Tái cơ cấu hệ thống quỹ tín dụng nhân dân để phát triển bền vững

TS. Nguyễn Thị Kim Thanh
Phó Tổng Thư ký Quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam
TS. Lục Anh Tuấn
Thư ký khoa học Hội đồng Lý luận Trung ương

(Quanlynhanuoc.vn) – Tái cơ cấu (restructuring) là quá trình thay đổi chiến lược ở cấp độ tổ chức, pháp lý, tài chính hoặc mô hình kinh doanh để giải quyết khủng hoảng hoặc chuẩn bị cho phát triển dài hạn. Trong lĩnh vực ngân hàng, tái cơ cấu là một hệ thống các quan điểm, nguyên tắc và mô hình kinh tế nhằm điều chỉnh lại cấu trúc và hoạt động của hệ thống tổ chức tín dụng để bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững. Bài viết mô tả quá trình tái cơ cấu hệ thống quỹ tín dụng nhân dân từ buổi sơ khai là các hợp tác xã tín dụng (khung pháp lý còn chưa đầy đủ) đến nay khi hệ thống quỹ tín dụng nhân dân đã được luật hóa là mô hình các tổ chức tín dụng hợp tác xã, theo đó, ngân hàng hợp tác xã là ngân hàng của các quỹ tín dụng nhân dân. Quá trình tái cơ cấu này được diễn ra thường xuyên gắn liền với yêu cầu phát triển của nền kinh tế, của hệ thống ngân hàng và yêu cầu nội tại để tồn tại và phát triển của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân. Bài viết cũng đưa ra một số giải pháp cho việc tái cơ cấu hệ thống quỹ tín dụng nhân dân trong giai đoạn sắp tới.

Từ khóa: Tái cơ cấu; mô hình hợp tác xã tín dụng; hệ thống quỹ tín dụng nhân dân.

1. Quá trình hình thành và phát triển của quỹ tín dụng nhân dân

Trên thế giới, hợp tác xã tín dụng xuất hiện đầu tiên ở Đức vào giữa thế kỷ XIX. Người khởi xướng tiêu biểu là Friedrich Raiffeisen với hợp tác xã tín dụng nông thôn; Hermann Schulze-Delitzsch với hợp tác xã tín dụng đô thị. Dù ở nông thôn hay thành thị, hợp tác xã tín dụng thành lập với mục tiêu giúp người nghèo, nông dân, tiểu thủ công thoát khỏi nạn cho vay nặng lãi và hoạt động dựa trên các nguyên tắc tự nguyện – tự chủ – dân chủ – tương trợ. Mô hình hợp tác xã tín dụng trên thế giới ngày càng phát triển mở rộng vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, lan sang Pháp, Italia, Hà Lan, Nhật Bản…; trở thành một bộ phận quan trọng của hệ thống tài chính nhiều quốc gia. Thực tế này khẳng định sự phù hợp của mô hình hợp tác xã tín dụng trong sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng của một quốc gia.

Đối với Việt Nam, mô hình hợp tác xã tín dụng cũng được nghiên cứu xem xét ứng dụng. Ngày 22/5/1956, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quy tắc số 739-TTg về việc tổ chức hợp tác xã tín dụng nông thôn, đây là văn bản quan trọng nhất đặt nền móng cho việc tổ chức và hoạt động của mô hình hợp tác xã tín dụng. Mục tiêu hoạt động của mô hình hợp tác xã tín dụng giai đoạn này là huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư và cho vay phục vụ sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tại địa phương, hạn chế và dần xóa bỏ nạn cho vay nặng lãi tại nông thôn.

