Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong kỷ nguyên mới

ThS. Trần Thị Thuỷ
Trường Đại học Thủ Dầu Một

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng đã đề ra những quan điểm đúng đắn về phát triển văn hóa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bài viết làm rõ những quan điểm của Đảng về phát triển văn hóa trong các kỳ Đại hội Đảng; thực trạng thực hiện quan điểm của Đảng về phát triển văn hóa thời gian qua; từ đó, đề xuất một số biện pháp cơ bản để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Quan điểm của Đảng; phát triển văn hóa; kỷ nguyên mới.

1. Đặt vấn đề

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng rất quan tâm chú trọng đến phát triển văn hóa, xem văn hóa là mặt trận nóng bỏng, vũ khí lý luận sắc bén trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong sự nghiệp vĩ đại kháng chiến kiến quốc của dân tộc ta, văn hóa gánh một phần rất quan trọng… Nhiệm vụ của văn hóa chẳng những để cổ vũ tinh thần và lực lượng kháng chiến kiến quốc của quốc dân mà cũng phải nêu rõ những thành tích kháng chiến kiến quốc vĩ đại của ta cho thế giới”1.

Vì vậy, nắm vững quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển văn hóa có ý nghĩa rất quan trọng ở mọi phương diện của đời sống xã hội; là cơ sở, tiền đề quan trọng để giữ gìn và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Đồng thời, cung cấp thêm luận cứ cách mạng, khoa học đấu tranh phê phán quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực phản động lợi dụng xu thế toàn cầu hóa, mở rộng quan hệ quốc tế đưa văn hóa phản cách mạng, không đúng với thuần phong mỹ tục của dân tộc để chống phá cách mạng Việt Nam.

2. Văn hóa được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, là một trong ba trụ cột để phát triển đất nước

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc thấm đẫm những chiến công hiển hách chòi ngời, bảo vệ giang sơn, gấm vóc của ông cha. Chính hoàn cảnh lịch sử khắc nghiệt đã quy định, đặt ra cho sự đoàn kết, cố kết cộng đồng, huy động sức mạnh của các ngành, lĩnh vực khác nhau cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc. Thực tiễn đó cũng hình thành, phát triển giá trị văn hóa đặc sắc thấm đượm khí phách, bản lĩnh, cốt cách con người Việt Nam.

Các giá trị văn hóa, như: tinh thần yêu nước nồng nàn, lòng căm thù giặc sâu sắc, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau trong hoạn nạn, khó khăn, đấu tranh kiên cường, bất khuất, không sợ khó khăn, gian khổ, niềm tin sắt son vào chiến thắng của đất nước… là sự kết tinh của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại được mỗi người dân Việt Nam nhận thức và chuyển hóa mạnh mẽ thông qua hoạt động thực tiễn, cụ thể, dũng cảm đứng lên đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược, dù cho kẻ địch có tiềm lực kinh tế, sức mạnh quân sự vượt trội nhưng đều bị thất bại bởi nền văn hóa của dân tộc Việt Nam.

Việt Nam là một đất nước với mấy nghìn năm lịch sử, trải qua không biết bao nhiêu sự biến đổi, thăng trầm do thiên nhiên và con người gây ra, đã tích luỹ, tạo ra và phát huy được nhiều giá trị, bản sắc văn hóa riêng của dân tộc, làm nên hồn cốt của dân tộc2. Văn hóa đã đồng hành cùng với những chạng khác nhau của lịch sử, ở đâu có con người ở đó có văn hóa để cổ vũ, động viên, khích lệ mỗi người nêu cao bản lĩnh, ý chí, sức mạnh, vượt qua mọi chông gai, thử thách, tiếp tục tiến về phía trước. Chính vì vậy, văn hóa đã soi chiếu vào từng suy nghĩ, hành động con người, lột tả được những tâm tư, tình cảm và phản ánh những sắc thái khác nhau của đời sống mỗi con người. Song sự phản ánh đó, dù diễn ra với mức độ đậm, nhạt khác nhau thì văn hóa vẫn luôn hiện hữu, trở thành động lực, sức mạnh tinh thần to lớn để con người chiến thắng tất cả, làm nên những dấu ấn của một dân tộc trên trường quốc tế.

