Giải pháp thực thi chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

PGS.TS. Lê Trọng Hùng
Trường Đại học Phương Đông
ThS. Nguyễn Thị Bích Diệp
Trường Đại học Lâm nghiệp

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong giai đoạn 2016 – 2024, nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp đã được triển khai trên địa bàn Hòa Bình (nay là tỉnh Phú Thọ). Việc thực thi các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã có những đóng góp nhất định phát triển trong nông nghiệp, như gia tăng về số lượng doanh nghiệp, gia tăng về doanh thu, nâng cao năng lực nguồn nhân lực thực thi chính sách, thúc đẩy sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, tạo việc làm cho các hộ gia đình tham gia cũng như mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Trên cơ sở đánh giá thực trạng thực thi các chính sách hỗ trợ, nghiên cứu đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường thực thi chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp cho tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới.

Từ khóa: Chính sách hỗ trợ; hỗ trợ; doanh nghiệp nhỏ và vừa; nông nghiệp; tỉnh Phú Thọ.

1. Đặt vấn đề

Việt Nam là quốc gia phát triển từ nền nông nghiệp với gần 2/3 dân số sinh sống ở nông thôn và hơn 1/4 lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản. Dù đất nước đang hướng tới mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa để trở thành quốc gia công nghiệp nhưng nông nghiệp vẫn luôn được xác định là “lợi thế quốc gia”.

Ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác, chính sách hỗ trợ được xem là đòn bẩy giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt trong nông nghiệp nhằm giảm rủi ro và tận dụng cơ hội phát triển. Thời gian qua, hệ thống chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp đã được ban hành khá đầy đủ và toàn diện từ trung ương đến địa phương. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy, nhiều chính sách chưa thật sự sát với nhu cầu của doanh nghiệp, điều kiện thụ hưởng còn bất cập, thủ tục hành chính rườm rà dẫn đến hiệu quả thấp. Hệ quả là doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn, nhất là trong bối cảnh yêu cầu chuyển đổi xanh và sản xuất bền vững ngày càng cấp bách.

2. Thực trạng thực thi các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp

2.1. Chính sách hỗ trợ tín dụng

Trong giai đoạn 2016 – 2024, chính sách hỗ trợ tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp ở Hòa Bình (nay là tỉnh Phú Thọ) chủ yếu được thực thi thông qua hệ thống ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng. Nhờ mạng lưới ngân hàng phủ khắp, doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp có cơ hội tiếp cận vốn vay, song vẫn phụ thuộc chủ yếu vào các cơ chế tín dụng ưu tiên do Trung ương ban hành, như Nghị định số 55/2015/NĐ-CP, Nghị định số 116/2018/NĐ-CP về tín dụng nông nghiệp; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định lãi suất cho vay ngắn hạn ưu tiên, cùng với các văn bản hỗ trợ trong bối cảnh dịch Covid-19 (Thông tư số 01/2020/TT-NHNN, Thông tư số 03/2021/TT-NHNN, Nghị quyết số 105/NQ-CP) đã giúp giảm áp lực tài chính, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh cho một số doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp.

(1) Tình hình dư nợ trên toàn địa bàn.

Tình hình dư nợ trên địa bàn tỉnh Hòa Bình cũ được thể hiện trong (xem Bảng 1). Tổng dư nợ tăng từ 15.570,4 tỷ đồng năm 2016 lên 42.861,9 tỷ đồng năm 2024 với tốc độ phát triển bình quân 113,49%/năm. Dư nợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng nhanh hơn so với bình quân chung, từ 3.592,7 tỷ đồng năm 2016 lên 10.853,8 tỷ đồng năm 2024, đạt tốc độ phát triển bình quân 114,82%/năm. Tỷ trọng dư nợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tổng dư nợ toàn tỉnh duy trì ở mức khá cao (trung bình 22 – 25%), cho thấy khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tín dụng địa phương.