Mô hình hợp tác xã tín dụng được thành lập gắn với quá trình xây dựng kinh tế hợp tác xã ở miền Bắc. Các hợp tác xã này hoạt động dựa trên nguyên tắc tương trợ, mang tính hành chính cao, chịu sự chi phối mạnh của Nhà nước và gắn chặt với cơ chế bao cấp. Trong giai đoạn đầu phát triển, hợp tác xã tín dụng đã phát huy được vai trò của mình, đánh dấu sự hình thành của mạng lưới hợp tác xã tín dụng rộng khắp miền Bắc, hoạt động theo nguyên tắc tập thể dưới sự chỉ đạo của hệ thống Ngân hàng Nhà nước. Mô hình này duy trì cho đến khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính năm 1989 – 1990 thì đổ vỡ. Nguyên nhân là do mô hình này hoạt động dựa trên sự bảo trợ của Nhà nước, quản lý lỏng lẻo và thiếu kiểm soát rủi ro, quản trị yếu kém, nhiều hợp tác xã huy động vốn với lãi suất cao rồi cho vay không thu hồi được, dẫn đến mất cân đối tài chính trầm trọng. Sau sự đổ vỡ này, Nhà nước phải thực hiện chấn chỉnh mạnh mẽ hệ thống tài chính.

Nhằm khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của hợp tác xã tín dụng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở một nước phổ biến còn là sản xuất nhỏ, người sản xuất nhỏ còn là lực lượng kinh tế quan trọng, lực lượng xã hội đông đảo; phát triển hợp tác xã tín dụng là con đường đúng đắn, tốt nhất để đưa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn, tham gia chủ động, tích cực vào các chuỗi giá trị; đồng thời, là con đường đưa những người sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội một cách chủ động, tích cực, thể hiện tính ưu việt của định hướng xã hội chủ nghĩa trong vận hành, phát triển của nền kinh tế thị trường, đến năm 1993, đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế định hướng thị trường, mô hình hợp tác xã tín dụng cũ bị bãi bỏ hoàn toàn và được thay thế bằng mô hình quỹ tín dụng nhândân theo Quyết định số 390/QĐ-TTg ngày 27/02/1993 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Đề án thí điểm thành lập Quỹ tín dụng nhân dân” theo 3 cấp: quỹ tín dụng trung ương, khu vực, cơ sở.

Qua 7 năm thí điểm, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân với mô hình 3 cấp đã nảy sinh nhiều bất cập, việc điều hòa vốn trong hệ thống phải thực hiện thông qua cấp trung gian là quỹ tín dụng nhân dân khu vực, một mặt, làm tăng chi phí, mặt khác, lại hạn chế sự hỗ trợ kịp thời của quỹ tín dụng trung ương đối với các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Đặc biệt, việc phát triển số lượng quỹ tín dụng nhân dân rất nhanh trong khi mạng lưới của quỹ tín dụng trung ương còn hạn chế, năng lực tài chính còn yếu dẫn đến mối liên kết trong hệ thống từ quỹ tín dụng trung ương đến quỹ tín dụng nhân dân khu vực để hỗ trợ cho các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở hoạt động an toàn và phát triển bền vững lại chưa được tạo dựng vững chắc, còn có sự chia cắt, lỏng lẻo. Vì vậy, năm 2000, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 57-CT/TW ngày 10/10/2000 về củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, đã đưa quỹ tín dụng trung ương bước sang một thời kỳ phát triển mới.

Dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, quỹ tín dụng trung ương đã nhanh chóng triển khai thực hiện các nội dung nêu trong đề án củng cố, hoàn thiện và phát triển quỹ tín dụng nhân dân và tập trung xây dựng kế hoạch triển khai Chỉ thị số 57-CT/TW, Quyết định số 135/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 207/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phê duyệt Đề án tổng thể mở rộng mạng lưới hoạt động của quỹ tín dụng trung ương với nội dung chính là chuyển đổi mô hình 3 cấp sang 2 cấp, sáp nhập 21 quỹ tín dụng nhân dân khu vực thành chi nhánh quỹ tín dụng trung ương và thành lập các chi nhánh mới ở các tỉnh, thành phố chưa có quỹ tín dụng nhân dân khu vực; đồng thời tiếp nhận bàn giao công tác điều hòa vốn cho tất cả các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, nơi chưa có quỹ tín dụng nhân dân khu vực từ chi nhánh Ngân hàng Nhà nước về quỹ tín dụng trung ương.

