Ý nghĩa của tác phẩm “Bàn về Khế ước xã hội” trong xây dựng đội ngũ công chức chính quyền địa phương hai cấp hiện nay

ThS. Lưu Thị Thu Hiền
Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Vinh

(Quanlynhanuoc.vn) – Jean Jacques Rousseau (1712 – 1778), nhà tư tưởng Khai sáng của nước Pháp thế kỷ XVIII, người luôn hướng tới mô hình Nhà nước hợp pháp được hình thành trên cơ sở “ý chí chung” của cộng đồng. Quan niệm của Rousseau về công chức trong mối quan hệ với Nhà nước đặt ra những vấn đề mang tính nguyên tắc và nền tảng cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền. Những tư tưởng này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đồng thời, góp phần định hướng việc phân cấp, phân quyền theo hướng hình thành chính quyền phục vụ Nhân dân, bắt đầu từ cấp cơ sở. Bài viết phân tích quan điểm của J.J. Rousseau về đội ngũ công chức trong tác phẩm “Bàn về Khế ước xã hội”, qua đó, gợi mở một số vấn đề liên quan đến xây dựng đội ngũ công chức chính quyền địa phương chuyên nghiệp, trách nhiệm đáp ứng yêu cầu thực tiễn ở Việt Nam hiện nay.

Từ khóa: J.J. Rousseau, cán bộ, công chức, phân cấp phân quyền, chính quyền địa phương hai cấp, xây dựng đội ngũ công chức.

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, việc xây dựng đội ngũ công chức có phẩm chất, năng lực và tinh thần phục vụ Nhân dân giữ vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là trong bối cảnh đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu, phải tiếp tục nghiên cứu, kế thừa và vận dụng có chọn lọc các giá trị tư tưởng tiến bộ của Nhân loại về tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước.

Trong số các nhà tư tưởng tiêu biểu của thời kỳ Khai sáng, Jean-Jacques Rousseau với tác phẩm “Bàn về Khế ước xã hội” đã đưa ra những luận điểm sâu sắc về bản chất quyền lực nhà nước, mối quan hệ giữa Nhà nước và Nhân dân cũng như vai trò, vị trí của những người được ủy quyền thực thi quyền lực Nhà nước, đó là đội ngũ công chức.

Việc nghiên cứu một số vấn đề về công chức trong tác phẩm này không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn góp phần làm sáng tỏ những giá trị tham khảo quan trọng đối với quá trình xây dựng đội ngũ công chức chính quyền địa phương hai cấp hiện nay theo hướng phục vụ Nhân dân, chịu trách nhiệm và tuân thủ pháp luật.

Cụ thể, phân cấp, phân quyền để phục vụ người dân được nhiều hơn, nhanh hơn và trực tiếp hơn, phân quyền cho chính quyền cấp xã sẽ làm tăng sự tương tác, kết nối giữa người dân và chính quyền. Đây chính là điều kiện cần thiết để thực hiện trách nhiệm minh bạch, giải trình, chịu sự giám sát của Nhân dân, đặc biệt nó có ý nghĩa trong việc xây dựng đội ngũ công chức chính quyền cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam hiện nay.

2. Quan điểm của J.J. Rousseau về công chức trong tác phẩm “Bàn về Khế ước xã hội”

2.1. Công chức là nhân tố quan trọng nhất trong vận hành quyền lực công

Trong cơ chế vận hành quyền lực công, công chức giữ vai trò là trung tâm và có ý nghĩa quyết định đối với hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Các quy định pháp luật, chính sách, các văn bản hành chính… nếu không được thực thi thông qua hoạt động của công chức thì chỉ tồn tại như những thiết chế mang tính trừu tượng, chưa có giá trị thực tiễn. Vì vậy, quyền lực công chức chỉ được thực hiện hóa thông qua hành vi và hoạt động của những con người cụ thể, trước hết là đội ngũ công chức.

Tác phẩm “Bàn về Khế ước xã hội” của Jean-Jacques Rousseau đã lập luận về bản chất quyền lực của công chức Nhà nước có nguồn gốc từ Nhân dân, là quyền lực được ủy quyền từ đa số Nhân dân thông qua khế ước xã hội. Chủ thể thực sự của quyền lực công là chủ quyền nhân dân, biểu hiện cụ thể thông qua “ý chí chung”, là những vấn đề hướng đến lợi ích chung của cộng đồng. Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực công, còn Chính phủ chỉ là cơ quan được ủy quyền, nhận mệnh lệnh từ cơ quan quyền lực tối cao để thực thi quyền lực đó.

