Nguyễn Khắc Pho
Vườn quốc gia Côn Đảo
(Quanlynhanuoc.vn) – Vườn quốc gia Côn Đảo là một Khu rừng đặc dụng của Việt Nam, có nhiều nét khá đặc biệt về cảnh quan thiên nhiên, vị trí địa lý, hệ sinh thái đa dạng vừa rừng, vừa biển tạo nên những nét độc đáo của tạo hóa thiên nhiên. Nơi đây không chỉ nổi tiếng về bảo tồn thiên nhiên mà còn nổi tiếng với bảo tồn di tích lịch sử gắn liền với 113 năm thực dân, đế quốc thiết lập ra hệ thống nhà tù tàn khốc. Ngày nay, Côn Đảo là điểm đến để giáo dục truyền thống yêu nước, ý chí đấu tranh cách mạng kiên cường của các thế hệ cha anh đi trước đối với thế hệ hôm nay và mai sau. Cách đây 41 năm (ngày 01/3/1984) Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định lập Khu rừng cấm Côn Đảo để bảo tồn thiên nhiên gắn với bảo tồn, tôn tạo quần thể di tích lịch sử cách mạng và cảnh quan trên đảo.
Từ khóa: Vườn quốc gia Côn Đảo; quản lý nhà nước; bảo vệ; sử dụng rừng đặc dụng.
1. Đặt vấn đề
Vườn quốc gia Côn Đảo tổng diện tích rộng gần 200km2, trong đó có diện tích bảo tồn rừng trên các đảo gần 60km2, diện tích bảo tồn biển 140km2, đây không chỉ là nơi lưu giữ bảo tồn cảnh quan thiên nhiên và các giá trị đa dạng sinh học với những kiệt tác của tự nhiên, nhiều loài động, thực vật đặc hữu quý hiếm mà còn là địa danh gắn liền với lịch sử cách mạng hào hùng của dân tộc. Côn Đảo ngày nay là một trong những Khu du lịch văn hóa – lịch sử – tâm linh của Việt Nam, có hệ sinh thái biển đảo chất lượng cao gắn với du lịch xanh; qua đó chú trọng bảo tồn nghiêm ngặt hệ sinh thái Vườn quốc gia Côn Đảo và các giá trị di tích quốc gia đặc biệt.
Trong bối cảnh biến đối khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp cùng với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, nhất là nhu cầu đô thị hóa, đất đai và tài nguyên rừng ngày càng bị thu hẹp, công tác quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng gắn với phát triển bền vững tại Côn Đảo cũng như ở nhiều địa phương khác đang đối mặt với nhiều thách thức. Đó là những thách thức không nhỏ từ sự tàn phá của thiên nhiên cộng với tác động của con người. Đặc biệt là sự mở rộng các dự án hạ tầng và đô thị hóa đã làm ảnh hưởng diện tích rừng tự nhiên và gây ra tác động tiêu cực đến hệ sinh thái. Ngoài ra, tình trạng lấn chiếm đất rừng và các bãi bồi ven biển, người dân sử dụng các ngư cụ bị nghiêm cấm để khai thác tài nguyên sinh vật biển, làm suy giảm các rạn san hô và thảm cỏ biển…Việc không kiểm soát được những hoạt động gây hại này có thể dẫn đến suy giảm nhanh chóng diện tích, chất lượng của môi trường sống của các loài hoang dã, về lâu dài sẻ ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của cộng đồng dân cư trên đảo và suy giảm đa dạng sinh học.
2. Thực trạng công tác quản lý nhà nước về bảo vệ, sử dụng rừng đặc dụng tại Vườn quốc gia Côn Đảo
Đặc khu Côn Đảo là một trong 168 phường, xã và đặc khu mới của TP. Hồ Chí Minh theo Nghị quyết số 1685/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa XV) về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã năm 2025. Vườn quốc gia Côn Đảo là một trong những khu bảo tồn thiên nhiên quan trọng mang tính đặc trưng riêng biệt, độc đáo của Việt Nam, thuộc hệ thống rừng đặc dụng, là 1 trong 164 khu rừng đặc dụng, đồng thời là 1 trong 33 vườn quốc gia của Việt Nam.