Sự đổi mới mô hình từ 3 cấp sang 2 cấp là phù hợp với yêu cầu phát triển: phạm vi, quy mô, mạng lưới quỹ tín dụng trung ương nhanh chóng được mở rộng, đáp ứng yêu cầu hỗ trợ việc củng cố, chấn chỉnh hoạt động và phát triển của các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Tính đến ngày 31/12/2012, quỹ tín dụng trung ương, gồm: trụ sở chính tại Hà Nội, 26 chi nhánh, gần 70 phòng giao dịch, trong đó có nhiều chi nhánh hoạt động mở rộng ra đến 3 – 4 tỉnh, thành phố để phục vụ các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở ở địa bàn các địa phương trước đây chưa có quỹ tín dụng nhân dân khu vực. Từ mức vốn điều lệ chỉ có 110 tỷ đồng năm 2001, đến cuối tháng 6/2013, quỹ tín dụng trung ương đã có vốn hoạt động 17.055 tỷ đồng. Tổng dư nợ cho vay của quỹ tín dụng trung ương đến ngày 30/6/2013 là 11.761 tỷ đồng.

Điều đáng nói, với mô hình tổ chức này, vai trò đầu mối của quỹ tín dụng trung ương trong công tác hỗ trợ, tăng cường tính liên kết trong hệ thống được cải thiện rõ rệt, nguồn vốn điều hòa nội bộ trong hệ thống từ quỹ tín dụng nhân dân cơ sở lên quỹ tín dụng trung ương đã có bước tăng trưởng quan trọng về quy mô. Tính đến năm 2013, số vốn điều hòa trong hệ thống quỹ tín dụng nhân dân tăng trưởng 29 lần; dư nợ cho vay trong hệ thống quỹ tín dụng nhân dân tăng 27 lần; cơ chế điều hoà vốn đã có chuyển biến tích cực, linh hoạt; giúp hệ thống đứng vững, không để một quỹ tín dụng nhân dân nào đổ vỡ vì khó khăn thanh khoản; khả năng ứng cứu, nhanh nhạy, kịp thời hơn…

Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu rộng, thu nhập người dân ngày càng cao, sản suất nông nghiệp theo hướng hiện đại, nhu cầu của các thành viên quỹ tín dụng nhân dân không chỉ đơn thuần là vốn mà còn là nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ tín dụng, thanh toán hiện đại. Điều đó đặt ra yêu cầu tiếp tục có bước hoàn thiện, củng cố hệ thống các tổ chức tín dụng nói chung và mô hình hoạt động quỹ tín dụng nhân dân nói riêng. Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 và Luật Hợp tác xã năm 2012 là cơ sở pháp lý quan trọng để tạo một bước ngoặt trong hoạt động của hệ thống tổ chức tín dụng hợp tác.

Phát triển hệ thống tổ chức tín dụng là hợp tác xã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống các tổ chức tín dụng nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu vốn trong khu vực nông nghiệp nông thôn và từng bước tại khu vực đô thị; góp phần thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển nông nghiệp – nông thôn, hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi, bảo đảm an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững. Mô hình hoạt động này đến nay đã khẳng định được tính phù hợp; có thể được minh chứng bằng sự phát triển cả về số lượng, quy mô và chất lượng hoạt động của Ngân hàng hợp tác xã và hệ thống quỹ tín dụng nhân dân sau hơn 30 năm hình thành và phát triển.

Về số lượng các quỹ tín dụng nhân dân (tên sơ khai là quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, nay gọi chung là quỹ tín dụng nhân dân), năm đầu thí điểm là 153 quỹ, đến năm 1995 là 412 quỹ chỉ có ở một số tỉnh, thành phố, năm 2001 là 906, đến nay số lượng quỹ tín dụng lên tới 1.176 quỹ có mặt ở hầu hết các tỉnh, thành phố (31/34 địa phương). Quy mô hoạt động tăng trưởng tốt, đi đôi với sự phát triển về số lượng, quy mô hoạt động của các quỹ tín dụng nhân dân ngày càng tăng.

