ThS. Nguyễn Bá Công
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn đã đạt được nhiều kết quả to lớn, góp phần trực tiếp phát triển nguồn nhân lực nông thôn. Bài viết hệ thống hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn, những kết quả đạt được và rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo của Đảng.
Từ khóa: Đào tạo nghề; lao động nông thôn; nông thôn mới; nhân lực nông thôn; tạo việc làm.
1. Đặt vấn đề
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, trực tiếp góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, rút ngắn tỷ lệ lao động qua đào tạo giữa khu vực nông thôn và thành thị. Đặc biệt, trước bối cảnh tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Đảng đã ban hành nhiều chủ trương nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu tình hình mới. Trên cơ sở cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Chính phủ và các bộ, ngành trung ương đã tích cực chỉ đạo nhằm thực hiện mục tiêu phát triển nguồn nhân lực nông thôn gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nông thôn mới.
2. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn
2.1. Chủ trương của Đảng về đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, vấn đề đào tạo nghề, tạo việc làm cho người lao động đã được Đảng quan tâm lồng ghép trong các chủ trương về phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói, giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu lao động. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (4/2006), trên cơ sở tổng kết thực tiễn 20 năm đổi mới và trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Đảng đã chính thức khẳng định: “Chú trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân và cho lao động nông thôn”1, qua đó, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong nhận thức của Đảng đối với công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Chủ trương đào tạo nghề cho lao động nông thôn được xác lập không chỉ mang tính định hướng chiến lược mà còn là cơ sở chính trị quan trọng để Nhà nước ban hành nhiều chính sách cụ thể về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong giai đoạn tiếp theo. Cùng với đó, Đại hội X của Đảng xác định các nhiệm vụ, giải pháp đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Một là, phát triển mạnh hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho các khu công nghiệp, các vùng kinh tế động lực và cho việc xuất khẩu lao động. Mở rộng mạng lưới cơ sở dạy nghề, phát triển trung tâm dạy nghề quận, huyện. Tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề, tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới”2; hai là, đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích phát triển các hình thức dạy nghề đa dạng, linh hoạt: dạy nghề ngoài công lập, tại doanh nghiệp, tại làng nghề…; tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động học nghề, lập nghiệp. Tổ chức dạy nghề, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ sản xuất phù hợp cho nông dân, đồng bào dân tộc thiểu số”3; ba là, “mở rộng quy mô dạy nghề và trung học chuyên nghiệp, bảo đảm tốc độ tăng nhanh hơn đào tạo đại học, cao đẳng. Quy mô tuyển sinh dạy nghề dài hạn tăng 17%/năm và trung học chuyên nghiệp tăng 15%/năm. Tăng nhanh tỷ lệ học sinh tốt nghiệp phổ thông được học tiếp lên đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề”4.
Ngày 05/8/2008, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, xác định mục tiêu: hình thành chương trình mục tiêu quốc gia về đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm hằng năm đào tạo khoảng 1 triệu lao động nông thôn5. Đến năm 2020, lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội, tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt trên 50%6.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn, phát triển nông nghiệp nông thôn toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông thôn. Đồng thời, xác định phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, cần: “Đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhu cầu phát triển của xã hội; có cơ chế và chính sách liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với cơ sở đào tạo. Xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực cho các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, đồng thời chú trọng đào tạo nghề cho nông dân, đặc biệt đối với người bị thu hồi đất; nâng cao tỷ lệ qua đào tạo”7. Cùng với đó, Đại hội tiếp tục khẳng định mục tiêu: “Triển khai có hiệu quả chương trình đào tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm”8.