Trong khi đó, dư nợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp lại diễn biến theo chiều ngược lại. Từ 438,5 tỷ đồng năm 2016, dư nợ giảm xuống chỉ còn 161,6 tỷ đồng năm 2024, tương ứng tốc độ phát triển bình quân 88,27%/năm. Tỷ trọng dư nợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp trong tổng dư nợ doanh nghiệp nhỏ và vừa giảm từ 12,2% năm 2016 xuống chỉ còn 1,49% năm 2024. Đây là sự sụt giảm đáng kể, phản ánh khó khăn lớn trong tiếp cận vốn tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp.

(2) Kết quả vay vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa

– Xét về số lượng. Trong giai đoạn 2016 – 2024, tổng số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa được hỗ trợ vay vốn tăng nhẹ nhưng cơ cấu dịch chuyển nông, lâm, thủy sản giảm, công nghiệp – xây dựng và thương mại dịch vụ tăng lên. Theo số liệu Bảng 2, số doanh nghiệp nông, lâm, thủy sản được vay vốn giảm mạnh, từ 52 doanh nghiệp năm 2016 xuống còn 29 doanh nghiệp năm 2024, với tốc độ phát triển bình quân là 93,99%/năm. Điều này cho thấy sự thu hẹp đáng kể về quy mô trong khu vực nông, lâm, thủy sản. doanh nghiệp công nghiệp – xây dựng duy trì mức tăng trưởng ổn định, từ 361 doanh nghiệp năm 2016 lên 442 doanh nghiệp năm 2024, chiếm tỷ trọng lớn nhất (trên 50%) và đạt tốc độ phát triển bình quân 112,47%/năm. Đối với doanh nghiệp thương mại – dịch vụ, số lượng cũng gia tăng, từ 268 doanh nghiệp năm 2016 lên 371 doanh nghiệp năm 2024, với tốc độ phát triển bình quân 103,97%/năm.

Như vậy, dư nợ tín dụng của doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2016 – 2024 tăng nhanh, từ 3.592,7 tỷ đồng (2016) lên 11.446,3 tỷ đồng (2024), tốc độ phát triển bình quân là 114,46%/năm, cao hơn tốc độ tăng số lượng doanh nghiệp. Điều này chúng tỏ nhu cầu vốn tín dụng ngày càng lớn của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, trong lĩnh vực nông nghiệp, dư nợ nông, lâm, thủy sản giảm mạnh, từ 438,5 tỷ đồng (2016) xuống 169,2 tỷ đồng (2024), tốc độ phát triển bình quân đạt 90,28%, tỷ trọng chỉ còn khoảng 1,5%. Đây là dấu hiệu cho thấy khu vực nông nghiệp ngày càng khó tiếp cận vốn tín dụng, mặc dù thuộc nhóm ưu tiên trong chính sách.

2.2. Chính sách hỗ trợ thuế và tiền thuê đất sản xuất kinh doanh nông nghiệp

Chính sách miễn, giảm thuế và hỗ trợ tiền thuê đất sản xuất kinh doanh nông nghiệp là một trong những công cụ tài chính quan trọng nhằm giảm gánh nặng chi phí, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tích lũy vốn, duy trì hoạt động và mở rộng sản xuất.

Tại tỉnh Hòa Bình cũ, các chính sách này được triển khai dựa trên các quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế giá trị gia tăng, Nghị định số 218/2013/NĐ-CP, cùng các thông tư hướng dẫn, như: Thông tư số 78/2014/TT-BTC, Thông tư số 96/2015/TT-BTC và Quyết định của UBND tỉnh Hòa Bình cũ về đơn giá thuê đất như Quyết định số 14/2016/QĐ-UBND ngày 04/5/2016; Quyết định số 04/2022/QĐ-UBND ngày 07/01/2022, quy định tỷ lệ % giá đất để xác định đơn giá thuê đất, đơn giá thuê đất có mặt nước, thuê đất để xây dựng công trình ngầm trên địa bàn tỉnh.

