Phát huy vai trò của lực lượng công an trong việc kiến tạo nền tảng dữ liệu cho chính phủ số theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng

Promoting the role of the People’s Public Security Forces in establishing a data foundation for digital government in light of the documents of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam

PGS.TS. Nguyễn Thị Hải Vân
Học viện Chính trị Công an nhân dân

(Quanlynhanuoc.vn) – Toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang thúc đẩy chuyển đổi số mạnh mẽ trong quản trị quốc gia, trong đó Chính phủ số được xác định là hướng phát triển tất yếu nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Bên cạnh những tác động tích cực là mở rộng khả năng cung cấp dịch vụ công trực tuyến, giảm giấy tờ và tăng tính minh bạch, quá trình xây dựng Chính phủ số cũng bộc lộ không ít thách thức, như: dữ liệu gốc chưa đồng bộ, liên thông, chia sẻ dữ liệu còn phân mảnh cùng với rủi ro an toàn thông tin và quyền riêng tư làm suy giảm niềm tin số. Trong bối cảnh đó, lực lượng Công an nhân dân với vai trò nòng cốt trong quản lý dữ liệu dân cư, căn cước, triển khai định danh và xác thực điện tử; đồng thời, bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong việc kiến tạo nền tảng dữ liệu tin cậy cho Chính phủ số thực hiện theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng.

Từ khóa: Chính phủ số; nền tảng dữ liệu; cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; định danh điện tử; VNeID; bảo vệ dữ liệu cá nhân; Đại hội XIV của Đảng.

Abstract: Globalization and the Fourth Industrial Revolution are accelerating digital transformation in national governance, with digital government increasingly recognized as an inevitable trajectory for improving the effectiveness and efficiency of state administration and enhancing the quality of services delivered to citizens and businesses. In addition to its positive contributions-such as expanding access to online public services, reducing administrative paperwork, and promoting transparency-the development of digital government has also exposed a number of significant challenges, including the lack of synchronization in foundational data, fragmented data interoperability and sharing, and growing risks related to information security and privacy, all of which erode digital trust. In this context, the People’s Public Security Forces, as the central actor in managing population and identity data, implementing electronic identification and authentication, and safeguarding data security and safety, play a particularly important role in establishing a trusted data infrastructure for digital government in line with the spirit of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam.

Keywords: Digital government; data infrastructure; National Population Database; electronic identification; VNeID; personal data protection; the 14th National Congress of the CPV.

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, Chính phủ số được định vị là trụ cột dẫn dắt, vừa định hướng mục tiêu phát triển, vừa thiết lập các điều kiện nền tảng để dữ liệu khu vực công có thể tạo lập – kết nối – khai thác – bảo vệ một cách hợp pháp, an toàn và hiệu quả. Trên phương diện thực thi, yêu cầu dữ liệu của Chính phủ số không chỉ dừng ở “số hóa hồ sơ” mà còn kiến tạo một hệ sinh thái có dữ liệu gốc tin cậy, liên thông chia sẻ, định danh số thống nhất và bảo đảm tin cậy số (an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng). Theo đó, dữ liệu không còn là tài sản cục bộ của từng cơ quan mà phải được tổ chức theo kiến trúc dùng chung, có cơ chế kết nối – chia sẻ và kiểm soát trách nhiệm rõ ràng.

Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã nêu rõ 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026 – 2030, trong đó tiếp tục nhấn mạnh cần đổi mới mạnh mẽ tư duy và hành động, lấy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính1.

2. Yêu cầu nền tảng dữ liệu cho chính phủ số ở Việt Nam

Chính phủ số được hiểu là mô hình quản trị và cung ứng dịch vụ công “số hóa ngay từ thiết kế”, vận hành theo hướng lấy người dùng làm trung tâm và đặc biệt coi dữ liệu là nguồn lực chiến lược để ra các quyết định chính sách2. Ở nước ta, định hướng phát triển Chính phủ số được đặt trong Chương trình Chuyển đổi số quốc gia với mục tiêu phát triển, đồng thời Chính phủ số – kinh tế số – xã hội số, trong đó nhấn mạnh mở rộng dịch vụ công trực tuyến và hình thành các nền tảng dữ liệu phục vụ điều hành3. Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số cũng tiếp tục nhấn mạnh tối ưu hóa trải nghiệm người dùng, thiết kế lại dịch vụ và hướng tới mục tiêu tối thiểu 80% hồ sơ thủ tục hành chính được xử lý hoàn toàn trực tuyến, người dân chỉ phải nhập dữ liệu một lần4.