Nhằm tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dạy nghề cho lao động nông thôn, ngày 05/11/2012, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 19-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dạy nghề cho lao động nông thôn. Trong đó, khẳng định quan điểm “Đào tạo nghề, dạy nghề cho lao động nói chung và lao động nông thôn nói riêng có vai trò quan trọng việc phát huy nguồn lực phục vụ sự nghiệp dạy nghề cho lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững và xây dựng nông thôn mới”9. Đồng thời xác định mục tiêu: “Phấn đấu lao động sau học nghề có việc làm mới hoặc tiếp tục làm nghề cũ có hiệu quả cao hơn đạt ít nhất 70% trong giai đoạn 2011 – 2015, 80% trong giai đoạn 2016 – 2020”10. Trong đó cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến nhằm nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên và người dân về vị trí chiến lược của phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn và vai trò của công tác dạy nghề trong việc nâng cao chất lượng lao động nông thôn, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập và tạo thêm việc làm. Chiến lược, kế hoạch, quy hoạch dạy nghề lao động nông thôn phải xuất phát từ nhu cầu của người học, nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp và của xã hội; phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch sản xuất và quy hoạch xây dựng nông thôn mới của địa phương. Tiếp tục đổi mới hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn. Xây dựng hệ thống trường dạy nghề theo hướng hiện đại, chuẩn hóa11.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp 4.0, để đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII xác định: “Đẩy mạnh đào tạo nghề với các hình thức đa dạng, phù hợp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn”12. Đặc biệt, “chú trọng giải quyết việc làm cho lao động dôi dư từ khu vực nông nghiệp do việc tích tụ, tập trung ruộng đất hoặc thu hồi đất phát triển công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng. Khuyến khích đầu tư xã hội tạo ra nhiều việc làm, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp”13. Cùng với đó, Đại hội xác định “thí điểm chuyển đổi mô hình trường công lập sang cơ sở giáo dục do cộng đồng, doanh nghiệp quản lý và đầu tư phát triển. Đẩy mạnh dạy nghề và gắn kết đào tạo với doanh nghiệp. Phân cấp quản lý hợp lý trong đào tạo nghề. Quan tâm phát triển giáo dục, dạy nghề trong đồng bào dân tộc thiểu số và các vùng khó khăn”14.
Những thách thức an ninh phi truyền thống, đặc biệt dịch bệnh Covid-19 bùng phát ảnh hưởng không nhỏ đến công tác tuyển sinh, đào tạo nghề cho lao động nông thôn, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII xác định: “Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt; bảo đảm thống nhất với chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo. Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động, nhất là ở nông thôn; giảm tỷ lệ lao động khu vực phi chính thức. Chú trọng đào tạo lại, đào tạo thường xuyên lực lượng lao động. Hình thành đội ngũ lao động lành nghề, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và sử dụng lao động”15. Để đáp ứng yêu cầu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cách mạng công nghiệp 4.0, Đại hội xác định: “Thúc đẩy phát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao. Xây dựng các cơ chế, chính sách và giải pháp để đào tạo lại lực lượng lao động phải chuyển đổi ngành nghề do quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới công nghệ và tác động của cách mạng công nghiệp 4.0”16.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết xác định cần phải tạo đột phá trong phát triển nhân lực, đào tạo, nâng cao kỹ năng nghề đáp ứng yêu cầu cơ cấu lại nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn, tận dụng hiệu quả cơ hội cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Đổi mới toàn diện hình thức tổ chức và nội dung đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, nhất là lao động trẻ, đáp ứng nhu cầu thị trường17.
Ngày 10/7/2024, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 37-CT/TW về đổi mới công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Chỉ thị nhấn mạnh: Đổi mới toàn diện, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn; cập nhật nghề, chuẩn hóa nội dung đào tạo, kiểm định chất lượng chương trình đào tạo; tăng cường giáo dục đạo đức nghề nghiệp, kiến thức về an toàn vệ sinh lao động, pháp luật, kinh doanh, khởi nghiệp, các kỹ năng mềm và đổi mới sáng tạo cho lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Coi trọng thực hành, nhất là từ thực tiễn sản xuất – kinh doanh; tăng cường ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số trong tất cả các khâu của quá trình đào tạo18.
2.2. Chính sách của Nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó xác định xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia về đào tạo nguồn nhân lực nông thôn. Tập trung xây dựng kế hoạch và giải pháp đào tạo cho con em nông dân đủ trình độ, năng lực vào làm việc ở các cơ sở công nghiệp, thủ công nghiệp và dịch vụ.
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 971/QĐ-TTg ngày 01/7/2015 về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020. Với mục tiêu đào tạo nghề cho 6.000.000 lao động nông thôn, trong đó: khoảng 5.500.000 lao động nông thôn được đào tạo nghề (1.400.000 người học nghề nông nghiệp; 4.100.000 người học nghề phi nông nghiệp). Sau đào tạo, ít nhất 80% số người học có việc làm mới hoặc tiếp tục làm nghề cũ nhưng có năng suất, thu nhập cao hơn.