Sau 7 năm thí điểm đến năm 2001 tổng tài sản toàn hệ thống là 2.959 tỷ đồng, đến cuối năm 2011 là 33.973 tỷ và đến năm 2019 lên đến 126.498 tỷ đồng (tăng 3,7 lần so với năm 2011), vốn điều lệ tăng 3 lần so với năm 2011. Tính đến ngày 30/10/2025, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân đạt tổng tài sản 204.407 tỷ đồng, huy động vốn 182.579 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu 15.191 tỷ đồng; tăng trưởng lần lượt 6,54%; 7,28%; 7,65% so với năm 2024; các chỉ tiêu về an toàn và chất lượng hoạt động bảo đảm theo quy định và có chiều hướng tích cực: tính đến ngày 30/9/2025, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân hầu hết các năm dưới và xấp xỉ 1% ở mức thấp nhất trong hệ thống tổ chức tín dụng.

Bên cạnh đó, số thành viên tăng lên hàng năm, từ mức khoảng 800.000 thành viên giai đoạn thí điểm lên đến hơn 2 triệu thành viên năm 2015. Tuy nhiên, giai đoạn 2016 – 2018, số thành viên có xu hướng giảm chỉ còn khoảng trên 1,5 triệu thành viên. Nguyên nhân là do thực hiện chính sách chính sách chấn chỉnh và thắt chặt hoạt động của các quỹ tín dụng nhân dân đi đúng định hướng, tôn chỉ mục đích theo tinh thần của Chỉ thị số 57-CT/TW về địa bàn hoạt động, một số quỹ có địa bàn hoạt động không liền kê phải có kế hoạch thu hẹp địa bàn, hoặc liền kề mà không đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định cũng phải giảm địa bàn hoạt động.

Từ năm 2019, các quỹ tín dụng đã bắt đầu xây dựng chính sách thu hút thành viên, các chính sách thu hút thể hiện sự quan tâm của quỹ tới các người dân trên địa bàn hoạt động, như các hoạt động từ thiện, hỗ trợ kinh phí xây dựng trường lớp, thành lập quỹ học bổng, thăm hỏi bà con có hoàn cảnh khó khăn, một số quỹ phát triển các hoạt động hỗ trợ tư vấn khách hàng của mình, thực hiện tuyên truyền về các hoạt động của quỹ…. Đi đôi với các hoạt động đó là việc các quỹ tín dụng nhân dân tập trung nâng cao chất lượng phục vụ thành viên, giảm thủ tục vay vốn, đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn của thành viên, sẵn sàng nhận tiền gửi ngoài giờ khi bà con có nhu cầu gửi tiền nên số lượng thành viên đến nay trên 1,8 triệu thành viên, tăng đáng kể so với năm 2018.

2. Sự phát triển của quỹ tín dụng nhân dân trong bối cảnh mới

Hành trình phát triển của các quỹ tín dụng nhân dân trong những năm tiếp theo trong bối cảnh kinh tế, chính trị quốc tế xuất hiện nhiều nhân tố mới, xu hướng mới với cả cơ hội phát triển và thách thức đan xen. Chuyển đổi số đang trở thành xu hướng tất yếu, không thể đảo ngược trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn biến rất nhanh, đột phá, tác động sâu rộng và đa chiều trên phạm vi toàn cầu. Khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo trở thành nhân tố quyết định đối với năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia. Kinh tế số đang trở thành động lực tăng trưởng ngày càng quan trọng. Phong trào hợp tác xã tín dụng quốc tế với nhiều kinh nghiệm phong phú, cần nghiên cứu thấu đáo, tham khảo có chọn lọc phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta.

