From the management to the service goverbnent: implications for the development of civil servants at the Hanoi public administration service center
ThS. Đỗ Thị Ngân
Công ty TNHH Lốp Việt Nam
(Quanlynhanuoc.vn) – Chuyển đổi từ chính quyền quản lý sang chính quyền phục vụ là xu hướng tất yếu trong cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay. Trong mô hình chính quyền phục vụ, đội ngũ công chức giữ vai trò trung tâm, đặc biệt tại Trung tâm Phục vụ hành chính công – nơi trực tiếp cung ứng dịch vụ hành chính cho người dân và doanh nghiệp. Trên cơ sở phân tích sự chuyển đổi mô hình chính quyền, bài viết làm rõ những yêu cầu đặt ra đối với phát triển đội ngũ công chức và liên hệ thực tiễn tại Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội. Qua đó, đề xuất một số hàm ý nhằm đổi mới tư duy, hoàn thiện năng lực và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, góp phần xây dựng chính quyền phục vụ hiệu quả.
Từ khóa: Chính quyền phục vụ; phát triển đội ngũ công chức; Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội.
Abstract: The transformation from a management government to a service government is a trend in administrative reform in Vietnam today. In the service government model, the civil servant team plays a central role, especially at the Public Administration Service Center – which directly provides administrative services to people and businesses. On the basis of analyzing the transformation of the government model, the article clarifies the requirements for the development of civil servants and practical contacts at the Hanoi Public Administration Service Center. Thereby, the article proposes some implications for new thinking, improving capacity and improving the quality of civil servants, contributing to building an effective government.
Keywords: Government serves; Development of civil servants; the Hanoi Public Administration Service Center.
1. Chuyển đổi từ chính quyền quản lý sang chính quyền phục vụ – cơ sở lý luận và yêu cầu thực tiễn
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã nhấn mạnh đến yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực quản lý, quản trị của Đảng và Nhà nước. Đây là sự tiếp nối và phát triển xu hướng chuyển đổi của nền hành chính đã được Việt Nam nhìn nhận và thực hiện thời gian qua, đó là: “Chú trọng xây dựng Đảng về cán bộ, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, trọng tâm là cấp chiến lược và cấp cơ sở, nhất là người đứng đầu”1 phải thực sự tiêu biểu, có tư duy, năng lực quản trị tiên tiến, phù hợp với mô hình tổ chức mới và yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước, theo đó, không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, phẩm chất, năng lực, uy tín và lấy hiệu quả phục vụ Nhân dân và doanh nghiệp làm thước đo.
Ở nước ta hiện nay, thời cơ và thách thức đặt ra là rất lớn và đan xen. Thời cơ đến từ thành quả đổi mới, từ vị thế quốc tế ngày càng được củng cố, từ thị trường rộng mở, từ sự phát triển của khoa học, công nghệ, từ khát vọng vươn lên mạnh mẽ của Nhân dân. Thách thức đến từ những điểm nghẽn nội tại, từ yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, từ sức ép cạnh tranh gay gắt, từ rủi ro tụt hậu về công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực, từ tác động ngày càng nặng nề của biến đổi khí hậu, trở thành “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ… Đảng đã xác định điều cốt lõi là phải đột phá tư duy phát triển theo nguyên tắc: đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết; Nhân dân là trung tâm; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực; thể chế hiện đại là nền tảng; kỷ luật thực thi làm bảo đảm; lấy sức mạnh đại đoàn kết là điểm tựa.
Quá trình chuyển đổi từ mô hình chính quyền quản lý sang chính quyền phục vụ diễn ra trong bối cảnh sau:
Một là, kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế mạnh mẽ. Kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế tạo cơ hội và cũng chính là các thách thức cho các nền hành chính chuyển đổi và thích ứng sao cho linh hoạt hơn, hiệu quả hơn, phù hợp với những chuẩn mực chung của “sân chơi” quốc tế.
Hai là, yêu cầu về sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp ngày càng nâng lên.
Người dân và doanh nghiệp phải được tạo điều kiện tối ưu để hoạt động và phát triển, điều này đặt ta yêu cầu cho Nhà nước cần chuyển từ tư duy quản lý – kiểm soát sang phục vụ – kiến tạo phát triển. Không còn là bộ máy ra lệnh mà trở thành người hỗ trợ, cung cấp giải pháp cho người dân, xem sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp là thước đo hiệu quả hoạt động của chính quyền. Nhà nước trở thành chủ thể tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội, chứ không chỉ quản lý.