Về miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp: chỉ có 12 doanh nghiệp được hưởng với tổng giá trị hỗ trợ hơn 1,1 tỷ đồng, con số rất nhỏ so với tổng số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. Một số năm hoàn toàn không có doanh nghiệp nào được miễn, giảm. Nguyên nhân do đa số doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng đặc biệt khó khăn và khó khăn nên sẽ không được hưởng ưu đãi theo lĩnh vực hoạt động nữa thay vào đó là hưởng ưu đãi về địa bàn (Hòa Bình có 9/10).

Về miễn, giảm thuế giá trị gia tăng: Hầu hết sản phẩm của ngành nông nghiệp được hưởng ưu đãi thuế giá trị gia tăng với mức thuế suất thấp hơn so với các lĩnh vực khác (0%, 5% hoăc thuộc đối tượng không chịu thuế).

Về miễn, giảm tiền thuê đất sản xuất kinh doanh nông nghiệp: có 30 doanh nghiệp được thụ hưởng với tổng số tiền tương ứng 48,7 tỷ đồng, chủ yếu tập trung giai đoạn 2019-2022 do tác động từ dịch Covid-19 khi Chính phủ ban hành gói hỗ trợ kích cầu. Năm 2024, số doanh nghiệp được miễn, giảm giảm xuống còn 3 doanh nghiệp (3,87 tỷ đồng). Trong cả giai đoạn có 93 doanh nghiệp được thuê đất, riêng năm 2024 có 10 doanh nghiệp. Tuy nhiên, qua điều tra nhiều doanh nghiệp phản ánh chi phí thuê đất vẫn cao, phát sinh thêm chi phí trung gian và quản lý.

2.3. Chính sách hỗ trợ đầu tư theo Nghị định số 57/2018/NĐ-CP

Căn cứ Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, tỉnh đã ban hành hệ thống văn bản triển khai Nghị định tại địa phương. Dựa trên các văn bản này, các cơ quan của tỉnh như Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (trước khi sáp nhập tỉnh) đã rà soát, tổng hợp danh mục các dự án thuộc diện được hưởng chính sách hỗ trợ.

Tính đến năm 2024, trên địa bàn đã có 17 dự án thuộc diện khuyến khích đầu tư theo Nghị định số 57/2018/NĐ-CP với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 400 tỷ đồng, trong đó nguồn hỗ trợ ngân sách trung ương dự kiến 51,57 tỷ đồng. Tuy nhiên, tỷ lệ giải ngân thực tế rất thấp, phần lớn các dự án vẫn ở giai đoạn hoàn thiện hồ sơ hoặc chờ hướng dẫn cụ thể của Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (trước sắp xếp). Chỉ có 2 dự án đã được phê duyệt chủ trương đầu tư (Công ty Sinh Lộc, Công ty BWG Mai Châu), song chưa được giải ngân do chưa đủ điều kiện kỹ thuật và thủ tục theo quy định.

Việc triển khai Nghị định số 57/2018/NĐ-CP tại Hòa Bình cũ mới dừng ở mức hoàn thiện danh mục và cơ chế hỗ trợ, hiệu quả thực tế còn hạn chế. Đây là bước khởi đầu quan trọng trong việc thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, tạo cơ sở cho giai đoạn 2025 – 2030 mở rộng quy mô hỗ trợ.

2.4. Chính sách hỗ trợ công nghệ

Năm 2019, tỉnh hỗ trợ chuyển giao quyền sử dụng kết quả nghiên cứu của một đề tài cấp tỉnh cho Công ty cổ phần Nghiên cứu phát triển dược liệu Hòa Bình, đến năm 2020, hai doanh nghiệp khoa học – công nghệ đầu tiên của tỉnh (Công ty CP Biopharm Hòa Bình và Công ty CP Giống và Thức ăn chăn nuôi T&T 159 Hòa Bình) được công nhận, hưởng ưu đãi về thuế, đất đai và vốn tín dụng, khẳng định năng lực tự nghiên cứu và làm chủ công nghệ của doanh nghiệp.