Sự hiện diện, có mặt của văn hóa ở mọi lĩnh vực, ngành nghề khác nhau của đời sống xã hội, đặc biệt trong sinh hoạt con người đã nâng tầm những giá trị văn hóa, trở thành nguồn lực quan trọng cho sự phát triển của đất nước và thoả mãn nhu cầu thưởng thức văn hóa ngày càng cao của con người. “Văn hoá là một kiến trúc thượng tầng; những cơ sở hạ tầng của xã hội có kiến thiết rồi, văn hóa mới kiến thiết được và đủ điều kiện phát triển được; có thực mới vực được đạo; xã hội thế nào thì văn hóa thế ấy. Nhưng mặt khác đến lượt mình, văn hóa là động lực của sự phát triển xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa soi dường cho quốc dân đi”3.

Quan điểm của Đảng về phát triển văn hóa là sự kế thừa, tiếp nối tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có sự bổ sung, phát triển linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả ở mỗi giai đoạn, thời điểm lịch sử khác nhau, tạo thành sức mạnh tổng hợp trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Đảng không chỉ xem văn hóa là hoạt động thưởng thức bình thường mà coi đây là nguồn lực, sức mạnh nội sinh bên trong bảo đảm sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước không chỉ ở thời điểm hiện tại mà còn hướng đến tương lai cho các thế hệ mai sau. Đại hội VI (năm 1986) của Đảng đã chỉ rõ: “Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hóa, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc”4.

Đặc biệt, sau Đại hội VII (năm 1991), Đảng ban hành nghị quyết chuyên đề về văn hóa, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII), ra Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) (7/1998) về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Nghị quyết khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Mọi hoạt động văn hóa, văn nghệ phải nhằm xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển xã hội”5.

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XIII) ngày 70/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam cũng nhấn mạnh đến việc phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Nghị quyết đã khẳng định vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa trong đời sống xã hội, đây thật sự là một nguồn lực để thúc đẩy xã hội phát triển, xây dựng nên phẩm chất nhân cách con người, tạo nền tảng vững chắc cho các mối quan hệ xã hội và góp phần duy trì trật tự kỷ cương, kỷ luật xã hội.

Trải qua các kỳ Đại hội khác nhau, từ Đại hội IX đến Đại hội XII của Đảng tiếp tục chỉ ra vị trí, vai trò quan trọng của văn hóa trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, mở cửa, hội nhập quốc tế. Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 đã xác định mục tiêu, quan điểm phát triển văn hóa: “Văn hoá là nền tảng là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hoá phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”6.

Đại hội XIII (năm 2021) nhấn mạnh đến phát triển văn hóa trong kinh tế, chính trị, đặt văn hóa ngang hàng với kinh tế, chính trị, là một trong ba trụ cột để phát triển đất nước, tạo ra sức sống mới cho dân tộc; khẳng định: “Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, môi trường văn hóa, đời sống văn hóa phong phú, đa dạng, văn minh, lành mạnh; vừa phát huy những giá trị tốt đẹp củ dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực đột phá cho sự phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế”7. Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) trình Đại hội XIV cũng nhấn mạnh đến việc phát triển nguồn lực con người, văn hóa thực sự trở thành nền tảng, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.