Ngoài ra, một số chính sách hỗ trợ đào tạo cho lao động nông thôn được ban hành và triển khai thực hiện, như: Luật Việc làm năm 2013 quy định chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động ở khu vực nông thôn, hỗ trợ học nghề dưới 3 tháng và học nghề sơ cấp ở cơ sở đào tạo nghề được hỗ trợ chi phí học nghề, hỗ trợ tư vấn về chính sách việc làm, học nghề, giới thiệu việc làm miễn phí và được vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm; Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 quy định: ưu tiên đầu tư đồng bộ cho đào tạo nhân lực thuộc các ngành, nghề trọng điểm quốc gia, các ngành, nghề tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực, quốc tế; chú trọng phát triển giáo dục nghề nghiệp ở các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng ven biển; đầu tư đào tạo các nghề thị trường lao động có nhu cầu nhưng khó thực hiện xã hội hóa.
Tại khoản 3 Điều 62 quy định người học là phụ nữ, lao động nông thôn khi tham gia các chương trình đào tạo trình độ sơ cấp và các chương trình đào tạo dưới 3 tháng được hỗ trợ chi phí đào tạo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 630/QĐ-TTg ngày 29/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011 – 2020 với mục tiêu: đến năm 2020, dạy nghề đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu nghề và trình độ đào tạo… phổ cập nghề cho người lao động, góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập, giảm nghèo vững chắc, bảo đảm an sinh xã hội; Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng, trong đó ưu tiên hỗ trợ đào tạo cho lao động nông thôn và các đối tượng chính sách khác và đến ngày 30/12/2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2239/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định mục tiêu: đến năm 2025, bảo đảm quy mô, cơ cấu ngành, nghề đào tạo cho phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội đất nước; chất lượng đào tạo của một số trường tiếp cận trình độ các nước ASEAN, trong đó một số nghề tiếp cận trình độ các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới; góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 30%.
3. Một số kết quả và kinh nghiệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong những năm qua đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và người dân về công tác đào tạo nghề nói chung, đào tạo nghề cho lao động nông thôn nói riêng đã được nâng lên rõ rệt, hạn chế dần tư tưởng coi trọng bằng cấp, học theo phong trào, học để được hỗ trợ tiền ăn, tiền đi lại, học cho biết… Đến nay, phần lớn người lao động nông thôn đã quan tâm, chú trọng đến kỹ năng nghề nghiệp, xác định được tính thiết thực của việc học nghề là con đường cơ bản để lập nghiệp, ổn định cuộc sống, học nghề để mưu sinh, phát triển sản xuất và tìm kiếm việc làm. Các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương đã chủ động trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo nghề hằng năm, rà soát danh mục nghề đào tạo, chỉ đạo thực hiện phương châm “chỉ đào tạo nghề khi xác định được việc làm và thu nhập sau học nghề”, đào tạo nghề gắn với thế mạnh địa phương, với quy hoạch phát triển sản xuất, quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội và quy hoạch xây dựng nông thôn mới; tình trạng đào tạo nghề chạy theo số lượng, theo chỉ tiêu đã được khắc phục, các cơ sở đào tạo nghề chuyển sang đào tạo theo yêu cầu, nhu cầu của doanh nghiệp, theo nhu cầu của người lao động, gắn đào tạo với thực hiện tuyên truyền, tư vấn, định hướng nghề nghiệp cho lao động nông thôn.
Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn đã được tổ chức linh hoạt, gắn với nhu cầu thực tiễn. Nhiều lớp nghề được mở tại doanh nghiệp, hợp tác xã, giúp nâng cao kỹ năng và mở rộng sinh kế, trong đó có cả nhóm lao động trung niên. Thu nhập bình quân khu vực nông thôn năm 2024 đạt 54 triệu đồng/người/năm (tăng 1,3 lần so với năm 2020). Đến tháng 6/2025, có 81% số xã đạt tiêu chí thu nhập; 93,2% đạt tiêu chí lao động; 88,3% đạt tiêu chí tổ chức sản xuất và phát triển kinh tế nông thôn19.
Chính sách của Nhà nước về hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn đã góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và mở rộng cơ hội việc làm cho người nghèo, cận nghèo, người dân vùng khó khăn. Trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, đã có 177.767 lao động thuộc hộ nghèo, cận nghèo và hộ mới thoát nghèo được hỗ trợ đào tạo kỹ năng nghề; 146 cơ sở được đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất đào tạo; xây dựng 131 bộ chuẩn, 1.981 chương trình, giáo trình, học liệu và đào tạo, bồi dưỡng 9.461 lượt nhà giáo, cán bộ quản lý. Các hoạt động này đã góp phần cải thiện chất lượng đào tạo, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo nghề với tạo việc làm, sinh kế bền vững cho người dân20.