J.J.Rousseau khẳng định: “Những người được ủy thác nắm quyền hành pháp không phải là ông chủ nhân dân mà chỉ là những công chức”1. Điều này, chủ quyền nhân dân không gắn với những cá nhân riêng lẻ, đó là một cộng đồng các công dân có chung mục tiêu và lợi ích. Công chức vận hành quyền lực công thực chất là “người làm thuê” cho cộng đồng, họ chịu sự giám sát, đánh giá và có thể bị bãi miễn nếu đi ngược lại ý chí chung. Theo quan điểm của J.J. Rousseau công chức chỉ có tính chính đáng khi phục tùng luật pháp và ý chí chung, chứ không phải từ địa vị hay chức vụ của họ.

Thứ nhất, hoạt động của công chức phải dựa trên “ý chí chung” của Nhân dân và hướng tới việc hiện thực hóa lợi ích chung.

Ý chí chung chính là sự thể hiện của chủ quyền nhân dân, mọi quyền lực công, trong đó có phần quyền lực công của Nhà nước mà công chức được sử dụng chỉ là sự ủy quyền để thực thi ý chí chung, chứ không phải quyền lực tự thân, “Chủ quyền tối cao là sự thực hiện ý chí chung nên không thể tự nó từ bỏ nó được”2. Bản chất của lập luận về “ý chí chung” trong quan điểm J.J. Rousseau là để duy trì trật tự xã hội, bảo đảm lợi ích chung của toàn xã hội. Chính vì vậy, “ý chí chung” không thể trao, không thể ủy quyền cho một cá nhân, vì “ý chí chung” là lợi ích chung được hình thành sau khi đã “trừ đi những ý chí riêng lẻ xung khắc nhau quá quắt”3. Như vậy, “ý chí chung” chủ quyền tối cao thuộc về cộng đồng, thuộc về Nhân dân, chủ quyền ấy không thể chuyển nhượng và không thể phân chia.

Thứ hai, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho chính quyền cơ sở nhằm bảo đảm quyền của người dân và nâng cao chất lượng phục vụ.

Dựa trên tư tưởng về “Khế ước xã hội”, J.J. Rousseau lập luận rằng, Nhà nước và các cơ quan công quyền vốn mang trong mình sứ mệnh ủy thác quyền lực từ Nhân dân. Thông qua cơ chế phân cấp, phân quyền, Chính phủ thực thi quyền ủy thác đó một cách hiệu quả để đưa quản trị đến gần dân nhất. Trong cấu trúc này, Chính phủ đóng vai trò là nhịp cầu trung gian thiết yếu giữa người dân và cơ quan quyền lực tối cao, đảm trách nhiệm vụ tổ chức thực thi pháp luật; đồng thời là lá chắn bảo giữ các quyền tự do dân sự và tự do chính trị cho mọi công dân. Quyền lập pháp thuộc về Nhân dân nhưng quyền hành pháp thì không, bởi, quyền hành pháp liên quan đến những điều khoản cụ thể thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật. Nếu như người làm luật cũng là người thực thi pháp luật thì khó tránh khỏi những yếu tố lợi ích cá nhân trong đó, do tâm lý con người bao giờ cũng hướng về bảo vệ lợi ích riêng mình.

J.J. Rousseau nhấn mạnh, ý chí chung thì có thể điều khiển các cơ quan Nhà nước theo cơ chế, nhằm phục vụ lợi ích chung và phải hình thành cơ quan chuyên trách tiếp nhận sự ủy thác của quyền lực tối cao. Khi bộ máy chính phủ được thành lập, hiệu quả hoạt động phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ công chức đảm nhận các nhiệm vụ khác nhau, mỗi công chức có trình độ, sự am hiểu chuyên môn và thực hiện chức trách, nhiệm vụ riêng trên cơ sở phối hợp với các công chức khác để cùng đáp ứng yêu cầu của chủ quyền nhân dân, bảo đảm lợi ích chung và không ai bị xâm phạm quyền công dân. Đội ngũ công chức sẽ thực thi pháp luật trong thực tiễn, điều chỉnh mọi hoạt động nhằm bảo đảm công bằng xã hội.