Sau khi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và Nghị định số 80/2021/NĐ-CP có hiệu lực, tỉnh Hòa Bình cũ lần đầu tiên có chính sách riêng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hỗ trợ công nghệ cho 42 doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp, gồm 4 doanh nghiệp được hỗ trợ khảo sát, phân tích hiện trạng nhằm đánh giá mức độ sẵn sàng; 18 doanh nghiệp tham gia tập huấn, đào tạo qua hội thảo, đào tạo trực tuyến; 1 doanh nghiệp được tư vấn chuyên sâu, cho thấy giai đoạn đầu mới dừng ở tư vấn cơ bản, số doanh nghiệp tiếp cận chiều sâu còn hạn chế; 19 doanh nghiệp được sử dụng miễn phí các nền tảng số như kế toán, hóa đơn điện tử, CRM… giúp doanh nghiệp tiếp cận công nghệ mà không phát sinh chi phí.

Trong giai đoạn 2016 – 2024, trên địa bàn tỉnh đã có sự chuyển dịch rõ nét từ hỗ trợ nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ truyền thống sang hỗ trợ chuyển đổi số. Hoạt động chuyển đổi số bước đầu đã có hiệu ứng lan tỏa, nhiều doanh nghiệp được tiếp cận công nghệ số thông qua tập huấn, tư vấn và nền tảng dùng thử, góp phần nâng cao nhận thức, năng lực số và tạo tiền đề áp dụng công nghệ vào quản trị và sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, mức độ ứng dụng thực chất và lâu dài còn hạn chế; hoạt động tư vấn chuyên sâu mới dừng ở quy mô thử nghiệm; số doanh nghiệp khoa học – công nghệ thành lập ít; nguồn lực tài chính cho hỗ trợ công nghệ chủ yếu dựa vào ngân sách trung ương. Về kinh phí, doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được hỗ trợ 4,8 tỷ đồng, một con số quá nhỏ so với nhu cầu thực tế, trong khi NSĐP và nguồn xã hội hóa chưa được khai thác hiệu quả.

2.5. Chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường

Kết quả thực thi chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường ở Bảng 6 cho thấy, nhiều hoạt động đã được triển khai với sự hỗ trợ từ ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Thực hiện Nghị quyết số 14-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các Quyết định số 33/2015/QĐ-UBND và Quyết định số 53/2016/QĐ-UBND của UBND tỉnh, Hòa Bình cũ đã triển khai các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong tiêu thụ và quảng bá sản phẩm nông nghiệp như hỗ trợ cước phí vận chuyển nông sản, chi phí tham gia hội chợ, triển lãm, và quảng bá sản phẩm chủ lực như cam, quýt, mía… Mặc dù mức hỗ trợ chưa lớn, song đã góp phần giảm chi phí lưu thông, tăng khả năng cạnh tranh và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp mở rộng thị trường.

Bên cạnh đó, tỉnh Hòa Bình cũ đã hỗ trợ xây dựng chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm cam Cao Phong; xây dựng nhãn hiệu tập thể cho một số sản phẩm đặc trưng, như: mía tím Hòa Bình, nhãn Sơn Thủy, bưởi đỏ Tân Lạc, na Lạc Thủy, gà Lạc Sơn, tỏi tía Thành Sơn, Mai Châu; đồng thời, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho các sản phẩm cá sông Đà, tôm sông Đà, mật ong Hòa Bình. Đặc biệt, đã có 31 doanh nghiệp được hỗ trợ chứng nhận tiêu chuẩn chất lượng, đây là nhóm nội dung có số lượng doanh nghiệp hưởng lợi nhiều nhất, phản ánh nhu cầu thiết yếu trong việc đáp ứng tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ nhằm mở rộng kênh tiêu thụ và xuất khẩu. Ngoài ra, 18 doanh nghiệp được hỗ trợ tham gia hội chợ, triển lãm; 1 doanh nghiệp được hỗ trợ xây dựng đại lý, điểm giới thiệu sản phẩm. Đặc biệt, tỉnh Hòa Bình cũ là một trong ba địa phương đầu tiên trong cả nước xây dựng và vận hành Cổng thông tin điện tử truy xuất nguồn gốc sản phẩm (HB.CHECK.NET.VN), tạo nền tảng phát triển thương mại điện tử.

