấn lựa chọn giải pháp và xây dựng lộ trình thực hiện. Trong điều kiện nguồn lực của doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn chế, cần triển khai từng bước, ưu tiên khâu có khả năng giảm chi phí hoặc mở rộng thị trường rõ rệt. Hiệu quả hỗ trợ cần được xem xét qua thay đổi về năng suất, chi phí vận hành, chất lượng sản phẩm và khả năng tiếp cận khách hàng.
Thứ ba, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, gắn nghiên cứu và chuyển giao công nghệ với nhu cầu thị trường.
Kinh nghiệm Malaysia gợi mở yêu cầu kết nối viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp để đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất. Hàn Quốc cho thấy, năng lực nghiên cứu và phát triển có ý nghĩa quan trọng đối với sức cạnh tranh, đồng thời đặt ra vấn đề về mức độ tập trung nguồn lực tại doanh nghiệp lớn. Bài học đối với Việt Nam là cần phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo lấy doanh nghiệp làm trung tâm, mở rộng khả năng tiếp cận công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Theo đó, cần tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và tổ chức tài chính trên cơ sở nhu cầu đổi mới sản phẩm, quy trình và phương thức quản trị. Doanh nghiệp cần tham gia xác định bài toán nghiên cứu, thử nghiệm và đánh giá khả năng ứng dụng. Các cơ sở nghiên cứu, đào tạo cần hướng hoạt động chuyên môn vào giải quyết những vấn đề của sản xuất, kinh doanh, qua đó rút ngắn khoảng cách giữa kết quả nghiên cứu với yêu cầu thị trường.
Ngoài ra, cần nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm đổi mới sáng tạo, phòng thí nghiệm, vườn ươm và quỹ hỗ trợ hiện có. Trọng tâm là hỗ trợ thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần chú trọng khả năng tiếp nhận, cải tiến công nghệ phù hợp trước khi mở rộng đầu tư nghiên cứu. Nguồn lực hỗ trợ nên tập trung vào nhiệm vụ có nhu cầu ứng dụng rõ ràng, gắn đánh giá kết quả với mức độ ứng dụng và giá trị tạo ra cho doanh nghiệp.
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và kỹ năng số gắn với nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp.
Kinh nghiệm Hàn Quốc và Malaysia cho thấy, năng lực công nghệ của doanh nghiệp phụ thuộc vào chất lượng nhân lực và sự gắn kết giữa giáo dục, nghiên cứu với sản xuất. Những hạn chế về kỹ năng tại Malaysia cũng cho thấy, đầu tư công nghệ khó phát huy hiệu quả nếu thiếu lao động có khả năng vận hành và thích ứng. Đối với Việt Nam, phát triển nhân lực cần đi trước một bước, đồng thời gắn với trình độ công nghệ và nhu cầu sử dụng của từng nhóm doanh nghiệp.
Trước hết, cần đổi mới nội dung đào tạo theo yêu cầu của thị trường lao động, tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp trong xác định kỹ năng và tổ chức thực hành. Cơ sở đào tạo cần phối hợp với doanh nghiệp cập nhật chương trình, tạo điều kiện để người học tiếp cận quy trình sản xuất và công nghệ đang được sử dụng. Việc phát triển nhân lực công nghệ cao cần gắn với nhu cầu nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới của khu vực tư nhân, bảo đảm khả năng sử dụng sau đào tạo.
Đồng thời, cần chú trọng bồi dưỡng đội ngũ quản trị và người lao động trong doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nội dung cần tập trung vào quản trị số, sử dụng dữ liệu, vận hành nền tảng và thích ứng với thay đổi công nghệ. Hình thức đào tạo nên linh hoạt, kết hợp học tập với thực hành tại doanh nghiệp, phù hợp với khả năng bố trí kinh phí và thời gian. Nhà nước có thể hỗ trợ kết nối nhu cầu đào tạo với cơ sở cung ứng; doanh nghiệp chủ động xác định kỹ năng cần thiết và đánh giá hiệu quả sau đào tạo.
Thứ năm, phát triển doanh nghiệp dẫn dắt gắn với liên kết chuỗi giá trị, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế.