Thứ ba, những người giữ vị trí lãnh đạo trong cơ quan chấp hành chỉ giữ vai trò trung gian trong việc tổ chức thực hiện quyền lực do Nhân dân ủy thác vì lợi ích chung.

Theo J.J. Rousseau, chủ quyền tối cao thuộc về Nhân dân, còn Chính phủ chỉ là cơ quan trung gian được Nhân dân ủy quyền để tổ chức thi hành “ý chí chung” trong khuôn khổ pháp luật. Do đó, các vị trí lãnh đạo trong bộ máy Chính phủ không phải là chủ thể của quyền lực nhà nước mà chỉ thực hiện chức năng tổ chức, điều hành việc thực hiện quyền lực đã được Nhân dân ủy thác cho cơ quan đại diện. Công chức là những người trực tiếp thi hành quyền lực công, vì vậy, hoạt động của họ phải tuân thủ chặt chẽ pháp luật và hướng tới lợi ích chung. Toàn bộ quá trình vận hành quyền lực từ Nhân dân đến Chính phủ và công chức đều mang tính ủy thác và chịu sự kiểm soát của Nhân dân.

Thứ tư, công chức thực thi quyền lực nhân danh Nhân dân và chịu trách nhiệm trước các thiết chế quyền lực nhà nước.

Công chức phải luôn ý thức được vị trí cũng như trách nhiệm của họ đối với Chính phủ và cơ quan quyền lực tối cao. Họ “đứng giữa mối quan hệ công việc và quyền lực chính phủ với công việc và quyền lực của công dân, vừa là chủ nhân vừa là thần dân của chính phủ”4. Công chức là một phần tạo nên cơ thể chính trị trung gian. Do đó, họ phải ý thức rõ trách nhiệm của mình đối với cơ thể chính trị này, thông qua việc tổ chức và thực thi công vụ nhằm bảo đảm cho cơ thể ấy vận hành phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và phục vụ lợi ích chung. Bởi theo J.J. Rousseau, không có Chính phủ nào tồn tại vĩnh viễn, cũng không có một cấu trúc Chính phủ nào mang tính tuyệt đối hay duy nhất, phù hợp với mọi hình thức nhà nước và mọi điều kiện lịch sử – xã hội5. Với vai trò trung gian, công chức sẽ đưa mệnh lệnh từ cơ quan quyền lực tối cao đến với dân chúng. Mặt khác, họ có trách nhiệm phát hiện các hiện tượng xảy ra trong cuộc sống, kịp thời xử lý trên cơ sở quyền hạn của mình, góp phần bảo đảm sự vận hành thông suốt về mọi mặt của quốc gia.

Chính phủ cùng với bộ máy của mình có nhiệm vụ tổ chức và quản lý việc thi hành pháp luật; Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực; đồng thời, tuân theo các quy định do chính mình đặt ra thông qua “ý chí chung”. Điều đó không có nghĩa là đội ngũ công chức được tự do cai trị; trái lại, họ phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, đúng với nhiệm vụ và quyền hạn được trao. Quyền hạn luôn gắn liền với trách nhiệm công vụ, đòi hỏi công chức phải thường xuyên ý thức về giới hạn quyền lực của mình.

Rousseau khẳng định: “Một công dân phải làm những gì cho quốc gia mà cơ quan quyền lực tối cao yêu cầu nhưng cơ quan quyền lực tối cao cũng không thể yêu cầu hoặc mong muốn công dân làm điều vô ích cho cộng đồng”6. Mặt khác, quán triệt phương châm “luôn luôn có thể sẵn sàng hy sinh Chính phủ vì Nhân dân chứ không phải hy sinh Nhân dân vì chính phủ”7. Ông khẳng định rằng: “Nhân dân có quyền cất nhắc hoặc bãi miễn những người được ủy quyền; họ không có quyền phản kháng mà chỉ có nghĩa vụ phục tùng. Việc thực hiện các chức năng do quốc gia giao phó chính là sự thực hiện nghĩa vụ công dân và trong quá trình đó, những người được ủy quyền không có quyền đặt ra bất kỳ điều kiện nào đối với Nhân dân”8.