Vườn quốc gia Côn Đảo được thành lập ngày 31/3/1993 theo Quyết định số 135/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở nâng hạng từ Khu Rừng cấm Côn Đảo được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng thành lập tại Quyết định số 85/CT ngày 01/3/1984. Theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 389/QĐ-TTg ngày 09/5/2024 phê duyệt quy hoạch khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản thời kỳ 2021-2030 tầm nhìn đến 2050; Quyết định số 895/QĐ-TTg ngày 24/8/2024 phê duyệt Quy hoạch lâm nghiệp quốc gia thời kỳ 2021-2030 tầm nhìn đến 2050 thì Vườn quốc gia Côn Đảo là một Khu rừng đặc dụng, đồng thời là Khu bảo tồn biển với quy mô, diện tích gần 200km2 nằm trọn trên địa bàn huyện Côn Đảo trước đây nay là Đặc khu Côn Đảo thuộc Thành Phố Hồ Chí Minh. Quần đảo Côn Đảo gồm có 16 hòn đảo, trong đó 14 hòn đảo nằm trong phạm vi diện tích Vườn quốc gia Côn Đảo ( chiếm khoảng 77% tổng diện tích tự nhiên Đặc khu Côn Đảo). Đảo lớn nhất là Hòn Côn Sơn diện tích khoảng 51km2. Địa hình Côn Đảo chủ yếu đồi núi, địa chất chủ yếu là núi đá granit, một số đồi cát, bãi cát dưới chân các đảo, eo biển, vịnh và đầm. Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Núi Thánh Giá (577m) và Núi Chúa (515m).
Ngày 01/7/2025, UBND TP. Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 48/QĐ-UBND về việc chuyển Ban quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo từ đơn vị sự nghiệp công lập thuộc UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trở thành đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc UBND TP. Hồ Chí Minh, chịu sự quản lý trực tiếp của UBND Thành phố từ ngày 01/7/2025.
Về chức năng, nhiệm vụ của Ban quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo: là đơn vị có trách nhiệm quản lý toàn diện các hoạt động bảo tồn, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và du lịch sinh thái, theo đúng vai trò chủ rừng. Ban Quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo chịu sự quản lý hành chính trực tiếp của UBND TP. Hồ Chí Minh. Về chuyên môn, nghiệp vụ được Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Hồ Chí Minh hướng dẫn. Chức năng, nhiệm vụ chính của Ban Quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo là quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và hệ sinh thái biển – rừng ngập nước; bảo tồn đa dạng sinh học; tổ chức nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường, du lịch sinh thái và cung ứng dịch vụ môi trường rừng; phòng cháy, chữa cháy, phục hồi sinh thái, xử lý vi phạm, hợp tác quốc tế, tiếp nhận và triển khai các chương trình dự án được phê duyệt.
Hạt Kiểm lâm trực thuộc Ban Quản lý Vườn quốc gia có chức năng, nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc Ban quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo thực hiện quản lý, bảo vệ rừng, bảo đảm chấp hành pháp luật về lâm nghiệp; là lực lượng chuyên ngành về phòng cháy, chữa cháy rừng; bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; bảo vệ nguồn lợi thủy sinh trong khu bảo tồn biển Vườn quốc gia Côn Đảo theo quy định của Luật Lâm nghiệp, Luật Thủy sản và pháp luật có liên quan. Ngoài ra, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo có trách nhiệm tham mưu cho UBND đặc khu Côn Đảo quản lý bảo vệ rừng, bảo đảm chấp hành pháp luật lâm nghiệp, phòng cháy, chữa cháy rừng, phát triển rừng, sử dụng rừng, chế biến và thương mại lâm sản trên địa bàn Đặc khu Côn Đảo (ngoài phạm vi Vườn quốc gia Côn Đảo). Hạt Kiểm lâm chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Giám đốc Ban quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo, đồng thời chịu sự hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn, nghiệp vụ của Chi cục Kiểm lâm TP. Hồ Chí Minh.
Theo Thông tư số 16/2025/TT-BNNMT ngày 19/6/2025 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường về thực hiện phân cấp, phân quyền phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Chủ tịch UBND cấp xã được giao quyền phê duyệt hoặc điều chỉnh phương án quản lý rừng bền vững đối với chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, nhóm hộ hoặc tổ hợp tác có hoạt động du lịch sinh thái. Tuy nhiên đối với Ban quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc trực tiếp UBND TP. Hồ Chí Minh nên mọi quyết định liên quan về tổ chức, bộ máy, nhân sự, tài chính, chức năng nhiệm vụ quyền hạn… do Chủ tịch UBND Thành phố quyết định, không phân cấp, phân quyền cho UBND đặc khu Côn Đảo.
Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, Vườn quốc gia Côn Đảo đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong công tác quản lý rừng và bảo tồn thiên nhiên, đặc biệt, việc được công nhận các danh hiệu quốc tế và khu vực, như: Khu Ramsar thế giới, Khu bảo tồn Danh lục Xanh IUCN, Vườn Di sản ASEAN, Thành viên của mạng lưới bảo tồn rùa biển Đông Nam Á và Ấn Độ Dương (IOSEA)…Vườn quốc gia Côn Đảo đã thành công trên nhiều lĩnh vực bảo tồn như bảo tồn hệ sinh thái rừng tự nhiên trên đảo, bảo tồn hệ sinh thái San hô và Cỏ biển…đặc biệt nổi tiếng nhất vẫn là công tác bảo tồn rùa biển, với số lượng lớn rùa mẹ lên bãi đẻ và ấp nở thành công rùa con hàng năm; nhiều cây gỗ lớn, cổ thụ trong Vườn quốc gia đã được công nhận là cây di sản, góp phần bảo tồn các nguồn gen quý hiếm. Vườn đã thực hiện quản lý rừng bền vững, thu hút du lịch sinh thái có trách nhiệm và tăng cường công tác bảo vệ thông qua việc tái lập Hạt Kiểm lâm.
Diện tích xây dựng các nhóm công trình tại các điểm du lịch của Vườn quốc gia Côn Đảo đều tuân thủ tốt quy định về mật độ xây dựng theo Nghị định số 91/2024/NĐ-CP. Cụ thể, tại các phân khu dịch vụ – hành chính, tỷ lệ diện tích xây dựng công trình đều dao động dưới 5%, phổ biến ở mức 3-4%, thể hiện sự phù hợp với ngưỡng cho phép và không gây áp lực lên không gian cảnh quan tự nhiên. Đối với các điểm thuộc phân khu phục hồi sinh thái, tỷ lệ xây dựng chỉ ở mức dưới 2%, nhiều vị trí đạt mức 1- 1,5%, đáp ứng đúng quy định. Các điểm được quy hoạch đều giữ mức độ can thiệp xây dựng thấp, bảo đảm yêu cầu bảo vệ hệ sinh thái rừng – biển, tôn trọng cảnh quan không gian xanh, không phá vỡ cảnh quan, không ảnh hưởng diện tích và độ che phủ rừng Vườn quốc gia Côn Đảo theo đúng quy định của pháp luật về định hướng phát triển du lịch sinh thái bền vững dưới tán rừng.
Thực hiện nhiệm vụ cụ thể, Ban Quản lý vườn đã xây dựng Phương án quản lý rừng bền vững giai đoạn 2020-2030 làm căn cứ thực hiện, tích cực triển khai công tác bảo vệ tài nguyên rừng, tài nguyên biển. Hằng năm, Ban Quản lý Vườn quốc gia đã lập, trình phê duyệt và triển khai thực hiện hiệu quả các phương án phòng cháy, chữa cháy rừng, phương án tăng cường công tác tuần tra, quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản. Hạt Kiểm lâm trực thuộc Vườn quốc gia Côn Đảo đã phối hợp chặt chẽ với các chủ rừng trên địa bàn theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp, quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn đặc khu Côn Đảo.
Ban Quản lý Vườn đã thực hiện nhiều hoạt động thiết thực nhằm bảo tồn đa dạng sinh học: lập hồ sơ và được công nhận thêm 3 Cây Di sản Việt Nam; nghiên cứu đặc tính sinh thái, hình thái và các giải pháp kỹ thuật phục hồi phát triển loài, giống quý; diệt trừ, cô lập một số loài thực vật ngoại lai xâm hại; gieo tạo trồng thử nghiệm một số loài cây rừng tại Vườn quốc gia Côn Đảo làm cây xanh đô thị; điều tra phân bố một số loài cây thuốc nam có giá trị; nghiên cứu, xác định sức chứa du lịch sinh thái tại các điểm tuyến du lịch sinh thái trong Vườn quốc gia. Kết quả là tài nguyên rừng tăng lên rõ rệt, một số loài cây quý hiếm đã được gây trồng, sinh trưởng và phát triển tốt, giá trị của rừng ngày càng góp phần tích cực cho sự nghiệp phát triển dân sinh, kinh tế – xã hội của Côn Đảo.