2.6. Chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực

Trong những năm qua, công tác giáo dục nghề nghiệp luôn được xác định là nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thể hiện rõ trong các nghị quyết, chương trình, đề án phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

Trong giai đoạn 2016 – 2024, tỉnh đã tổ chức nhiều lớp tập huấn, đào tạo nghề, khởi sự và quản trị doanh nghiệp với sự phối hợp của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (cũ). Theo báo cáo thực hiện Nghị định số 56/2009/NĐ-CP và Nghị quyết số 35/2016/NQ-CP, trung bình mỗi năm có 10 – 12 lớp, với khoảng 300 – 400 học viên thuộc nhiều loại hình doanh nghiệp tham gia. Tuy nhiên, cán bộ và lao động đến từ khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 2%, phản ánh việc thu hút nhân lực trong nông nghiệp còn hạn chế.

3. Hiệu quả và tác động lan tỏa của chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp

3.1. Hiệu quả đối với doanh nghiệp thụ hưởng

Kết quả đầu ra trực tiếp của thực thi chính sách thể hiện thông qua xu hướng tăng quy mô doanh nghiệp cả về lao động và vốn. Cụ thể, nhóm doanh nghiệp quy mô 10 – 49 lao động tăng nhanh nhất (110,36%/năm) phản ánh khả năng mở rộng sản xuất và gia tăng tuyển dụng nhân lực nhờ tiếp cận các hỗ trợ tín dụng, công nghệ và xúc tiến thương mại.

Cơ cấu vốn dịch chuyển theo hướng tích cực khi nhóm vốn 10 – 50 tỷ đồng tăng mạnh (114,72%/năm), cho thấy, khả năng tích tụ và mở rộng sản xuất khi doanh nghiệp tiếp cận được nguồn lực hỗ trợ.

Về hiệu quả sản xuất – kinh doanh doanh thu bình quân tăng từ 2,94 lên 5,82 tỷ đồng/doanh nghiệp, lợi nhuận bình quân tăng từ âm lên 2,29 tỷ đồng/doanh nghiệp. Tuy nhiên, mức lợi nhuận và hiệu quả sử dụng vốn vẫn thấp, phản ánh áp lực chi phí đầu vào và hạn chế năng lực quản trị, công nghệ của doanh nghiệp.

3.2. Hiệu quả theo đánh giá cơ quan thực thi chính sách

Theo đánh giá của cán bộ thực thi chính sách, thực thi chính sách hỗ trợ đạt được hiệu quả tương đối rõ trong các khía cạnh lan tỏa xã hội như cải thiện thu nhập, đời sống kinh tế – xã hội (Mean = 4,10) và tạo việc làm tại chỗ, giảm di cư (Mean = 4,05). Tuy nhiên, tiêu chí phát triển bền vững doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp có điểm thấp nhất (Mean = 3,85), phản ánh hạn chế trong hỗ trợ dài hạn và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

3.3. Hiệu quả lan tỏa đối với hộ sản xuất – kinh doanh

Nhóm hộ sản xuất kinh doanh hưởng lợi gián tiếp thông qua liên kết với doanh nghiệp, như bao tiêu sản phẩm, tiếp cận kỹ thuật, tạo thêm việc làm và thu nhập bổ sung. Tuy nhiên, lợi ích lan tỏa chưa đồng đều giữa các lĩnh vực, thiếu cơ chế hỗ trợ riêng, lâm nghiệp chịu rủi ro cao và chu kỳ dài, thủy sản thiếu hỗ trợ kỹ thuật chuyên sâu trong chế biến và bảo quản.