Như vậy, theo tư tưởng của J.-J. Rousseau, việc lựa chọn, cất nhắc hay bãi miễn những người thực thi quyền lực nhà nước thuộc về chủ quyền tối cao của Nhân dân và được thực hiện thông qua các hình thức biểu quyết tập thể. Điều đó khẳng định tính chất ủy quyền tạm thời và có thể thu hồi của quyền lực công; đồng thời, đặt đội ngũ công chức và những người giữ vị trí lãnh đạo trong khuôn khổ trách nhiệm nghiêm ngặt trước Nhân dân và lợi ích chung.

2.2. Phân cấp, phân quyền nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ Nhân dân

Tư tưởng về nhà nước pháp quyền, phân quyền được J.J. Rousseau đặc biệt quan tâm với chủ trương thực hiện dân chủ, tự do và bình đẳng, quyền lực tối cao thuộc về Nhân dân, Ông nhấn mạnh việc xây dựng hệ thống pháp luật được giao cho cơ quan quyền lực tối cao, việc thực thi pháp luật thuộc về cơ quan hành pháp, gồm Chính phủ và đội ngũ công chức. Quyền hành pháp không phải là quyền lực nhà nước tối cao mà chỉ là quyền lực phái sinh, do Nhân dân ủy thác nhằm tổ chức và bảo đảm việc thi hành pháp luật. Người thực hiện quyền hành pháp không phải là chủ thể của quyền lực nhà nước mà chỉ là người được giao nhiệm vụ thực thi ý chí chung của Nhân dân.

Việc thi hành pháp luật có vai trò bảo đảm cho đời sống xã hội vận hành ổn định, trật tự; đồng thời, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Quyền hạn của cơ quan và người thực thi quyền hành pháp được xác định và giới hạn trong khuôn khổ pháp luật do nhân dân thiết lập. Theo đó, những người được giao thực hiện quyền hành pháp chỉ có quyền áp dụng pháp luật vào thực tiễn quản lý xã hội, hoàn toàn không có quyền lập pháp. Hoạt động của đội ngũ công chức phải chịu trách nhiệm trước nhân dân, bởi họ chỉ là những người được ủy quyền thực thi ý chí chung.

Rousseau cho rằng, để phục vụ Nhân dân một cách hiệu quả, bộ máy Chính phủ cần có sự luân chuyển công chức giữa các địa phương, qua đó, góp phần tạo sự cân bằng giữa các vùng, hạn chế tình trạng lạm quyền, tham nhũng và gây khó khăn cho Nhân dân, bảo đảm Nhân dân ở mọi nơi đều được thụ hưởng các giá trị chung một cách bình đẳng. Bên cạnh đó, Ông cũng nhấn mạnh, quyền hạn của họ luôn phụ thuộc vào ý chí của Nhân dân và có thể bị hạn chế, điều chỉnh hoặc thu hồi bất cứ lúc nào nếu việc thực thi quyền lực đi ngược lại với ý chí chung.

J.J.Rousseau kết luận: “quan lại càng đông, Chính phủ càng yếu”9. Chính phủ trở lên quá mạnh sẽ có nguy cơ lấn át và làm sai lệch ý chí chung của Nhân dân. Vì vậy, quyền hạn của Chính phủ và đội ngũ công chức luôn phải đặt dưới sự giám sát của Nhân dân. Mặt khác, sự phát triển của đất nước và quy mô dân số càng lớn thì bộ máy nhà nước không nên phình to mà cần được tổ chức một cách tinh gọn và hiệu quả; “dân chúng càng đông thì số quan lại càng phải giảm bớt”10. Tính biện chứng thể hiện ở việc luôn gắn tổ chức quyền lực nhà nước với điều kiện thực tiễn cụ thể. Nếu duy trì mô hình quản lý thành quá nhiều đơn vị nhỏ lẻ sẽ kéo theo số lượng cán bộ, công chức quá lớn nên sự thống nhất trong quản lý sẽ gặp nhiều khó khăn. Bộ máy nhà nước cồng kềnh là một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

3. Một số giá trị gợi mở trong xây dựng nền công vụ ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, tăng cường phân cấp, phân quyền cho chính quyền cơ sở gắn với việc nâng cao tính chuyên nghiệp và năng lực phục vụ Nhân dân của đội ngũ công chức.