Hàn Quốc cho thấy vai trò của doanh nghiệp lớn trong phát triển công nghệ và cạnh tranh quốc tế; Malaysia chú trọng kết nối doanh nghiệp nhỏ và vừa với doanh nghiệp lớn, tập đoàn đa quốc gia trong chuỗi cung ứng. Kết hợp hai kinh nghiệm này, Việt Nam cần khuyến khích hình thành doanh nghiệp tư nhân có năng lực dẫn dắt, đồng thời mở rộng cơ hội tham gia chuỗi giá trị cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Sự phát triển về quy mô cần tạo khả năng lan tỏa công nghệ và thị trường trong khu vực tư nhân.
Do đó, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp có năng lực đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường quốc tế. Đồng thời, thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thông qua quan hệ cung ứng, hợp tác sản xuất và chuyển giao công nghệ. Trọng tâm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa là nâng cao chất lượng sản phẩm, năng lực quản trị và khả năng đáp ứng yêu cầu của đối tác, qua đó từng bước tăng tỷ lệ nội địa hóa.
Quá trình tham gia chuỗi giá trị cần gắn với chuyển đổi xanh, phù hợp định hướng phát triển bền vững của bài viết. Cần khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, sản xuất sạch hơn và kinh tế tuần hoàn; hỗ trợ tiếp cận thông tin về tiêu chuẩn môi trường, chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc đáp ứng tiêu chuẩn cần có lộ trình phù hợp với khả năng tài chính và công nghệ. Qua đó, kết hợp mở rộng thị trường với nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực hội nhập.
6. Kết luận
Kỷ nguyên số đang tạo ra những thay đổi sâu sắc đối với phương thức hoạt động và cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời đặt ra yêu cầu mới về công nghệ, vốn, nhân lực và quản trị. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy Nhà nước cần giữ vai trò kiến tạo thông qua hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng số, nguồn nhân lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, trong khi doanh nghiệp là chủ thể trung tâm của đầu tư và đổi mới. Ở Việt Nam, kinh tế tư nhân đã phát triển mạnh nhưng vẫn hạn chế về quy mô, công nghệ, năng suất và liên kết chuỗi giá trị. Thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW cần gắn với hoàn thiện thể chế, thúc đẩy chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng nhân lực và bảo đảm cạnh tranh bình đẳng. Qua đó, nâng cao năng lực nội sinh, sức cạnh tranh và khả năng tự chủ của khu vực kinh tế tư nhân, góp phần phát triển nền kinh tế hiện đại và hội nhập sâu rộng.
Tài liệu tham khảo:
Amsden, A. H (1989), Asia’s Next Giant: South Korea and Late Industrialization. Oxford University Press. https://doi.org/10.1093/0195076326.001.0001
Ban Chấp hành Trung ương (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá XII về phát triển kinh tế tư nhân. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn
Bộ Công Thương (2025). Báo cáo Diễn đàn Chuyển đổi số ngành Công Thương 2025: Định hình tầm nhìn chuyển đổi kép đến năm 2030.
Cục Thống kê, Bộ Tài chính (2026). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2025.
Kim, L (1997). Imitation to Innovation: The Dynamics of Korea’s Technological Learning. Harvard Business School Press. https://www.hup.harvard.edu/books/9780875845746
North, D. C (1990). Institutions, Institutional Change and Economic Performance. Cambridge University Press. https://doi.org/10.1017/CBO9780511808678
OECD. (2018). OECD Economic Surveys: Korea 2018. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/eco_surveys-kor-2018-en
OECD. (2023). OECD Reviews of Innovation Policy: Korea 2023. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/bdcf9685-en
OECD. (2024). OECD Economic Surveys: Malaysia 2024. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/7b2fbdbb-en
OECD. (2026). OECD Economic Surveys: Malaysia 2026. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/eco_surveys-mys-2026-en|
Vũ Khuê (07/01//2025). Tỷ trọng thương mại điện tử 2/3 giá trị của nền kinh tế số Việt Nam. VnEconomy. https://vneconomy.vn/ty-trong-thuong-mai-dien-tu-chiem-2-3-gia-tri-cua-nen-kinh-te-so-viet-nam.htm