Thành tựu phát triển đất nước qua 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đưa đất nước ta vững bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Từ bộ máy hành chính Nhà nước đến sự vận hành của nền kinh tế đã có sự cải cách mạnh mẽ, nhanh chóng. Cơ cấu tổ chức, nhân sự của Đảng, của Chính phủ, Quốc hội và các cơ quan quản lý nhà nước đã thay đổi theo hướng tinh, gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; lựa chọn những người tài, người tâm huyết cho bộ máy công quyền…

Công nghệ 4.0 đã có tác động mạnh mẽ đến mọi mặt đới sồng, kinh tế xã hội. Các ngân hàng thương mại đã ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số vào đổi mới quản trị điều hành và sản phẩm dịch vụ. Trên thực tế, các ngân hàng thương mại đang dần làm thay đổi cơ bản các hình thức cung ứng dịch vụ ngân hàng truyền thống. Công nghệ số đã hỗ trợ ngân hàng có độ bao phủ rộng hơn, tiết giảm chi phí hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh, giúp khách hàng tiếp cận dịch vụ dễ dàng hơn, không cần phải đến điểm giao dịch ngân hàng mà có thể truy cập dữ liệu, chuyển tiền thông qua các thiết bị di động.

Ứng dụng công nghệ số đòi hỏi đầu tư lớn nguồn lực, thay đổi môi trường pháp lý để hỗ trợ cho việc ứng dụng công nghệ số trong lĩnh vực ngân hàng ngay cả đối với ngân hàng thương mại và các Fintech. Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 đã tạo ra khung pháp lý cho các tổ chức tín dụng ứng dụng công nghệ số trong hoạt động ngân hàng. Đây là điều kiện rất quan trọng để các tổ chức tín dụng đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ số trong lĩnh vực ngân hàng trong những năm tiếp theo.

Những sự thay đổi trên tác động không nhỏ đến hoạt động của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, đòi hỏi các quỹ tín dụng nhân dân phải có bước chuyển mình mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực. Từ đòi hỏi thực tế khách quan đó, việc tái cơ cấu hệ thống quỹ tín dụng nhân dân cần tạo ra sức mạnh về quy mô và năng lực nội tại để thích ứng và phát triển trong môi trường mới. Giải pháp mang tính cốt lõi để tạo ra sức mạnh này là cần phải sáp nhập, hợp nhất các quỹ tín dụng nhân dân và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Việc sáp nhập/ hợp nhất các quỹ tín dụng nhân dân với nhau là điều kiện tốt để quỹ tín dụng nhân dân mở rộng quy mô hoạt động, là cơ sở quan trọng để tăng năng lực tài chính, tăng khả năng chuyển đổi số, đổi mới quy trình hoạt động, tạo ra nhiều sản phẩm dịch vụ tốt đáp ứng nhu cầu đa dạng của thành viên, qua đó tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường tiền tệ ngân hàng.

 Thực tế hiện nay, số lượng các quỹ tín dụng nhân dân là rất lớn (1.176 quỹ đang hoạt động) nhưng quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh yếu. Để nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân, việc giảm số lượng, tăng quy mô là một giải pháp quan trọng. Hơn nữa, tái cấu trúc bộ máy công quyền, bỏ chính quyền cấp huyện, nhập xã là yếu tố khách quan thúc đẩy việc giảm số lượng quỹ tín dụng nhân dân, tăng quy mô. Bởi, theo quy định của pháp luật hiện hành, mỗi một xã chỉ có 1 quỹ tín dụng hoạt động, những quỹ có đủ điều kiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có thể hoạt động liên xã.

Việc sắp xếp bộ máy hành chính dẫn đến một số trường hợp, sau: (1) Một xã mới được thành lập trên cơ sở sáp nhập, trong đó mỗi xã có từ 2 – 6 quỹ tín dụng nhân dân đặt trụ sở hoạt động trên cùng địa bàn xã đó. (2) Một xã mới có một quỹ tín dụng nhân dân với trụ sở chính và các phòng giao dịch hoạt động cùng trên địa bàn. (3) Một xã mới có một quỹ tín dụng nhân dân duy nhất nhưng địa bàn hoạt động rộng, dẫn đến vượt quá giới hạn địa bàn hoạt động theo giấy phép hiện hành, ảnh hưởng nhất định đến hoạt động của quỹ. (4) Phát sinh chồng chéo địa bàn hoạt động giữa các quỹ tín dụng nhân dân. Ví dụ: phòng giao dịch thuộc địa bàn xã mới nhưng lại nằm ngoài địa bàn hoạt động của trụ sở chính; hoặc xã liền kề trước đây thuộc địa bàn hoạt động của một quỹ tín dụng nhân dân, sau sáp nhập lại thuộc xã mới khác không nằm trong phạm vi giấy phép…