J.J. Rousseau là người đặt ra vấn đề có tính nền tảng khi khẳng định rằng, quyền lực hành pháp thuộc về chính quyền và đội ngũ công chức, trong đó có chính quyền cơ sở (dù được tổ chức theo mô hình chính quyền địa phương ba cấp hay hai cấp sau sáp nhập), nhưng bản chất chỉ là quyền lực được Nhân dân ủy thác nhằm thực hiện ý chí chung. Do đó, việc tăng cường phân quyền cho chính quyền xã, phường hiện nay không làm thay đổi chủ thể của quyền lực nhà nước; đối với mỗi công chức, đó chỉ là sự ủy thác mang tính tạm thời để thi hành ý chí chung, chứ không phải là sự chuyển giao quyền làm chủ.

Trong bối cảnh mới với nhiều thay đổi sâu rộng, việc giải quyết các công việc của Nhân dân tại cấp xã nhằm bảo đảm bộ máy hành chính vận hành thông suốt, nhanh chóng và hiệu quả đặt ra yêu cầu ngày càng cao về chuyên môn và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức.

Trước tác động mạnh mẽ của chuyển đổi số, công chức buộc phải thay đổi phương thức làm việc để thích ứng với yêu cầu quản lý hiện đại. Đội ngũ công chức hiện nay cần có năng lực và tính chuyên nghiệp, điều này phải được thực hiện ngay từ khâu tuyển dụng, bảo đảm người được tuyển chọn có đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm. Bên cạnh đó, mỗi công chức cần thường xuyên tự học tập, rèn luyện, nâng cao kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp, đặc biệt là năng lực ứng dụng công nghệ thông tin, nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong hoạt động công vụ.

Tuyển dụng, lựa chọn, sắp xếp nhân sự theo hướng ít mà chất, đơn giản mà hiệu năng, hiệu quả là những tiêu chí để chúng ta có được đội ngũ công chức chất lượng. Bên cạnh đó, đội ngũ công chức cần được trẻ hóa đáp ứng yêu cầu đặt ra của thực tiễn. Công chức trẻ sẽ là đội ngũ kế cận thực sự hiệu quả với thế mạnh nhạy bén khoa học – công nghệ và sự thích ứng nhanh với quá trình chuyển đổi số. Chuyên nghiệp hóa đội ngũ công chức với tác phong làm việc khoa học, sử dụng hiệu quả thời gian và nguồn lực sẵn có với tinh thần tận tâm, dám làm dám chịu trách nhiệm, hướng đến lợi ích chung.

Thứ hai, nâng cao ý thức trách nhiệm, đạo đức công vụ của đội ngũ công chức cấp cơ sở trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

J. J. Rousseau đề ra một nguyên tắc có tính nền tảng khi khẳng định rằng, quyền lực nhà nước, trong đó có quyền lực của cơ quan hành pháp, thực chất là quyền lực do Nhân dân ủy thác. Vì vậy, bộ máy hành pháp và cấp chính quyền nào gần dân nhất thì việc thực thi ý chí chung càng có điều kiện được thực hiện một cách hiệu quả. Theo tinh thần đó, chính quyền cơ sở và đội ngũ công chức cơ sở chính là những chủ thể được Nhân dân ủy quyền trực tiếp, có trách nhiệm vận hành quyền lực nhà nước một cách sát thực tiễn đời sống, gắn bó với nhu cầu và lợi ích của Nhân dân.

Khi bàn về đội ngũ công chức, J. J. Rousseau nhấn mạnh, họ trước hết là những công dân được cơ quan quyền lực tối cao của Nhà nước ủy thác thực hiện nhiệm vụ. Vì vậy, công chức phải phối hợp công việc một cách nhịp nhàng, gắn kết, nhằm hình thành nên một “cơ thể chính trị trung gian” thực sự khỏe mạnh và vận hành thông suốt. Nếu một công chức hành động tùy tiện, đặt ý chí cá nhân lên trên ý chí chung thì hành vi đó không chỉ làm suy yếu hiệu quả hoạt động của bộ máy hành pháp mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ cơ thể chính trị trung gian. Trong trường hợp ý chí cá nhân lấn át ý chí chung và công chức lợi dụng vị trí của mình để áp đặt hoặc trục lợi, cơ thể chính trị ấy tất yếu sẽ suy thoái.

Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính, đồng thời xây dựng chính phủ điện tử và thúc đẩy chuyển đổi số trong giải quyết thủ tục hành chính, khối lượng công việc của chính quyền cơ sở ngày càng gia tăng, trong khi người dân cũng cần thời gian để thích ứng với những thay đổi này. Đây chính là thời điểm để đội ngũ cán bộ, công chức thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm, sự tận tâm và tính chủ động trong thực thi công vụ, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của mọi nhiệm vụ được giao. Để làm được điều này, công chức phải thường xuyên cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao kỹ năng làm việc nhằm giải quyết công việc một cách kịp thời và hiệu quả.

Thứ ba, tăng cường giám sát, đánh giá hoạt động của đội ngũ công chức.

Theo J. J. Rousseau, công dân có quyền thay đổi hoặc thu hồi quyền lực đã ủy thác cho công chức nếu những người này không bảo đảm việc thực hiện ý chí chung của cộng đồng. Các hội nghị toàn dân đóng vai trò như một cơ chế “hãm phanh”, buộc đội ngũ công chức phải tạm dừng việc thực thi quyền lực để chịu sự đánh giá và phán quyết thông qua lá phiếu của công dân. Trong trường hợp công chức không hoàn thành nhiệm vụ hoặc hành động đi ngược lại lợi ích quốc gia, trái với tinh thần của ý chí chung, quyền lực của họ sẽ bị cơ quan quyền lực tối cao thu hồi, thậm chí có thể bị bãi nhiệm và thay thế bằng những chủ thể khác phù hợp hơn.

Trong mô hình nhà nước dân chủ, nơi quyền lực tối cao thuộc về Nhân dân, mọi hoạt động của bộ máy chính quyền và đội ngũ công chức đều phải chịu sự giám sát của Nhân dân. Khi công chức không thực hiện đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ được giao, Nhân dân có quyền tham gia góp ý, nhận xét và đánh giá nhằm thúc đẩy việc hoàn thiện hoạt động công vụ. Những ý kiến phản ánh từ Nhân dân cần được tôn trọng và tiếp thu một cách nghiêm túc, không chỉ dừng lại ở việc “rút kinh nghiệm” mà phải chuyển hóa thành những thay đổi thực chất; trong những trường hợp vi phạm nghiêm trọng, cần áp dụng các biện pháp xử lý kịp thời và nghiêm minh.

Tăng cường cơ chế kiểm tra, đánh giá thực chất với hệ thống tiêu chí đa chiều, trong đó lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ làm trọng tâm; đồng thời, bảo đảm nguyên tắc toàn diện, khách quan và công khai trong phê bình, góp ý, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành rà soát, sàng lọc đội ngũ công chức, giữ lại những người có năng lực, trách nhiệm, loại bỏ những cá nhân yếu kém, không đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm. Việc đánh giá của Nhân dân đối với thái độ phục vụ và chất lượng thực thi công vụ của từng vị trí việc làm có thể được thực hiện thông qua nhiều kênh khác nhau, đặc biệt là hình thức lấy ý kiến trực tuyến trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay. Công tác đánh giá cần được tiến hành cả định kỳ và đột xuất với quy trình rõ ràng, minh bạch, mức độ tín nhiệm của Nhân dân chính là thước đo quan trọng phản ánh hiệu quả làm việc của đội ngũ công chức, góp phần xây dựng một nền công vụ thực sự vững mạnh, chuyên nghiệp và hiệu quả.

Thứ tư, nâng cao chất lượng đời sống của công chức và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao.

Theo J. J. Rousseau, một “Cơ thể chính trị trung gian” khỏe mạnh chỉ có thể được xây dựng trên nền tảng của đội ngũ công chức chuyên nghiệp, có năng lực và đạo đức. Đội ngũ này giữ vai trò đặc biệt quan trọng, bởi họ là những người trực tiếp thực thi các nhiệm vụ của Nhà nước trong thực tiễn. Rousseau cho rằng, “Cơ thể chính phủ phải có đời sống thực tế khác với cơ thể quốc gia”, tức Chính phủ phải có một “cái tôi” cụ thể, có sự nhạy cảm chung của các thành viên, có lực lượng và ý chí riêng nhằm bảo đảm sự tồn tại và vận hành hiệu quả của mình”11.