4. Đánh giá kết quả thực thi các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp tại tỉnh Phú Thọ

Trên cơ sở phân tích kết quả của từng nhóm chính sách hỗ trợ, có thể nhận thấy quá trình thực thi chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp tại tỉnh Hòa Bình, nay là tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2016 – 2024 đã đạt được những kết quả tích cực, bao gồm:

Thứ nhất, về phạm vi và mức độ thụ hưởng. Các chính sách hỗ trợ đã được triển khai trên nhiều lĩnh vực như tài chính (tín dụng, thuế, tiền thuê đất sản xuất – kinh doanh nông nghiệp); công nghệ, xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường; đào tạo nguồn nhân lực góp phần giúp một bộ phận doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp cải thiện năng lực sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, phạm vi thụ hưởng còn hẹp, tỷ lệ doanh nghiệp thực sự tiếp cận được các chính sách hỗ trợ vẫn thấp so với tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản. Cơ cấu thụ hưởng chưa đồng đều, tập trung chủ yếu ở nhóm doanh nghiệp trồng trọt và chế biến nông sản, trong khi doanh nghiệp lâm nghiệp, thủy sản rất hạn chế.

Thứ hai, về hiệu quả sử dụng nguồn lực. Nguồn lực tài chính cho thực thi chính sách chủ yếu đến từ ngân sách trung ương, trong khi ngân sách địa phương bố trí bổ sung còn hạn chế và chưa ổn định qua các năm. Một số năm, kinh phí được cấp bổ sung nhưng giải ngân chậm, tỷ lệ giải ngân bình quân chỉ đạt khoảng 70-80% so với kế hoạch, thủ tục thanh quyết toán còn phức tạp. Bên cạnh đó, khả năng huy động các nguồn lực xã hội, đặc biệt là nguồn vốn đối ứng từ doanh nghiệp vẫn còn yếu, khiến chính sách chưa phát huy được hiệu quả lan tỏa mong muốn.

Thứ ba, về tính phù hợp và hiệu quả theo từng nhóm chính sách. Chính sách tài chính là nhóm có tác động rõ rệt nhất, giúp giảm chi phí vốn và cải thiện năng lực đầu tư của doanh nghiệp. Chính sách xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường được doanh nghiệp đánh giá cao về tính kịp thời và minh bạch, nhất là trong hỗ trợ tiêu thụ nông sản chủ lực. Trong khi đó, chính sách hỗ trợ công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, nội dung hỗ trợ còn dàn trải, thiếu chiều sâu và chưa gắn kết chặt chẽ với định hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao.

Thứ về tác động lan tỏa. Các chính sách hỗ trợ bước đầu đã góp phần tạo môi trường thuận lợi hơn cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp phát triển, thể hiện qua việc gia tăng số lượng doanh nghiệp, mở rộng quy mô vốn và lao động, cải thiện năng suất và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, tác động lan tỏa còn hạn chế do chính sách chưa thực sự tạo được chuỗi liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân, hợp tác xã và các tổ chức trung gian hỗ trợ, khiến sức bật của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp chưa mạnh.

5. Một số giải pháp

Một là, hoàn thiện nội dung và nâng cao chất lượng chính sách.