Ban quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo cũng thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học biển, như: nghiên cứu, phục hồi và bảo tồn loài Trai tai tượng vảy tại Côn Đảo; tổ chức giám sát hệ sinh thái san hô và cỏ biển tại khu vực quản lý; quan trắc độ mặn nước biển định kỳ; lắp đặt, bảo dưỡng phao neo, phao ranh giới trong Khu bảo tồn biển; giám sát sự xuất hiện của các loài động vật biển quý hiếm. Đồng thời, triển khai Dự án di dời, cứu hộ trứng và rùa con để phục hồi quần thể rùa biển tại Côn Đảo trước tác động của nhiệt độ tăng, triều cường, nước biển dâng do biến đổi khí hậu. Phối hợp với Công ty TNHH Côn Đảo Resort triển khai phương án phục hồi và bảo tồn bãi rùa đẻ tại Đất Dốc, từ năm 2022 – 2024 số rùa con được cứu hộ, quản lý thả về biển là 192.302 cá thể. Bàn giao trứng rùa biển cho Ban Quản lý Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm để thực hiện đề tài nghiên cứu bảo tồn và phục hồi quần thể rùa biển tại Cù Lao Chàm theo giấy phép tặng, cho của UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trước thời điểm sáp nhập tỉnh.
Ban quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo đã chủ động phối hợp, hợp tác với các tổ chức trong nước và quốc tế thực hiện công tác bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học.
Các mô hình hỗ trợ cộng đồng trong những năm qua đã gắn kết trách nhiệm, chia sẻ quyền lợi giữa cộng đồng dân cư với chủ rừng và Nhà nước trong việc bảo vệ rừng bền vững góp phần tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học, phát huy giá trị của Vườn quốc gia Côn Đảo trong phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương.
Bên cạnh những kết quả đạt được, còn có một số mặt hạn chế, thách thức đối với Ban quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý, như: sự bất cập trong thực hiện chủ trương giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng cho Ban quản lý. Cho đến nay, Ban quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo mới được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 4.800ha, còn 1.090ha đất rừng đặc dụng vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì lý do các quy hoạch tại địa bàn Đặc khu Côn Đảo chưa rõ ràng, chồng lấn giữa các quy hoạch xây dựng, giao thông thuộc liên khu đất rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo nên còn gặp khó khăn trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Mặt khác, việc cắm mốc ranh giới phân định trên bản đồ và thực địa phạm vi diện tích ranh giới đất rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo đã rõ ràng, tuy nhiên trong quá trình thực hiện, một số cá nhân, đơn vị không tuân thủ đúng các quy định về quản lý bảo vệ rừng, duy trì diện tích, hiện trạng và độ che phủ rừng nên đã có những đề xuất triển khai một số dự án đầu tư xây dựng phát triển kinh tế – xã hội vào trong phần rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch lâm nghiệp quốc gia thời kỳ 2021 – 2030 tầm nhìn đến 2050.
Nguồn kinh phí phục vụ cho các hoạt động quản lý rừng đang chủ yếu phụ thuộc vào nguồn ngân sách nhà nước cấp hằng năm. Các nguồn thu khác thường chỉ đủ chi phục vụ cho hoạt động bộ máy và hoạt động chuyên môn, không đủ để phục vụ cho những hoạt động xây dựng cơ bản, di dân hoặc đền bù để giải quyết những chồng lấn… làm ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động bảo vệ rừng. Nguồn chi cho phát triển rừng đặc dụng hiện nay chủ yếu chỉ tập trung vào bộ máy và hoạt động quản lý hành chính, thiếu kinh phí cho các hoạt động chuyên sâu về bảo tồn tài nguyên.
Việc người dân khai phá rừng phòng hộ trên địa bàn Đặc khu Côn Đảo để lấy đất đang là vấn đề nóng diễn ra tại Đặc khu. Nguyên nhân do giá trị đất đai ở Côn Đảo ngày càng gia tăng, nhận thức của một bộ phận dân cư và một số cán bộ chưa thực sự quan tâm tới việc bảo vệ rừng. Đa số người dân sống gần rừng mặc dù hiểu được vai trò của rừng đối với con người, biết được những hành vi có tác động tiêu cực đến rừng nhưng chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của rừng đối với môi trường, kinh tế và sinh kế, dễ xem rừng là nguồn tài nguyên vô tận. Người dân sống ở vùng đệm của các khu rừng đặc dụng thường có đời sống khó khăn dẫn đến việc xâm nhập vào rừng để khai thác tài nguyên hoặc phá rừng làm nương rẫy. Điều này cũng dẫn đến sự thiếu trách nhiệm trong các hoạt động bảo vệ rừng tại địa phương.