Đợt tái cơ cấu lần này là rất cần thiết nhưng cũng đặt ra những vấn đề cấp thiết cần giải quyết vì để bảo đảm ổn định, tránh rút tiền ồ ạt của thành viên, việc hợp nhất sát nhập phải bảo đảm sự đồng thuận cao của các thành viên của quỹ tín dụng nhân dân, bảo đảm lợi ích hài hòa giữa các bên (quỹ sáp nhập và quỹ bị sáp nhập), giải quyết vấn đề nhân sự, định giá tài sản… Để quá trình chuyển đổi diễn ra hiệu quả, nếu không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng thì nguy cơ rủi ro là lớn, mục tiêu tái cơ cấu khó đạt được. Vì vậy, rất cần sự chỉ đạo sát sao của Đảng, Chính phủ, sự vào cuộc quyết liệt của cơ quan quản lý các cấp.

3. Một số giải pháp

Một là, sự vào cuộc kịp thời của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương trong việc ban hành hướng dẫn, hỗ trợ điều chỉnh mô hình tổ chức, giấy phép hoạt động và cơ chế quản lý phù hợp với bối cảnh địa giới hành chính mới.

Hai là, Chính phủ khẩn trương phê duyệt Đề án tái cơ cấu hệ thống quỹ tín dụng nhân dân làm cơ sở để các cấp, các ngành tiền hành hợp nhất/sáp nhập các quỹ bảo đảm nguyên tắc tự nguyện và lợi ích các bên.

Trong khi chờ đợi đề án tái cơ cấu hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được phê duyệt, các Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực, kết hợp với chính quyền địa phương cần chủ động tuyên truyền, chỉ đạo Chủ tịch Hội đồng quản trị, các thành viên hội đồng quản trị, giám đốc, ban điều hành xác định rõ chủ trương của Đảng, Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về tái cơ cấu hệ thống quỹ tín dụng nhân dân với nguyên tắc một xã có một quỹ tín dụng nhân dân hoạt động, qua đó ổn định tư tưởng cán bộ, yên tâm cùng đồng lòng tổ chức triển khai chủ trương trên.

Chủ động xây dựng phương án, kế hoạch hoạt động phù hợp, đồng thuận với các quỹ tín dụng nhân dân trên cùng địa bàn trong thời gian chờ giải pháp cụ thể của Ngân hàng Nhà nước; tuyên truyền, vận động thành viên để các thành viên hiểu việc hợp nhất/sáp nhập sẽ không ảnh hưởng lợi ích và quyền lợi của thành viên. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực cần chủ động phân tích đánh giá những khó khăn thách thức khi sát nhập/hợp nhất trên từng địa bàn hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân để có giải pháp phù hợp, bảo đảm sự ổn định, tâm lý thoải mái của các quỹ tín dụng nhân dân và các thành viên của quỹ, bảo đảm ổn định chính trị xã hội trên địa bàn khi tiến hành sát nhập/hợp nhất.

Ba là, đối với các quỹ tín dụng nhân dân, cần tăng cường công tác truyền thông, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ phù hợp với địa bàn hoạt động và tôn chỉ mục đích của quỹ tín dụng nhân dân để tăng cường tăng dư nợ tín dụng, mở rộng quy mô thành viên. Song các quỹ tín dụng nhân dân tuyệt đối không hạ chuẩn cho vay để chạy theo tăng trưởng dư nợ; các quỹ tín dụng nhân dân cần tập trung vào lợi thế cạnh tranh cốt lõi là: “thủ tục đơn giản, phục vụ tận nơi, thấu hiểu địa bàn”.

Đẩy mạnh các khoản vay nhỏ lẻ, phục vụ đời sống, kinh doanh chợ, nông nghiệp ngắn ngày… nơi mà sự linh hoạt của quỹ tín dụng nhân dân vượt trội hơn quy trình của ngân hàng thương mại. Tăng cường đội ngũ cán bộ quản lý quỹ tín dụng nhân dân có trình độ và kinh nghiệm thực tiễn, tâm huyết, nhiệt tình; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý quỹ tín dụng nhân dân; thiết lập hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về thành phần kinh tế tập thể và các hình thức kinh tế hợp tác, hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân tập trung, thống nhất, chính xác, kịp thời, minh bạch và thông suốt.