Để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, trước hết Phú Thọ cần chú trọng hoàn thiện nội dung và nâng cao chất lượng chính sách. Hiện nay, hệ thống văn bản hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp vẫn tồn tại tình trạng phân tán, chồng chéo, chưa thật sự sát với nhu cầu doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp siêu nhỏ và hộ kinh doanh chuyển đổi. Kinh nghiệm Nhật Bản cho thấy, việc ban hành Luật Cơ bản về thực phẩm, nông nghiệp và vùng nông thôn (Takebe) đã tạo khung chính sách thống nhất, kịp thời, dễ áp dụng, đồng thời có cơ chế đánh giá tác động trước và sau khi triển khai. Do đó, Phú Thọ cần rà soát, sửa đổi kịp thời văn bản hướng dẫn, bảo đảm ngắn gọn, dễ hiểu, tập trung vào các lĩnh vực then chốt như tín dụng, đào tạo, khoa học và công nghệ, bảo hộ sở hữu trí tuệ và xúc tiến thương mại. Khi chính sách rõ ràng, minh bạch và gắn sát thực tiễn, khả năng tiếp cận và hấp thụ của doanh nghiệp sẽ được cải thiện, từ đó nâng cao hiệu lực và hiệu quả thực thi chính sách.

Hai là, bảo đảm và đa dạng hóa nguồn lực.

Nguồn lực tài chính là điều kiện tiên quyết để chính sách đi vào cuộc sống. Phú Thọ là đơn vị có ngân sách địa phương hạn hẹp, phụ thuộc nhiều vào nguồn hỗ trợ từ Trung ương. Thực tiễn cho thấy, việc thiếu vốn khiến hoạt động phổ biến thông tin và tiếp cận chính sách của doanh nghiệp, đặc biệt là nhóm siêu nhỏ, còn nhiều hạn chế.

Tỉnh Phú Thọ cần tiếp tục đẩy mạnh xúc tiến đầu tư và mở rộng hợp tác quốc tế nhằm thu hút thêm nguồn lực cho khu vực nông nghiệp, nông thôn. Trên cơ sở Chương trình xúc tiến đầu tư từ năm 2024, địa phương nên tập trung thu hút vốn vào các lĩnh vực có lợi thế, như chế biến nông, lâm, thủy sản, du lịch sinh thái và phát triển đô thị xanh, gắn với mục tiêu phát triển bền vững.

Tăng cường quảng bá hình ảnh địa phương, chủ động xây dựng và mở rộng mạng lưới hợp tác với các đối tác chiến lược, như: Nhật Bản, Thái Lan, Mỹ, Canada, Hà Lan, Đức, Ấn Độ…, nhằm huy động nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý. Việc kết hợp xúc tiến đầu tư quốc tế với cải thiện môi trường kinh doanh trong tỉnh sẽ giúp từng bước khắc phục tình trạng khan hiếm vốn, mở rộng cơ hội tiếp cận nguồn lực cho doanh nghiệp và thúc đẩy phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp theo hướng hiện đại, hội nhập.

Ba là, tăng cường cơ chế phối hợp thực thi.

Một trong những hạn chế lớn của thực thi chính sách tại tỉnh Hòa Bình, nay là tỉnh Phú Thọ là sự phối hợp giữa các sở, ngành còn rời rạc, thiếu một cơ chế thống nhất dành riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp. Trong khi đó, Bắc Giang đã mạnh dạn cắt giảm, phân cấp thủ tục hành chính nội bộ, giúp giảm tầng nấc trung gian và chi phí cho doanh nghiệp. Nhật Bản cũng nổi bật với mô hình hợp tác xã nông nghiệp, đóng vai trò cầu nối cung ứng đầu vào, tín dụng, kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Từ kinh nghiệm này, Phú Thọ cần xây dựng quy chế phối hợp liên ngành đặc thù cho thực thi chính sách, phân định rõ trách nhiệm từng sở, ngành, cơ quan tín dụng và hiệp hội doanh nghiệp. Song song, cần ứng dụng dữ liệu số chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp, tổ chức đối thoại định kỳ doanh nghiệp – chính quyền, từ đó tăng minh bạch, hạn chế chồng chéo và nâng cao hiệu quả phối hợp.

Bốn là, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thực thi chính sách.