Năng lực thực thi pháp luật và thẩm quyền xử lý vi phạm của các cơ quan liên quan (như kiểm lâm, Ban quản lý rừng) còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu, tính chất phức tạp của các vụ vi phạm. Trung bình số vụ vi phạm về quản lý, bảo vệ rừng bị xử lý chưa tương xứng, chỉ 2-3 vụ/năm. Các hoạt động khai thác lâm sản trái phép, đặc biệt vào ban đêm và tại các khu vực hẻo lánh đang gây áp lực lớn lên hệ sinh thái. Trong khi đó, việc thiếu lực lượng kiểm lâm có đầy đủ phương tiện và thẩm quyền xử lý vi phạm, khiến các đối tượng vi phạm dễ dàng lợi dụng. Ngoài ra, quy hoạch xây dựng chưa phù hợp, tình trạng san gạt, phá rừng và xử lý rác thải chưa hiệu quả cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái tự nhiên.
Ngoài chức năng, nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo thì Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Côn Đảo còn được giao thêm nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng, bảo đảm chấp hành pháp luật lâm nghiệp đối với diện tích rừng do UBND Đặc khu quản lý. Nhiệm vụ được giao thêm nhưng biên chế không tăng, kinh phí không bổ sung đã gây khó khăn nhất định cho việc quản lý và bảo vệ rừng. Trong khi có tình trạng, chính quyền địa phương Đặc khu đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân trên phần diện tích đất rừng tự nhiên. Điều này gây khó khăn, thách thức cho việc quản lý bảo vệ rừng đối với phần diện tích rừng thuộc thẩm quyền quản lý của Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Côn Đảo.
Theo Luật Cán bộ, công chức, Luật Lâm nghiệp và các nghị định về tổ chức và hoạt động của kiểm lâm thì kiểm lâm là công chức, kiểm lâm thực hiện nhiệm vụ công vụ theo quy định của pháp luật, được quyền thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, kiểm lâm trong các Vườn quốc gia, các khu bảo tồn trong cả nước không phải là công chức mà là viên chức, vì thế việc thực thi nhiệm vụ, công vụ của kiểm lâm các Vườn quốc gia, các khu bảo tồn bị hạn chế về quyền hạn, thậm chí họ không được hưởng phụ cấp công vụ theo quy định hiện hành. Tuy nhiên, trách nhiệm bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá của đất nước, tài sản của quốc gia “đặt hết trên vai’’ những kiểm lâm viên các Vườn quốc gia, các khu bảo tồn, đây là những quy định bất cập, rất thiệt thòi cho những người bảo vệ rừng hiện nay.
Thực trạng trên do một số nguyên nhân, sau:
Một là, Luật Lâm nghiệp, Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức và các văn bản dưới luật mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần qua nhiều năm nhưng đến nay vẫn còn mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập thiếu thống nhất, không đồng bộ gây khó khăn cho việc thực hiện. Quy định về giao đất, giao rừng, cho thuê rừng còn phức tạp, thủ tục rườm rà, thậm chí chưa rõ ràng. Chính sách kinh tế – xã hội chưa đủ hấp dẫn. Cơ chế thu hút đầu tư tư nhân vào rừng còn hạn chế, chưa hấp dẫn bằng các ngành khác. Chưa có cơ chế tài chính bền vững cho việc bảo vệ rừng, đặc biệt là chi trả dịch vụ môi trường rừng còn thấp, chưa đủ bù đắp chi phí cho người dân, cộng đồng. Hỗ trợ sinh kế cho cộng đồng dân cư sống gần rừng còn yếu, khiến họ thiếu động lực tham gia bảo vệ rừng.
Hai là, công tác quản lý còn chồng lấn, chưa phân cấp. Sự chồng chéo giữa quản lý nhà nước và vai trò của chủ rừng. Phân cấp quản lý còn chậm, cơ chế giám sát, kiểm tra, thanh tra chưa hiệu quả, dễ phát sinh tiêu cực. Chính sách chưa đồng bộ với thực tiễn. Chưa theo kịp tốc độ phát triển kinh tế – xã hội, biến đổi khí hậu. Chưa quan tâm đúng mức đến đa dạng sinh học, vai trò của rừng tự nhiên trong bảo tồn.
Ba là, trình độ nhận thức hạn chế của một bộ phận người dân vẫn là một trong những thách thức lớn đối với công tác bảo vệ rừng ở nước ta nói chung. Trình độ nhận thức hạn chế, đặc biệt là pháp luật về rừng và đời sống kinh tế khó khăn là nguyên nhân chính khiến người dân, tham gia phá rừng, lấn chiếm đất rừng hoặc tiếp tay cho các hành vi vi phạm; Nhiều người dân chưa nắm rõ các quy định mới trong Luật Lâm nghiệp hoặc các mức xử phạt về hủy hoại rừng. Điều này dẫn đến việc vô tình tiếp tay cho “lâm tặc” hoặc không tố giác các hành vi vi phạm. Nhiều hộ dân vẫn coi rừng là nguồn thu nhập chính. Việc khai thác gỗ nhỏ, săn bắt động vật hoang dã hoặc tận thu lâm sản phụ diễn ra thiếu kiểm soát, làm suy giảm đa dạng sinh học.