Dữ liệu số là dữ liệu dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được biểu diễn bằng tín hiệu số. Dữ liệu số mang thông tin số và được chia sẻ dưới dạng thông điệp dữ liệu5. Dữ liệu số có thể khái quát theo ba lớp: dữ liệu gốc/nền tảng dùng để định danh và tham chiếu (như dân cư, căn cước…); dữ liệu chuyên ngành phục vụ quản lý lĩnh vựcdữ liệu dùng chung (bao gồm dữ liệu danh mục, bảng mã…) phục vụ tích hợp, trao đổi thống nhất.

Nền tảng dữ liệu cho Chính phủ số, gồm: (1) Dữ liệu gốc chuẩn hóa, cập nhật; (2) Cơ chế liên thông – chia sẻ và dịch vụ chia sẻ dữ liệu; (3) Định danh/xác thực tin cậy; (4) Bảo đảm an toàn, quyền riêng tư; (5) Quy tắc quản trị dữ liệu (phân quyền, trách nhiệm, kiểm soát truy cập, lưu vết)6. Các yêu cầu này được thể hiện xuyên suốt trong hệ thống chiến lược, đề án và văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2020 – 2025.

Theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng tới 2030, đặt mục tiêu phát triển đồng thời Chính phủ số – kinh tế số – xã hội số, trong đó Chính phủ số được nhấn mạnh như động lực cải cách phương thức quản trị và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Điểm đáng chú ý là Chương trình này coi “phát triển nền tảng số là giải pháp đột phá để thúc đẩy chuyển đổi số nhanh hơn, giảm chi phí, tăng hiệu quả”. Tiếp theo, Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030, tiếp tục cụ thể hóa yêu cầu dữ liệu theo hướng: (1) Lấy người dùng làm trung tâm; (2) Phát triển các nền tảng, dịch vụ dùng chung; (3) Thúc đẩy liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước; và (4) Quản trị, vận hành dựa trên dữ liệu nhằm nâng cao chất lượng điều hành và hiệu quả dịch vụ công.

Cùng với các chiến lược, khung pháp lý về cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến cũng từng bước được hoàn thiện, như: Nghị định số 42/2022/NĐ-CP ngày 24/6/2022 của Chính phủ quy định việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến của cơ quan nhà nước trên môi trường mạng, qua đó, làm rõ cách thức tổ chức cung cấp dịch vụ trực tuyến và yêu cầu công khai, vận hành trên môi trường số; Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (gọi tắt là Đề án 06) cũng đã chuyển hóa yêu cầu “dữ liệu là nền tảng” thành chương trình hành động có lộ trình, nhiệm vụ và danh mục dịch vụ ưu tiên. Trọng tâm của Đề án là khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hệ thống định danh và xác thực điện tử, cùng thẻ căn cước gắn chip nhằm phục vụ cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến, đồng thời mở rộng các tiện ích cho phát triển kinh tế – xã hội và công dân số. Ngoài ra, khung pháp lý liên quan trực tiếp đến các vai trò của việc kiến tạo nền tảng dữ liệu cho chính phủ số cũng được dần hoàn thiện, cụ thể:

Về dữ liệu và chia sẻ dữ liệu, Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước, được xem là văn bản nền tảng quy định quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước, xác lập nguyên tắc, mô hình kết nối – chia sẻ và trách nhiệm của chủ quản dữ liệu. Đây là cơ sở pháp lý trực tiếp để triển khai liên thông dữ liệu như một yêu cầu bắt buộc của Chính phủ số, thay vì hoạt động tự nguyện, phân tán. Đến năm 2025, yêu cầu này được tăng cường bằng các chỉ đạo điều hành tập trung vào “kết nối thông suốt, không gián đoạn”, tiêu biểu là Công điện số 103/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/6/2025 về tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Cùng với đó, Nghị quyết số 214/NQ-CP ngày 23/7/2025 của Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện, cho thấy Chính phủ chuyển mạnh từ giai đoạn “xây hệ thống” sang “tạo lập – làm sạch – vận hành dữ liệu” theo mục tiêu thực chất hơn.