Tuy nhiên, qua thời gian triển khai thực hiện, bên cạnh những kết quả, thành công đạt được thì cũng còn bộc lộ nhiều bất cập, chưa phù hợp với điều kiện thực tiễn, còn tồn tại những hạn chế, yếu kém. Một số chỉ tiêu đề ra chưa đạt; lao động nông thôn chủ yếu được học nghề ở trình độ sơ cấp và dưới 3 tháng, chất lượng đào tạo còn thấp, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo nghề còn nhiều bất cập. Hoạt động hỗ trợ người dân sau khi học nghề chưa được triển khai hiệu quả. Nguyên nhân chính của những hạn chế, bất cập nêu trên là do nhận thức của một số cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền về công tác dạy nghề cho lao động nông thôn chưa đầy đủ; việc triển khai, cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng còn chậm; một số địa phương còn lúng túng trong công tác quy hoạch sản xuất; bên cạnh đó, các ngành, địa phương còn chưa có sự đồng bộ và hiệu quả trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp.
Từ thực tiễn quá trình lãnh đạo của Đảng về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu sau:
Một là, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền các cấp đối với công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Thực tiễn cho thấy, ở đâu, nơi nào công tác đào tạo nghề được quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên và tổ chức thực hiện nghiêm túc thì đạt hiệu quả cao; ngược lại, ở những nơi nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn chưa đầy đủ, hiệu quả đào tạo nghề còn hạn chế.
Hai là, chủ trương đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải xuất phát từ thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội, thế mạnh của từng vùng, từng địa phương và nhu cầu của lao động nông thôn, được đặt trong tổng thể các chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững.
Ba là, chính sách đào tạo nghề phải gắn chặt với giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động và nâng cao thu nhập cho người lao động. Thực tiễn cho thấy, các chính sách hỗ trợ học nghề, tín dụng ưu đãi, tư vấn việc làm, ưu tiên cho lao động nghèo, lao động dân tộc thiểu số và vùng khó khăn đã góp phần nâng cao tính bao trùm và hiệu quả xã hội của đào tạo nghề. Đồng thời, việc lồng ghép đào tạo nghề cho lao động nông thôn vào các chương trình mục tiêu quốc gia và chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp cho thấy, yêu cầu phải thường xuyên tổng kết, điều chỉnh chính sách phù hợp với yêu cầu thực tiễn, tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bối cảnh chuyển đổi số nhằm bảo đảm tính bền vững lâu dài của công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Bốn là, huy động sự tham gia đồng bộ của các chủ thể và tăng cường liên kết giữa các “nhà” trong công tác đào tạo nghề, trong đó Nhà nước giữ vai trò định hướng, ban hành cơ chế, chính sách; các cơ sở đào tạo nghề là lực lượng trực tiếp tổ chức đào tạo; doanh nghiệp tham gia vào quá trình xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo và tiếp nhận lao động sau đào tạo. Đặc biệt, việc đẩy mạnh hợp tác giữa cơ sở đào tạo nghề và đơn vị sử dụng lao động giúp gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn của thị trường, nâng cao chất lượng đào tạo, tăng khả năng có việc làm cho người học, qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả và tính bền vững của công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
4. Kết luận
Nghiên cứu chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn cho thấy, việc ban hành và tổ chức thực hiện các nghị quyết, chương trình, đề án và chính sách trong thời gian qua là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các chủ trương, chính sách này đã từng bước tạo chuyển biến quan trọng trong nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng thu nhập, giảm nghèo bền vững và thúc đẩy xây dựng nông thôn mới, qua đó, khẳng định vai trò lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự quản lý, điều hành hiệu quả của Nhà nước trong lĩnh vực đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Chú thích:
1, 2, 3, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. H. NXB. Chính trị quốc gia, tr. 195, 96, 96, 207 – 208.
5, 6. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2008). Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
7, 8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. H. NXB. Chính trị quốc gia, tr. 217, 198, 198.
9, 10, 11. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2012). Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 05/11/2012 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dạy nghề cho lao động nông thôn.
12, 13, 14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. H. Văn phòng Trung ương Đảng, tr. 284, 136, 297.
15, 16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 232, 137.
17. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16/6/2022. Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
18. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2024). Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 10/7/2024 về đổi mới công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
19, 20. Ban Chỉ đạo Trung ương các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 – 2025. Báo cáo tóm tắt Tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 – 2025; định hướng giai đoạn 2026 – 2035.