Bốn là, sau khi giải thể Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Côn Đảo trực thuộc Ban quản lý Vườn để thành lập Hạt Kiểm lâm Côn Đảo trực thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Chi cục Kiểm lâm TP. Hồ Chí Minh) thì đơn vị Vườn quốc gia thiếu nhân sự thường xuyên bám trụ 24/24 tại các trạm, chốt trên các đảo nhỏ. Toàn đơn vị hiện có 52 người, thiếu 14 người so với chỉ tiêu biên chế được giao. Hậu quả là nhiều vấn đề phát sinh, như: (1) Phân tán đầu mối quản lý, thiếu sự thống nhất trong chỉ đạo, điều hành, làm giảm tính chủ động trong xử lý các vụ việc liên quan đến quản lý, bảo vệ rừng – biển. Điều này gây khó khăn trong điều phối nhân lực, phương tiện và kinh phí. Không cùng hệ thống quản lý nên việc huy động lực lượng hỗ trợ giữa các bộ phận gặp nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ rừng, khu bảo tồn biển và đa dạng sinh học; chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trên cùng địa bàn. (2) Khi phát hiện các vụ vi phạm hành chính về lâm nghiệp hoặc xâm phạm khu bảo tồn biển, lực lượng của Vườn phải chờ phối hợp với Hạt Kiểm lâm Côn Đảo để lập biên bản và ra quyết định xử lý, khiến quá trình xử lý chậm, không kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm hoặc bảo toàn tang vật. Chưa có chính sách đãi ngộ, thu hút hợp lý cho kiểm lâm viên và nhân viên bảo vệ rừng ở các đảo nhỏ.
3. Một số giải pháp
3.1. Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm đối với công tác bảo vệ, sử dụng rừng đặc dụng tại Vườn quốc gia Côn Đảo.
Tuyên truyền, phổ biến các nội dung, nhiệm vụ được quy định tại chiến lược, chương trình, đề án, dự án, kế hoạch phát triển ngành lâm nghiệp và các văn bản liên quan khác. Các cơ quan truyền thông tăng thời lượng đưa tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về lâm nghiệp; xây dựng, mở chuyên mục, chuyên trang, phối hợp tổ chức sản xuất các tin, bài, phóng sự về lĩnh vực lâm nghiệp; đăng tin, bài biểu dương người tốt, việc tốt trong bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng, phê phán các hành vi vi phạm pháp luật về lâm nghiệp. Đẩy mạnh tuyên truyền trên các nền tảng số, hệ thống thông tin cơ sở và các phương tiện truyền thông mới. Ưu tiên các giải pháp tiếp cận người dân ở khu vực biên giới, vùng cao, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn. Đổi mới, nâng cao chất lượng, thời lượng các chương trình phát thanh, truyền hình, các ấn phẩm thích hợp để đưa thông tin đến với người dân.
3.2. Hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách bảo vệ, sử dụng rừng đặc dụng.
Rà soát điều chỉnh quy hoạch xây dựng Côn Đảo, rà soát hình thức lựa chọn hình thức đầu tư và lựa chọn giải pháp công nghệ tiên tiến để tiếp tục đầu tư xây dựng Dự án Nhà máy xử lý rác Côn Đảo theo nguyên tắc đầu tư xây dựng phát triển nhưng không làm tổn hại đến tài nguyên thiên nhiên, duy trì diện tích và tỷ lệ che phủ rừng hiện có để phát triển bền vững Đặc khu Côn Đảo – TP. Hồ Chí Minh. Theo đó, hoàn thiện cơ chế, chính sách cụ thể, khả thi để quản lý hiệu quả rừng, trong đó có rừng đặc dụng tạo động lực thu hút sự tham gia của người dân, huy động các nguồn lực xã hội đầu tư cho hoạt động quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững; chính sách khoanh nuôi, bảo vệ, phát triển rừng phải gắn với ổn định, nâng cao đời sống cho cộng đồng và người dân ở khu vực có rừng; tăng định mức bảo vệ rừng và mức khoán bảo vệ rừng để phù hợp với thực tế. Tiếp tục thực hiện giao khoán bảo vệ rừng cho cộng đồng dân cư, hộ gia đình cá nhân tham gia giữ rừng, hưởng lợi từ việc nhận khoán bảo vệ rừng.