Về định danh – xác thực điện tử, Nghị định số 69/2024/NĐ-CP ngày 25/6/2024 của Chính phủ đã tạo nền tảng để triển khai thống nhất tài khoản định danh điện tử và cơ chế xác thực trong giao dịch điện tử. Đây là điều kiện pháp lý để định danh số trở thành hạ tầng dùng chung của Chính phủ số, bảo đảm giao dịch số có thể xác thực và gắn trách nhiệm. Ngoài ra, Cổng Dịch vụ công Quốc gia cũng đã công bố quy trình cấp tài khoản định danh điện tử mức độ 2, căn cước điện tử, trong đó yêu cầu xác thực sinh trắc (khuôn mặt, vân tay) và đối chiếu với cơ sở dữ liệu căn cước khi tiếp nhận, xử lý hồ sơ, từ đó cho thấy định danh/xác thực đã được “thủ tục hóa” để vận hành trên thực tế7. Cùng với đó, Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2024) còn tạo cơ sở pháp lý vững chắc hơn cho giao dịch số trong khu vực công và trên toàn quốc, gián tiếp củng cố cơ sở triển khai xác thực và định danh trong môi trường điện tử.

Về căn cước/căn cước điện tử, Luật Căn cước số 26/2023/QH15 (có hiệu lực từ 01/7/2024) quy định đồng thời về Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước, thẻ căn cước và căn cước điện tử. Đây là cơ sở pháp lý trực tiếp cho việc chuẩn hóa dữ liệu nhân thân và tổ chức khai thác trong giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công và các giao dịch số. Nghị định số 70/2024/NĐ-CP ngày 25/6/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Căn cước cũng đã góp phần cụ thể hóa cơ chế thực thi đối với dữ liệu căn cước và căn cước điện tử, qua đó bảo đảm tính khả thi khi triển khai trên diện rộng.

Về tin cậy số (an ninh dữ liệu – bảo vệ dữ liệu cá nhân – an ninh mạng), Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ về bảo vệ dữ liệu cá nhân đã đặt ra các nguyên tắc và nghĩa vụ trong xử lý dữ liệu cá nhân, qua đó tạo hành lang cho việc chia sẻ và khai thác dữ liệu phục vụ Chính phủ số mà không làm suy giảm quyền riêng tư. Đồng thời, Luật An ninh mạng số 24/2018/QH14 và Nghị định số 53/2022/NĐ-CP ngày 15/8/2022 của Chính phủ đã quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng, tạo khung bảo đảm an ninh mạng đối với hệ thống thông tin và dữ liệu trên không gian mạng, đặc biệt trong bối cảnh dữ liệu công ngày càng tập trung, liên thông và được khai thác theo thời gian thực.

3. Tình hình hoạt động kiến tạo nền tảng dữ liệu cho chính phủ số của lực lượng công an nhân dân

3.1. Hỗ trợ triển khai quản trị dữ liệu gốc dân cư/căn cước

Lực lượng công an nhân dân mà trực tiếp là Bộ Công an đã tổ chức xây dựng, vận hành và thường xuyên cập nhật Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đồng thời triển khai diện rộng thẻ căn cước gắn chip và các phương án kỹ thuật để gắn dữ liệu nhân thân chuẩn hóa với chip, phục vụ xác thực trong giải quyết thủ tục hành chính và các giao dịch số. Việc quản trị dữ liệu gốc ở đây không chỉ đơn thuần là thu thập, mà còn là chuẩn hóa định danh (số định danh cá nhân), liên tục làm sạch, đối sánh và phối hợp liên ngành để giảm sai lệch giữa dữ liệu dân cư với dữ liệu chuyên ngành, như: thuế, hộ tịch, bảo hiểm…8.

Thực tiễn triển khai cho thấy, dữ liệu dân cư/căn cước đã trở thành nguồn gốc để xác thực và tái sử dụng thông tin, qua đó hỗ trợ giảm khai báo và giảm giấy tờ. Bộ Công an đã kết nối, chia sẻ dữ liệu với nhiều cơ quan (Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam…), phục vụ xác thực khi cung cấp dịch vụ công và triển khai các tiện ích dữ liệu đa ngành gắn với căn cước. Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư được ghi nhận đã kết nối và chia sẻ dữ liệu với các bộ, ngành, các địa phương và một số doanh nghiệp, tạo một chỉ dấu quan trọng về mức độ “được dùng” của dữ liệu gốc trong vận hành quản trị số9.