Chuyển từ quản lý sang phục vụ trong bối cảnh hiện nay, xét về bản chất, là sự thay đổi tư duy từ việc tập trung vào ban hành mệnh lệnh, kiểm soát sang tập trung vào vai trò kiến tạo, hỗ trợ và phục vụ người dân, doanh nghiệp, thay đổi tính chất mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân từ mối quan hệ giữa chủ thể quản lý – đối tượng quản lý sang mối quan hệ giữa chủ thể cung ứng dịch vụ công – khách hàng của chính quyền. Từ đó, Nhà nước chuyển trọng tâm sang nỗ lực giải quyết những vấn đề từ đòi hỏi của thực tiễn, đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ, bảo đảm công khai, minh bạch, đặt lợi ích của Nhân dân lên hàng đầu, thông qua đổi mới thể chế, phân cấp mạnh mẽ và nâng cao năng lực cán bộ, công chức, viên chức.
Ba là, chính quyền phục vụ trở thành định hướng xuyên suốt trong cải cách hành chính ở nước ta. Mục tiêu tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2021 – 2030 là: “Tiếp tục xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, có năng lực kiến tạo phát triển, liêm chính, phục vụ Nhân dân, trên cơ sở những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân trong giai đoạn 2021 – 2030”2. Việc chuyển đổi trạng thái từ tập trung quản lý sang kiến tạo phát triển và phục vụ là sự chủ động của Nhà nước không những là giải pháp góp phần tối ưu hóa hoạt động của chính bản thân nhà nước mà còn giúp nâng cao lợi thế cạnh tranh quốc gia của Việt Nam trong quan hệ quốc tế.
Bốn là, chuyển đổi số mạnh mẽ trở thành yếu tố thúc đẩy sự chuyển đổi. Ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng chính phủ điện tử để minh bạch hóa, đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao năng lực và sự chuyên nghiệp. Qua đó, nền hành chính vận hành linh hoạt, quá trình tương tác giữa người dân và chính quyền trở nên nhanh chóng, minh bạch, hiệu quả và thân thiện hơn.
Thực tiễn cho thấy, có nhiều khác biệt giữa chính quyền quản lý và chính quyền phục vụ. Trong mô hình hành chính công truyền thống (chính quyền quản lý), bộ máy hành chính có thể được nhìn nhận như một hệ thống quản lý nghiêm ngặt với nhiều quy trình và thủ tục chuẩn mực đòi hỏi sự tuân thủ. Với chính quyền phục vụ, Nhà nước không chỉ là các cơ quan với vai trò quản lý, ban hành quy định và tổ chức thực hiện chúng mà còn trở thành người đồng hành, luôn lắng nghe và tìm cách hỗ trợ tốt nhất cho người dân, doanh nghiệp. Muốn vậy, phải tinh giản các thủ tục không cần thiết, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ và ứng dụng công nghệ để người dân, doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận thông tin và dịch vụ công…
Bảng: So sánh chính quyền quản lý và chính quyền phục vụ
| Tiêu chí | Chính quyền quản lý | Chính quyền phục vụ |
| 1. Mục tiêu hoạt động | Nhấn mạnh việc duy trì trật tự, quản lý xã hội bằng mệnh lệnh và kiểm soát; tập trung vào quản lý nhà nước theo quyền lực hành chính. | Hướng tới phục vụ người dân, doanh nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ công; lấy sự hài lòng của xã hội làm thước đo. |
| 2. Cách thức thực thi quyền lực | Quyền lực được thực thi theo kiểu một chiều từ trên xuống, dựa nhiều vào cơ chế “xin – cho”, mệnh lệnh hành chính. | Quyền lực được thực thi theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình, kết hợp quản lý với hỗ trợ, tạo điều kiện và đồng hành cùng xã hội. |
| 3. Vai trò của công chức | Công chức chủ yếu là người thực thi quyền lực quản lý, làm đúng quy định, thiên về kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm. | Công chức là người cung cấp dịch vụ công, người hỗ trợ và hướng dẫn, có trách nhiệm đáp ứng nhu cầu chính đáng của người dân và doanh nghiệp. |
| 4. Quan hệ giữa Nhà nước và người dân, doanh nghiệp | Quan hệ mang tính hành chính – phục tùng, Nhà nước ở vị trí “quản lý”, người dân và doanh nghiệp là đối tượng bị quản lý. | Quan hệ mang tính đối tác – phục vụ, Nhà nước coi người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là khách hàng của dịch vụ công. |