Quy hoạch hợp lý tuyến, điểm du lịch sinh thái. Với tư cách là chủ rừng, Ban quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo đã chủ động trình Sở Nông nghiệp và Môi trường điều chỉnh, bổ sung Đề án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí Vườn quốc gia Côn Đảo giai đoạn đến năm 2030 theo hướng quy hoạch lại các tuyến, điểm du lịch sinh thái đảm bảo phân loại các tuyến điểm du lịch hợp lý. Có tuyến điểm du lịch ưu tiên phát triển, có tuyến du lịch thông thường.
3.3. Cũng cố kiện toàn hoàn thiện mô hình tổ chức Ban quản lý rừng đặc dụng.
Ban quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo tập trung xây dựng vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức theo mô hình đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND TP. Hồ Chí Minh.
Đối với Ban quản lý rừng đặc dụng, UBND cấp tỉnh trực tiếp quản lý Ban quản lý Vườn quốc gia; các khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài – sinh cảnh, khu bảo vệ cảnh quan quan trọng (theo xác định của UBND cấp tỉnh trên cơ sở về quy mô, tầm quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, di tích – lịch sử đặc biệt cấp quốc gia, tính đặc trưng vùng); phân cấp Sở Nông nghiệp và Môi trường quản lý các khu rừng đặc dụng còn lại. Không hợp nhất các Ban quản lý Vườn quốc gia do tính chất bảo vệ tài nguyên đặc biệt, giá trị cao. Chỉ nên hợp nhất ban quản lý rừng có vị trí địa lý gần nhau, diện tích nhỏ (dưới 3.000 ha – theo quy định tại Điều 26 Luật Lâm nghiệp), có điều kiện di chuyển, cơ động thật sự thuận lợi.
Ban Quản lý Vườn quốc gia Côn Đảo chỉ đạo Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phân chia địa bàn, tiểu khu rừng cụ thể gắn trách nhiệm bảo vệ rừng đến từng Trạm Kiểm lâm. Kiên quyết, kiên trì tuần tra bảo vệ rừng, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm minh các hành vi khai thác rừng, lấn chiếm đất rừng nhất là lấn chiếm đất rừng phòng hộ thuộc UBND Đặc khu Côn Đảo quản lý.
3.4. Ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số trong bảo vệ, sử dụng rừng đặc dụng.
Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số cần được ứng dụng mạnh mẽ trong bảo vệ, sử dụng rừng đặc dụng tại Vườn quốc gia Côn Đảo. Các hệ thống giám sát tự động như bẫy ảnh, flycam, thiết bị bay không người lái UAV không chỉ để theo dõi đa dạng sinh học và phát hiện sớm vi phạm mà còn phát triển các nền tảng số, cơ sở dữ liệu tập trung, quản lý thông minh nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn, nghiên cứu, du lịch sinh thái bền vững, hướng tới mục tiêu “Côn Đảo xanh”, giảm thiểu tác động môi trường và bảo vệ hệ sinh thái đặc hữu, quý hiếm. Việc áp dụng công nghệ mới giúp thu thập dữ liệu về quần thể động vật, đặc biệt loài nguy cấp, phát hiện sớm phá rừng, săn bắt trái phép, giám sát sự thay đổi theo thời gian. Xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung, phân tích dữ liệu để hoạch định chính sách bảo tồn hiệu quả. Bảo vệ gần như nguyên vẹn hệ sinh thái rừng, giữ vững đa dạng sinh học, các loài quý hiếm. Hướng tới mô hình “Côn Đảo xanh”, cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Giảm chi phí, tăng tính chính xác, minh bạch trong công tác quản lý.
3.5. Tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ, sử dụng rừng đặc dụng.
Vườn quốc gia đẩy mạnh nghiên cứu, hợp tác quốc tế và giáo dục cộng đồng để nâng cao nhận thức và ứng dụng công nghệ vào quản lý. Tổ chức các diễn đàn đối thoại đầu tư và doanh nghiệp để kết nối các nhà nhập khẩu với doanh nghiệp Việt Nam. Tăng cường công tác xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu, tiếp tục phối hợp đàm phán, ký kết các hiệp định FTA để mở rộng thị trường xuất, nhập khẩu gỗ, sản phẩm gỗ và lâm sản khác; đẩy mạnh hội nhập trên các lĩnh vực như phát triển vùng nguyên liệu, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, chế biến, xuất khẩu lâm sản, quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng. Sử dụng kết quả của Đề án đánh giá tiềm năng, trữ lượng carbon rừng, biển Côn Đảo năm 2025 đã được công bố tiếp tục xin chủ trương TP. Hồ Chí Minh cho phép triển khai giai đoạn 2 xây dựng mô hình bán tín chỉ carbon rừng tại Vườn quốc gia Côn Đảo vào năm 2027.