Bốn là, nhân rộng các mô hình hay, cách làm hiệu quả trong đổi mới phương thức sản xuất, kinh doanh, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh, hiệu quả hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân.

Trong giai đoạn này và thời gian tới, các quỹ tín dụng nhân dân cần đặt trọng tâm chuyển đổi số, đổi mới công nghệ, sử dụng tối đa các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng hợp tác xã; các quỹ tín dụng nhân dân cần tiếp tục đẩy mạnh nâng cấp hệ thống phần mềm quản trị lõi theo chuẩn Thông tư số 09/2020/TT-NHNN ngày 21/10/2020 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tăng cường kết nối với hệ thống thanh toán của ngân hàng hợp tác xã để cung cấp dịch vụ chuyển tiền nhanh 24/7 cho thành viên, giảm bớt bất lợi về tiện ích thanh toán so với ngân hàng thương mại; kết nối, tăng cường cho vay đồng tài trợ với ngân hàng hợp tác xã nhằm khắc phục hạn chế của pháp luật liên quan đến quy mô vốn, qua đó phục vụ tốt được thành viên và tăng dư nợ tín dụng.

4. Kết luận

Tái cơ cấu (restructuring) và có những điều chỉnh hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân theo hướng hiện đại, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả là cần thiết để bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững. Sự phát triển của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân từ mô hình cũ là các hợp tác xã tín dụng đến nay thực sự là quá trình tái cơ cấu liên tục, gắn chặt với quá trình phát triển của nền kinh tế và sự phát triển của thị trường tiền tệ, giảm thiểu rủi ro hệ thống, tối ưu hóa bộ máy, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển nguồn nhân lực. Kế hoạch tái cơ cấu hệ thống quỹ tín dụng nhân dân những năm tiếp theo, với sự quyết tâm chính trị cao của các cấp, các ngành, sự chỉ đạo sát sao của Đảng, Chính phủ và sự khát khao vươn lên của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân là tiền đề quan trọng để nâng cao hiệu quả của mô hình quỹ tín dụng nhân dân, góp phần khẳng định tính ưu việt của Nhà nước chủ nghĩa xã hội Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:
1. Hiệp hội quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam (2025). Công văn số 86/CV-HHQTD ngày 20/6/2025 về việc “Khuyến nghị một số nội dung cần quan tâm trong quá trình triển khai sắp xếp đơn vị hành chính kể từ 01/7/2025”; Công văn số 205/CV-HHQTD của Hiệp hội quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam ngày 28/11/2025 về việc “Diễn biến về tiền tệ, hoạt động ngân hàng 10 tháng, dự báo những tháng cuối năm 2025 và một số khuyến nghị đối với quỹ tín dụng nhân dân”.
2. Hiệp hội Quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam (2019). Đề tài cấp cơ sở: Giải pháp cải thiện vai trò của hiệp hội Quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam. Mã số: ĐTNH-CS.006/19.
3. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2025). Dự thảo Đề án “Cơ cấu lại tổng thể quỹ tín dụng nhân dân và ngân hàng hợp tác xã giai đoạn 2025-2030, định hướng đến 2045”.
4. Quốc hội (2025). Luật Các tổ chức tín dụng năm 2025.
5. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2019). Quyết định số 209/QĐ-NHNN ngày 31/01/2019 về việc phê duyệt Đề án “củng cố và phát triển hệ thống quỹ tín dụng nhân dân đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”.
6. Nguyễn Mạnh Hùng và Lục Anh Tuấn (2025). Phát triển Quỹ tín dụng nhân dân trong kỷ nguyên mới của đất nước. https://hdll.vn/vi/nghien-cuu—trao-doi/phat-trien-quy-tin-dung-nhan-dan-trong-ky-nguyen-moi-cua-dat-nuoc.html.