Trong phạm vi trách nhiệm và nghĩa vụ được giao, công chức phải nỗ lực cống hiến hết mình cho cơ thể chính trị, hành động phù hợp với ý chí của cơ quan quyền lực tối cao. Để đội ngũ này có thể hoàn thành tốt sứ mệnh được ủy thác, “họ phải có những chế độ, chính sách ưu đãi nhất định dành cho bộ máy chính phủ”12, bảo đảm điều kiện sinh hoạt và làm việc của công chức “tương xứng với sự khó nhọc”13 và trách nhiệm mà họ gánh vác. Điều đó không chỉ góp phần nâng cao chất lượng đời sống công chức mà còn là cơ sở quan trọng để thu hút, duy trì và phát huy hiệu quả nguồn nhân lực có chất lượng cao trong bộ máy nhà nước.

Những người được ủy thác thực thi nhiệm vụ công, cần được bảo đảm điều kiện sinh hoạt và làm việc tương xứng với trách nhiệm và yêu cầu của vị trí việc làm, phù hợp với thực tiễn phát triển. Quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính đang tạo áp lực lớn đối với đội ngũ cán bộ, công chức, do đó việc bảo đảm thu nhập là điều kiện quan trọng để họ yên tâm công tác và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách. Vì vậy, các cơ quan cần xây dựng chính sách thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ trẻ có năng lực, qua đó góp phần xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, hiện đại và hiệu quả.

Nâng cao chất lượng đời sống của đội ngũ công chức không chỉ là yêu cầu mang tính nhân văn mà còn là điều kiện thiết yếu để xây dựng một “cơ thể chính trị trung gian” khỏe mạnh, vận hành hiệu quả theo đúng tinh thần ủy thác quyền lực của Nhân dân. Việc bảo đảm chế độ đãi ngộ tương xứng với trách nhiệm, khối lượng và yêu cầu của vị trí việc làm sẽ giúp công chức yên tâm công tác, phát huy năng lực; đồng thời, tạo nền tảng quan trọng để thu hút và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao. Từ đó, nền công vụ mới có thể phát triển theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và bền vững, đáp ứng yêu cầu cải cách bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay.

4. Kết luận

Để cơ quan hành pháp vận hành vững mạnh và hiệu quả, mỗi cán bộ, công chức phải thực sự có năng lực, đạo đức và luôn hướng tới việc hiện thực hóa ý chí chung. Việc nghiên cứu và vận dụng những giá trị trong kho tàng lý luận của J. J. Rousseau mang lại nhiều gợi mở quan trọng cho quá trình xây dựng đội ngũ công chức ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của đội ngũ công chức, hướng tới xây dựng một nền công vụ chuyên nghiệp, hiện đại, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ, góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Chú thích:
1, 8. Jean Jacques Rousseau (2006). Bàn về khế ước xã hội. Quyển 4. (dịch giả Hoàng Thanh Đạm). H. NXB Lý luận chính trị, tr. 187, 187.
2, 3, 4, 5, 6, 7, 9, 10, 12, 13. Jean Jacques Rousseau (2006). Bàn về khế ước xã hội. Quyển 3.(dịch giả Hoàng Thanh Đạm). H. NXB Lý luận chính trị, tr. 79, 84, 123, 126, 87, 128, 129, 132, 127, 127 – 128.
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Đăng Dung (2020). Lịch sử các học thuyết chính trị. H. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
2. Hoàng Thị Hạnh (2017). Quan điểm của J.J. Rousseau về phân quyền và giá trị tham khảo đối với Việt Nam hiện nay. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 7 (116), tr. 23 – 31.
3. Nguyễn Đăng Dung (2020). Lịch sử các học thuyết chính trị. H. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
4. Tư duy hệ thống về cải cách hành chính trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam. https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1113302/tu-duy-he-thong-ve-cai-cach-hanh-chinh-trong-boi-canh-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap-o-viet-nam.aspx
5. Giá trị tác phẩm “Bàn về tinh thần pháp luật” – Montesquieu. https://truongchinhtri.danang.gov.vn/Logout.aspx