Tăng cường, chủ động thu hút, vận động các nguồn vốn hỗ trợ quốc tế, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), thương mại các – bon rừng; chủ động hợp tác trong nghiên cứu, giáo dục, đào tạo để tiếp cận khoa học và công nghệ lâm nghiệp tiên tiến, phát triển nguồn nhân lực cho ngành.
Sử dụng hiệu quả các nguồn vốn tài trợ nước ngoài (vốn ODA, vay ưu đãi và hỗ trợ quốc tế…) theo hướng tăng cường cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, cấp chứng chỉ rừng, ưu tiên hỗ trợ kinh phí để thực hiện thí điểm và nhân rộng các mô hình trồng mới rừng cây gỗ lớn, bản địa, phục hồi rừng tự nhiên, phát triển lâm sản ngoài gỗ, nông lâm ngư kết hợp.
4. Kết luận
Quản lý nhà nước đóng vai trò then chốt trong việc bảo vệ rừng đặc dụng – loại rừng có giá trị đặc biệt về bảo tồn đa dạng sinh học và môi trường. Đổi mới trong quản lý, bảo vệ và sử dụng rừng đặc dụng tại Vườn quốc gia Côn Đảo tập trung vào việc kết hợp hài hòa giữa bảo tồn đa dạng sinh học với phát triển du lịch sinh thái bền vững; tăng cường ứng dụng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo trong công tác quản lý bảo vệ rừng; tăng cường phối hợp liên ngành, phối hợp giữa Ban quản lý rừng với địa phương và cộng đồng; áp dụng các quy định mới và đặc biệt là bảo vệ các hệ sinh thái nhạy cảm như bãi đẻ của rùa biển, nơi kiếm ăn và sinh sản của các đàn chim di cư, bảo vệ các rạn san hô và cỏ biển thông qua du lịch có trách nhiệm, hướng tới mục tiêu phát triển hài hòa giữa kinh tế và môi trường. Đổi mới quản lý nhà nước về bảo vệ, sử dụng rừng đặc dụng tại Vườn quốc gia Côn Đảo sẽ góp phần phát huy giá trị đa dụng của rừng, bảo vệ nguồn nước nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống cho người dân để thực hiện mục tiêu phát triển xanh, bền vững tại Đặc khu Côn Đảo, TP. Hồ Chí Minh.
Tài liệu tham khảo:
1. Chính phủ (2024). Nghị định số 91/2024/NĐ-CP ngày 18/7/2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp, sử dụng rừng đặc dụng. Nghị định số 131/2025/NĐ-CP và Nghị định 136/2025/NĐ-CP về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
2. Chính phủ (2024). Nghị định số 159/2024/NĐ-CP ngày 18/12/2024 về tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm và lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng.
3. Quốc hội (2017, 2024). Luật Lâm nghiệp năm 2017, sửa đổi, bổ sung năm 2024.
4. Quốc hội (2024). Nghị quyết số 139/2024/QH15 ngày 28/6/2024 về quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
5. Quốc hội (2025). Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2025.
6. Thủ tướng Chính phủ (1993). Quyết định số 135/QĐ-TTg ngày 31/3/1993 thành lập Vườn quốc gia Côn Đảo.
7. Thủ tướng Chính phủ (2015). Quyết định số 870/QĐ-TTg ngày 17/6/2015 phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển khu du lịch quốc gia Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2030.
8. Thủ tướng Chính phủ (2024). Quyết định số 895/QĐ-TTg ngày 24/8/2024 phê duyệt Quy hoạch lâm nghiệp quốc gia thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.
9. Thủ tướng Chính phủ (2024). Quyết định số 389/QĐ-TTg ngày 09/5/2024 phê duyệt Quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050.
10. Thủ tướng Chính phủ (2024). Quyết định số 1352/QĐ-TTg ngày 08/11/2024 phê duyệt quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
11. UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (1993). Quyết định số 587/QĐ-UBT ngày 13/9/1993 về việc thành lập Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Côn Đảo.
12. UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (2021). Quyết định số 3779/QĐ-UBND ngày 09/11/2021 phê duyệt đề án phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí tại Vườn quốc gia Côn Đảo đến năm 2030.
13. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 1685/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của Thành phố Hồ Chí Minh.