| 5. Cơ chế vận hành | Vận hành chủ yếu theo mô hình hành chính quan liêu, quy trình nặng về thủ tục, phân cấp theo thứ bậc rõ ràng; cơ chế “xin – cho” còn phổ biến. | Vận hành theo mô hình quản trị hiện đại, lấy người dân làm trung tâm; cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng chuyển đổi số, phối hợp liên thông giữa các cơ quan. |
| 6.Tính minh bạch và trách nhiệm giải trình | Minh bạch còn hạn chế, thông tin chủ yếu do cơ quan nhà nước nắm giữ; trách nhiệm giải trình chưa rõ ràng, người dân khó giám sát. | Đề cao công khai – minh bạch, tăng trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền; người dân, doanh nghiệp có điều kiện tham gia giám sát và phản hồi. |
| 7. Hiệu quả quản trị | Hiệu quả thường được đánh giá dựa trên tuân thủ quy trình, quy định, đôi khi dẫn đến hình thức, thiếu linh hoạt; chất lượng phục vụ chưa phải trọng tâm. | Hiệu quả được đánh giá dựa trên kết quả đầu ra và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp; chú trọng chất lượng dịch vụ công và hiệu quả quản trị xã hội. |
Sự chuyển đổi này đặt ra những yêu cầu mới đối với đội ngũ công chức cũng như quá trình phát triển đội ngũ công chức, nhằm đáp ứng những yêu cầu mới đó. Điều này đòi hỏi sự thay đổi từ tư duy lãnh đạo cấp cao đến hành động cụ thể của từng công chức, hướng tới một nền hành chính phục vụ Nhân dân, kiến tạo, hiệu quả. Đội ngũ công chức trong chính quyền phục vụ cần được đổi mới tư duy và thái độ phục vụ chuyên nghiệp, có năng lực chuyên môn và kỹ năng ngày càng hoàn thiện, có đạo đức công vụ và trách nhiệm giải trình. Chính vì vậy, việc phát triển đội ngũ công chức để đáp ứng yêu cầu của chính quyền phục vụ là điều kiện then chốt để chuyển đổi thành công sang chính quyền phục vụ ở Việt Nam.
2. Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội và thực trạng đội ngũ công chức trong bối cảnh xây dựng chính quyền phục vụ
2.1. Vị trí, vai trò của Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội trong mô hình chính quyền phục vụ
Trung tâm Phục vụ hành chính công là mô hình đầu mối tập trung, hiện đại hóa việc giải quyết thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp, giúp tiếp nhận hồ sơ, hướng dẫn, trả kết quả và đề xuất cải cách thủ tục hành chính; hoạt động theo nguyên tắc “một cửa, một cửa liên thông”, tích hợp công nghệ số, hướng tới tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả và minh bạch, giảm phiền hà, tăng sự hài lòngcủa người dân và doanh nghiệp đối với việc thực hiện thủ tục hành chính. Như vậy, tất cả thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của một/một số cơ quan được tập trung tại một điểm (đầu mối) để tiếp nhận vả trả kết quả thực hiện thủ tục hành chính. Điều này giúp bảo đảm quy trình liền mạch, thuận tiện, công khai, minh bạch, tiết kiệm thời gian, chi phí, gia tăng sự hài lòng đối với chính quyền. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, xây dựng chính quyền hiện đại, chuyên nghiệp. Như vậy, Trung tâm phục vụ hành chính công là tổ chức hành chính, là đầu mối cung ứng dịch vụ hành chính công; là điểm tiếp xúc trực tiếp, là cầu nối thường xuyên giữa chính quyền với người dân, doanh nghiệp; là không gian thể hiện rõ nhất chất lượng phục vụ của chính quyền.
Từ vị trí, vai trò, chức năng đó của Trung tâm, đội ngũ công chức làm việc tại đây mang những nét đặc thù nhất định, đó là: chịu áp lực công việc cao; yêu cầu năng lực phải toàn diện, linh hoạt; hoạt động của đội ngũ này tác động trực tiếp đến mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp khi họ là đại diện trực tiếp nhất, thường xuyên nhất cho hình ảnh của chính quyền địa phương, của Nhà nước. Khi xây dựng chính quyền phục vụ thì đội ngũ công chức tại Trung tâm chính là những chủ thể đóng vai trò đặc biệt quan trọng và trực tiếp nhất.