Cán bộ thực thi giữ vai trò cầu nối đưa chính sách từ văn bản vào thực tiễn. Tuy nhiên, tại Hòa Bình nay là tỉnh Phú Thọ, đội ngũ này vẫn còn hạn chế về kiến thức chuyên môn, kỹ năng số và kinh nghiệm hỗ trợ doanh nghiệp. Trong khi đó, Nhật Bản thành công trong triển khai nông nghiệp thông minh nhờ đào tạo nhân lực số và quản lý chuỗi giá trị. Sơn La cũng đã tổ chức nhiều lớp tập huấn về pháp luật nông nghiệp, quản trị chuỗi giá trị và xúc tiến thương mại cho doanh nghiệp và hợp tác xã. Từ đó, Phú Thọ cần xây dựng khung năng lực chuẩn cho cán bộ thực thi chính sách, bồi dưỡng kiến thức về quản trị doanh nghiệp, thương mại điện tử, tiêu chuẩn VietGAP/GlobalGAP; đồng thời, áp dụng cơ chế đánh giá định kỳ gắn với khen thưởng, kỷ luật. Khi cán bộ thực thi đủ năng lực, chất lượng dịch vụ công sẽ được nâng cao, doanh nghiệp tiếp cận chính sách thuận lợi hơn.

6. Kết luận

Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng và không thể thay thế trong phát triển kinh tế địa phương. Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các địa phương sẽ tạo việc làm, thúc đẩy khai thác tài nguyên bền vững, ổn định kinh tế, xã hội địa phương trên cơ sở thực thi các chính sách hỗ trợ của trung ương và địa phương. Việc ban hành chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nói chung và trong nông nghiệp nói riêng của nước ta trong thời gian vừa qua đã rất kịp thời và đảm bảo nhu cầu phát triển của các địa phương. Quá trình thực thi những chính sách này đã đưa lại nhiều kết quả cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hoà Bình, nay là tỉnh Phú Thọ, tạo nên sự kết hợp chặt chẽ giữa trung ương, địa phương và doanh nghiệp, tạo thành mạng lưới thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp phát triển bền vững, đóng góp hiệu quả hơn phát triển kinh tế của tỉnh.

Tài liệu tham khảo:
1. Chính phủ (2016). Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
2. Chính phủ (2021). Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
3. Cục Thống kê tỉnh Hòa Bình (2024). Doanh nghiệp và hợp tác xã tỉnh Hòa Bình giai đoạn 1991 – 2024. H. NXB Thống kê.
4. Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình (2018). Báo cáo chuẩn bị cho Hội nghị doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn do Thủ tướng Chính phủ chủ trì.
5. Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình (2021). Quyết định số 3248/QĐ-UBND về phê duyệt kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021 – 2025.
6. Nguyễn Thị Bích Diệp (2023). Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp ở Hòa Bình. Tạp chí quản lý nhà nước số 330 (7/2023).
7. Nguyễn Thị Huyền Châm, Phạm Bảo Dương, Nguyễn Tất Thắng (2019). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2019, 17(11): 946-954 www.vnua.edu.vn
8. Nguyễn Đình Chính (2014). Nghiên cứu chính sách và giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông, lâm, ngư và diêm nghiệp. Đề tài cấp Bộ, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn.
9. Arokiasamy, L., & Ismail, M. (2009). The background and challenges faced by the small medium enterprises. A human resource development perspective. International Journal of business and Management, 4(10), P95.
10. Barbieri, C. (2013). Sustainable tourism and agritourism: Exploring the relationship. Journal of Sustainable Tourism, 21(3), 201-220.
11. Bose. S, Al-Jabri. O, Osman. N, Al Habsi.S, & Al Shidi. R (2017). Role of Small and Medium Enterprises and Agricultural Cooperatives in Promoting Sustainable Agriculture for Rural Development and Food Security. Amity Journal of Agribusiness, 2(2), 1-21.