Từ những quan điểm của Đảng về phát triển văn hóa có thể rút ra một số vấn đề cơ bản sau: Một là, nhận thức về phát triển văn hóa của Đảng ta ngày càng sâu sắc đầy đủ toàn diện trên các lĩnh vực, ngành nghề của đời sống xã hội. Hai là, xem văn hóa là một nguồn lực, sức mạnh nội sinh bên trong để huy động sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo thành nguồn lực vật chất, tinh thần tiềm tàng bên trong khi cần được đánh thức, khơi dậy sẽ phát huy mạnh mẽ, bảo đảm cho quá trình phát triển đi lên của đất nước một cách ổn định, bền vững. Ba là, trong phát triển văn hóa, Đảng chú trọng phát triển con người, đặt con người vào vị trí trung tâm của lịch sử, phát triển con người toàn diện về đức – trí – thể – mỹ; có ý chí, khát vọng vươn lên phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, biết giữ gìn và phát huy hệ giá trị văn hóa quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị con người, hệ giá trị văn hóa gia đình trong kỷ nguyên mới.

3. Một số kết quả đạt được về phát triển văn hóa theo quan điểm của Đảng

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, vào cuộc quyết liệt của hệ thống chính trị các cấp, việc phát triển văn hóa theo quan điểm của Đảng đạt được nhiều kết quả quan trọng. Văn hoá đã thấm sâu vào trong từng suy nghĩ, hành động của con người, nhất là văn hóa trong Đảng, góp phần quan trọng vào nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên, công chức.

Quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa ngày càng hoàn thiện; Nhà nước tăng cường quản lý các hoạt động văn hóa, bảo đảm các hoạt động văn hóa vui tươi, lành mạnh thúc đẩy xã hội phát triển. Nhiều công trình văn hóa được triển khai xây dựng, nhất là các chương trình, dự án bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số được triển khai mạnh mẽ, quyết liệt và đạt được nhiều kết quả quan trọng: đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số được nâng lên, các lễ hội, phong tục tập quán truyền thống được gìn giữ, lưu truyền, thu hút đông đảo khách du lịch trong và ngoài nước đến thăm quan, nghiên cứu, tìm hiểu; những hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội từng bước được ngăn chặn kịp thời, hiệu quả, góp phần xây dựng đời sống văn hóa mới của đồng bào dân tộc thiểu số; các chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói giảm nghèo, thực hiện nếp sống văn minh, tiến bộ được đẩy mạnh rộng khắp trong toàn xã hội.

Cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương sâu sát bám nắm cơ sở, giải quyết có hiệu quả những thắc mắc, kiến nghị của Nhân dân, tạo sự đồng thuận, thống nhất trong toàn xã hội. Đặc biệt, hoạt động đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực văn hóa diễn ra sôi nổi ở các cấp, các ngành, góp phần làm thất bại mọi âm, thủ đoạn chống phá, xuyên tạc, phủ nhận nền văn hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam của các thế lực phản động, xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh.

Bên cạnh kết quả đạt được, phát triển văn hóa theo quan điểm của Đảng còn một số hạn chế: nhận thức, trách nhiệm của một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ chốt các cấp ở cơ quan, đơn vị, địa phương nhận thức chưa sâu sắc đầy đủ tầm quan trọng của việc phát triển văn hóa; việc cụ thể hoá quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển văn hóa ở từng ngành, lĩnh vực chưa rõ ràng, còn có biểu hiện trông chờ, dựa dẫm vào sự hướng dẫn của cấp trên; chưa mạnh mẽ, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện quan điểm điểm, đường lối của Đảng về văn hóa; đầu tư cho văn hóa chưa thật sự xứng tầm, văn hóa chưa thật sự thấm sâu vào trong suy nghĩ, hành động của mỗi người, nhất là đối với cán bộ, đảng viên, công chức chủ chốt ở các cấp từ trung ương đến địa phương; tham nhũng, tiêu cực, nhũng nhiễu, văn hóa ứng xử, giao tiếp vẫn còn nhiều hạn chế.

Văn hóa chưa được các cấp, các ngành nhận thức một cách sâu sắc và chưa được quan tâm một cách đầy đủ, tương xứng với kinh tế và chính trị, chưa thật sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực của sự phát triển bền vững đất nước… Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý văn hóa còn lúng túng, chậm trễ, nhất là trong việc thể chế hóa các chủ trường, quan điểm của Đảng về văn hóa8.