Đối với Hà Nội, từ thực tiễn của Thủ đô với đặc thù dân số đông, mật độ dân cư cao, đời sống kinh tế – xã hội sôi động khiến cho số lượng hồ sơ nhiều, ngày càng tăng cao, đặc biệt ở một số lĩnh vực như chứng thực, hộ tịch, đất đai, bảo hiểm, an sinh xã hội… dẫn tới tình trạng quá tải trong tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính. Việc tồn tại 126 điểm phục vụ hành chính công cấp xã khiến cho việc quản lý, kiểm soát cũng như bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong tiếp nhận và trả kết quả gặp nhiều khó khăn. Do đó, theo Quyết định số 6166/QĐ-UBND ngày 12/12/2025 về việc tổ chức lại Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội, Hà Nội thực hiện điều chuyển 126 điểm phục vụ hành chính công thuộc UBND xã, phường về Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố quản lý. Việc điều chuyển bao gồm nhân sự, hồ sơ, tài sản, tài chính liên quan. Mục tiêu là đảm bảo tính thống nhất trong quản lý, đồng thời chuẩn hóa quy trình, nâng cao chất lượng phục vụ và giám sát hoạt động theo tiêu chí đồng bộ toàn hệ thống. Đây được xem là bước ngoặt trong lộ trình xây dựng mô hình hành chính công một cấp, hướng đến quy trình giải quyết thủ tục minh bạch, chuyên nghiệp và hiện đại.
Như vậy, trong khi phần lớn các tỉnh, thành phố khác xây dựng mô hình Trung tâm phục vụ hành chính công hai cấp thì Hà Nội xây dựng mô hình “một cấp”. Đây là một điều kiện thuận lợi để tập trung đầu mối, xây dựng và phát triển đội ngũ công chức Trung tâm một cách đồng bộ, thống nhất, hiệu quả.
2.2. Thực trạng đội ngũ công chức Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội
Trung tâm được tổ chức thành 12 chi nhánh. Tính đến ngày 03/3/2026, với tổng số nhân sự là 851 người (trong đó: Ban Giám đốc chi nhánh: 21 người; công chức biên chế: 374 người; cán bộ cử, biệt phái: 162 người; người lao động hợp đồng: 456 người) và tổng số 367 nhân sự Bưu chính công ích làm nhiệm vụ hỗ trợ, hướng dẫn, số hóa hồ sơ. Toàn bộ nhân sự được bố trí, phân bổ hợp lý, phù hợp tại 141 điểm Hỗ trợ dịch vụ công số, bảo đảm vận hành, tổ chức hoạt động thông suốt, hiệu quả.
Nhìn chung, đội ngũ công chức tại Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội đang từng bước được chuẩn hóa nhằm đáp ứng yêu cầu của công việc thực tiễn cũng như sự chuyển dịch từ “chính quyền quản lý, hành chính mệnh lệnh” sang “chính quyền phục vụ. Phẩm chất chính trị được củng cố, rèn luyện, tinh thần phục vụ người dân có chuyển biến tích cực; kỷ luật, kỷ cương hành chính, tính chuyên nghiệp được tăng cường; trình độ chuyên môn ngày một được bảo đảm, công chức có chuyên môn phù hợp, gắn với vị trí việc làm.
Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số hạn chế như tư duy hành chính quản lý còn khá phổ biến; kỹ năng phục vụ, giao tiếp hành chính chưa đồng đều; cơ chế đánh giá, khuyến khích chưa gắn chặt với chất lượng phục vụ; nhiều người còn gặp một số lúng túng trong thực hiện nhiệm vụ với quy trình mới và mô hình Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp (nhất là công chức sau sắp xếp, lao động hợp đồng mới). Điều này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan.
Về mặt thể chế, chính sách phát triển đội ngũ chưa theo chuẩn chính quyền phục vụ. Nhân sự được điều chuyển từ các Điểm Phục vụ hành chính công xã, phường về Trung tâm phục vụ hành chính công thành phố cần được rà soát tổng thể để có định hướng, kế hoạch chuẩn hóa, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong toàn bộ đội ngũ.
Về mặt tổ chức, quản lý, việc xây dựng vị trí việc làm và thực hiện quản lý công chức, trong đó đặc biệt là đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá công chức theo vị trí việc làm chưa được bảo đảm toàn diện; về mặt văn hóa công vụ, quá trình chuyển đổi tư duy phục vụ còn chậm, chưa theo kịp được với sự thay đổi của cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy với tinh thần “sắp xếp lại giang sơn” và yêu cầu của thực tiễn trong sự chuyển dịch sang chính quyền phục vụ.
3. Một số giải pháp
Thứ nhất, đổi mới tư duy và định hướng phát triển đội ngũ công chức theo mô hình chính quyền phục vụ
Việc đổi mới tư duy phải được tiến hành từ lãnh đạo quản lý đến toàn bộ đội ngũ công chức của Trung tâm. Trong bối cảnh mới, “cán bộ phải thay đổi tư duy từ “làm thay” sang “hướng dẫn, hỗ trợ” để người dân chủ động tiếp cận dịch vụ công trực tuyến” (3). Tư duy và định hướng phát triển đội ngũ công chức của Trung tâm cần được dịch chuyển cách tiếp cận từ quản lý biên chế sang phát triển năng lực nhân sự, chuyển cách tiếp cận từ tập trung vào thực thi quy trình sang hiệu quả hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu người dân. Bởi vậy, cần định hướng xây dựng, củng cố hình ảnh đội ngũ công chức chuyên nghiệp, trách nhiệm, phục vụ, đúng như slogan của Trung tâm là “Hành chính thông minh, tận tâm phục vụ”.
Thứ hai, hoàn thiện chuẩn năng lực công chức Trung tâm Phục vụ hành chính công.
Cần thực hiện đề án vị trí việc làm cho công chức của Trung tâm và lấy đây làm căn cứ cho các hoạt động trong quy trình quản lý công chức, từ tuyển dụng, sử dụng, đào tạo bồi dưỡng, đánh giá đến khen thưởng, kỷ luật công chức của Trungg tâm. Xây dựng khung năng lực cho từng vị trí, xác định rõ tiêu chí năng lực cho từng vị trí (chuyên viên tiếp nhận hồ sơ, hướng dẫn, xử lý văn bản, công nghệ thông tin…). đặc biệt với tính phục vụ của chính quyền cần tập trung bổ sung, nhấn mạnh các nhóm năng lực: (1) Tinh thần phục vụ; (2) Kỹ năng giao tiếp hành chính, lắng nghe; (3) Năng lực xử lý tình huống; (4) Năng lực ứng dụng công nghệ số sử dụng dịch vụ công trực tuyến và hệ thống quản lý hồ sơ điện tử.
Thứ ba, đổi mới công tác đào tạo, đánh giá và đãi ngộ công chức.
Tiếp tục đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức theo vị trí việc làm. Trên cơ sở bản mô tả công việc, bản tiêu chuẩn công việc và bản yêu cầu công việc của từng vị trí, cần xây dựng chương trình, nội dung, tài liệu bồi dưỡng tương ứng. Tiến hành cập nhật kiến thức, kỹ năng về cải cách hành chính, cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số trong giải quyết thủ tục, hồ sơ hành chính. Bảo đảm thông qua đào tạo, bồi dưỡng có thể cập nhật kiến thức toàn diện, chuyên sâu, hoàn thiện kỹ năng, thái độ cần thiết, phù hợp trong thực tiễn thực thi công vụ cho đội ngũ công chức của Trung tâm, gắn chặt với công việc tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp.
Về công tác đánh giá, đãi ngộ, cần gắn với kết quả phục vụ và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Đánh giá dựa trên kết quả đầu ra (mức độ hài lòng của người dân, thời gian xử lý, chất lượng dịch vụ). Kết hợp đánh giá 360 độ (ý kiến từ người dân, đồng nghiệp và lãnh đạo), thông qua đó tạo động lực cho công chức làm việc lâu dài, chuyên nghiệp.
Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 177.
2. Chính phủ (2021).Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 – 2030.
3. Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội: Tập huấn nâng cao năng lực giải quyết thủ tục tư pháp số. https://ttpvhcc.hanoi.gov.vn/hoat-dong-cua-trung-tam/trung-tam-phuc-vu-hanh-chinh-cong-thanh-pho-ha-noi-tap-huan-nang-cao-nang-luc-giai-quyet-thu-tuc-tu-phap-so-2850260404173335901.htm
Tài liệu tham khảo:
1. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2025). Quyết định số 6166/QĐ-UBND ngày 12/12/2025 về việc tổ chức lại Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội.
2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về “chính phủ linh hoạt” và hàm ý chính sách đối với Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/03/31/co-so-ly-luan-va-thuc-tien-ve-chinh-phu-linh-hoat-va-ham-y-chinh-sach-doi-voi-viet-nam/
3. Đổi mới quản trị quốc gia theo phương châm kiến tạo, vì dân. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/03/04/doi-moi-quan-tri-quoc-gia-theo-phuong-cham-kien-tao-vi-dan/