4. Một số giải pháp

Thứ nhất, cần quán triệt và nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể, lực lượng những quan điểm của Đảng về văn hóa.

Các chủ thể, lực lượng có chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện cần quán triệt và nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của việc phát triển văn hóa. Đa dạng hoá các nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục quan điểm của Đảng về văn hóa cho các tầng lớp Nhân dân; xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể, thiết thực về phát triển văn hóa linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả.

Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, hành động trong toàn xã hội về phát triển văn hóa phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; phòng, chống, ngăn, chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị tư tưởng, đạo đức và văn hóa, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Phát huy vai trò, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, công chức trong thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa; kiên quyết đấu tranh với những nhận thức mơ hồ, sai lệch, ảo tưởng về văn hóa phương Tây; các hiện tượng tiêu cực xã hội, đặc biệt là những hiện tượng vô văn hóa phản văn hóa, không đúng với thuần phong mỹ tục, bản chất, truyền thống tốt đẹp của dân tộc cần phải được đấu tranh loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội; xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh, thấm đẫm giá trị nhân văn sâu sắc, thật sự vì con người, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của Nhân dân trong xây dựng và phát triển nền văn hóa mới, lấy đạo đức là nền tảng vững chắc, hạt nhân để điều chỉnh mọi suy nghĩ, hành động con người đúng với quy tắc đạo đức chuẩn mực xã hội trong thời kỳ mới.

Thứ hai, quan tâm, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ mới.

Đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, tham mưu trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, nhất là cán bộ chủ chốt thực sự am hiểu về văn hóa, có phẩm chất, bản lĩnh, năng lực chuyên môn, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ9. Công tác đào tạo, bồi dưỡng ở mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương cần phải được thường xuyên chú trọng quan tâm; lựa chọn những người có năng lực, tố chất về văn hóa để cử đi đào tào, hoặc tuyển dụng, bố trí, sắp xếp cán bộ, đảng viên, công chức phục trách, công tác trong lĩnh vực văn hóa cần có kiến thức chuyên nghành, nắm rõ, hiểu biết sâu phong tục tập quán văn hóa của quê hương, quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước về văn hóa; biết cách tổ chức, hướng dẫn Nhân dân thực hiện các cách thức, biện pháp bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế, như: ngôn ngữ, chữ viết, trang phục, các điệu múa, hát, đọc ca dao, hò vè, các làng nghề truyền thống…

Cán bộ làm công tác văn hóa thường xuyên sâu sát, bám nắm cơ sở, biết cách lắng nghe những góp ý, tham mưu, đề xuất của Nhân dân, nghệ nhân, già làng, trưởng bản, người có uy tín; từ đó, xây dựng chương trình, kế hoạch bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đúng đắn, phù hợp; khơi dậy tinh thần sáng tạo của Nhân dân và sự vào cuộc của các cấp, các ngành đối với hoạt động văn hóa. Cán bộ làm công tác văn hóa thường xuyên phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mình trong tự bồi dưỡng, rèn luyện về phẩm chất, năng lực để đáp ứng với đòi hỏi của tình hình nhiệm vụ đặt ra ngày càng cao hiện nay. Không ngừng phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt để trở thành một chiến sỹ tiên phong trên mặt trận văn hóa của Đảng. Tiên phong đi đầu trong đấu tranh chống lại những gì đã cũ kỹ, lỗi thời, lạc hậu, không đúng với truyền thống văn hóa tốt đẹp của địa phương.

Tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện nếp sống văn minh tiến bộ, xây dựng đời sống văn hóa mới, không tin, không nghe, không theo những thông tin xuyên tạc, sai trái, chưa được cơ quan, chức năng có thẩm quyền kiểm chứng. Thường xuyên bổ sung vốn sống, kinh nghiệm, hiểu biết các hoạt động văn hóa để làm giàu thêm nội dung, phương pháp tác phong công tác, đáp ứng ngày càng tốt hơn những mong mỏi, kỳ vọng của Nhân dân trong xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Thứ ba, tiếp tục điều chỉnh bổ sung cơ chế, chính sách về phát triển văn hóa phù hợp, hiệu quả giữa các ngành, lĩnh vực và các địa bàn khác nhau.

Xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi về đất, tín dụng, thuế và chi phí đối với các cơ sở đào tạo và thiết chế văn hóa do khu tư nhân đầu tư, đặc biệt là ở vùng khó khăn… Xây dựng một số công trình trọng điểm10. Cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương cần rà soát đánh giá các hoạt động văn hóa, công trình văn hóa một cách căn cơ, toàn diện để có những cơ chế, chính sách đầu tư phát triển hợp lý; tránh dàn trải, không có trọng tâm, trọng điểm, không phát huy được tiềm năng, lợi thế của từng hoạt động văn hóa.

Ở những vùng khó khăn còn lạc hậu về văn hóa phải có những cơ chế, chính sách nhiều hơn so với đồng bằng, thành thị, bổ sung kinh phí, nguồn lực cho các hoạt động văn hóa của vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Có kế hoạch hành động mạnh mẽ, quyết liệt của hệ thống chính trị các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện cơ chế, chính sách về văn hóa đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số; ưu tiên mọi nguồn lực phát triển văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số; quan tâm chăm lo hơn đến đời sống của đồng bào, gắn phát triển văn hóa với phát triển kinh tế, thực hiện tốt nhất chế độ, chính sách cho đồng bào.

Xây dựng phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng nếp sống văn hóa ở từng thôn, bản, ấp, tạo sức lan toả mạnh mẽ sâu rộng trong toàn dân; khơi dậy, động viên, khích lệ các tầng lớp Nhân dân cùng hoà mình vào việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa trong kỷ nguyên mới, tạo thành những kế sinh nhai hữu ích cho các giai cấp, giai tầng khác nhau, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc tổ chức các hoạt động văn hóa ở các địa phương với các cơ chế, chính sách vừa tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục vừa mệnh lệnh, hành chính, xử lý nghiêm đối với những tổ chức cá nhân lợi dụng văn hóa để truyền bá văn hóa phẩm đồi truỵ, thực hiện mê tín dị đoan, mua thần bán thánh, lôi kéo, dụ dỗ những người thiếu hiểu biết để tiến hành các hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, gây mất trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

5. Kết luận

Khi nói đến văn hóa là nói đến những gì tinh hoa, tinh tuý nhất, được chưng cất, kết tinh, hun đúc thành những giá trị tốt đẹp, cao thượng, đặc sắc nhất, rất nhân văn, nhân ái, nhân nghĩa, nhân tình, tiến bộ (một con người có văn hóa, một gia đình có văn hóa, một dân tộc có văn hóa; lối sống văn hóa, nếp sống văn hóa, cách ứng xử có văn hóa…)11. Vì vậy, xây dựng nền văn hóa Việt Nam là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong quá trình đó, mỗi tổ chức, lực lượng, cá nhân phải không ngừng chăm lo, vun đắp các giá trị văn hóa đã có để không ngừng toả sáng, phát huy ở mọi lúc, mọi nơi, thật sự là đòn bẩy, động lực cho sự phát triển đi lên của đất nước khi bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, sánh vai cường quốc năm châu thế giới.

Chú thích:
1. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 557.
2. Nguyễn Phú Trọng (2024). Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 31-32.
3. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 3. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 458.
4.  Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 47. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 420.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998). Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
6, 10. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2014). Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển bền vững đất nước.
7, 9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 47.
8, 11. Nguyễn Phú Trọng (2022). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, 166, 158-160.