Bên cạnh những kết quả đó, việc triển khai Đề án 06 cũng chỉ ra một số điểm nghẽn nhất định, như: dữ liệu “chưa đầy đủ, rời rạc và phân mảnh”, tiến độ xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành ở một số lĩnh vực còn chậm, khiến việc khai thác dữ liệu dân cư để tự động hóa quy trình vẫn bị “đứt đoạn” ở các khâu cần dữ liệu chuyên ngành (đất đai, hộ tịch, y tế, giáo dục…)10. Ở một số địa phương, quá trình làm sạch vẫn đòi hỏi nhân lực lớn và phối hợp cơ sở, chẳng hạn: Hà Nội thống kê nhiều nhóm tác vụ làm sạch/cập nhật (bổ sung CMND 9 số, cập nhật lịch sử cư trú, cập nhật thông tin còn thiếu…), phản ánh tính chất “công vụ dữ liệu” còn nặng thủ công ở một số khâu11.

3.2. Cung cấp “neo tin cậy” định danh và xác thực điện tử (VNeID)

Về định danh – xác thực, lực lượng Công an nhân dân giữ vai trò then chốt. Trên Cổng dịch vụ công Quốc gia, quy trình cấp tài khoản định danh điện tử mức 2/căn cước điện tử đã thể hiện rõ việc cán bộ tiếp nhận thực hiện xác thực ảnh khuôn mặt, vân tay với cơ sở dữ liệu căn cước, qua đó, tạo “neo tin cậy” cho mọi giao dịch số phát sinh từ tài khoản định danh12. Quá trình thực hiện Đề án 06 đã ghi nhận kích hoạt 64 triệu tài khoản định danh điện tử mức độ 2 trên VNeID—một quy mô đủ lớn để VNeID trở thành “cửa vào” thực tế của nhiều dịch vụ số13. VNeID không chỉ là ứng dụng định danh, mà đang được gắn với nhiều bài toán quản trị: đối chiếu dữ liệu quy mô lớn trong lĩnh vực ngân hàng và triển khai chi trả an sinh qua kết nối tài khoản VNeID (thể hiện xu hướng “định danh gắn dòng chảy dữ liệu – dòng chảy dịch vụ”).

Bộ Công an đã triển khai cấp tài khoản định danh điện tử mức 2 cho người nước ngoài cư trú tại Việt Nam; dữ liệu phục vụ cấp gồm thông tin nhân thân, giấy tờ cư trú, ảnh chân dung và sinh trắc học. Quy trình thực hiện tại cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và cơ quan quản lý định danh/xác thực điện tử của Bộ Công an14. Điều này cho thấy, “neo tin cậy” đang được chuẩn hóa theo cùng nguyên tắc xác thực, phục vụ nhu cầu quản trị và dịch vụ công trong bối cảnh di động quốc tế tăng.

Tuy nhiên, trong báo cáo Đề án 06 cũng chỉ ra hạn chế gắn với dữ liệu và nền tảng khiến cung cấp dịch vụ công còn nhiều vướng mắc. Đồng thời, đặt yêu cầu rà soát quy trình nghiệp vụ để quy định việc sử dụng thông tin đã tích hợp trên VNeID thay thế bản giấy và quán triệt không yêu cầu người dân nộp lại giấy tờ khi dữ liệu đã có15.  Nói cách khác, VNeID đã có “neo tin cậy”, nhưng việc biến neo đó thành trải nghiệm “một lần khai báo – dùng nhiều lần” vẫn phụ thuộc mạnh vào kỷ luật quy trình của các cơ quan, mức độ tích hợp dữ liệu và chuẩn hóa dịch vụ ở từng lĩnh vực.

3.3. Bảo đảm an ninh dữ liệu – bảo vệ dữ liệu cá nhân – an ninh mạng

Bộ Công an thông tin rõ cơ quan chuyên trách bảo vệ dữ liệu cá nhân là Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Bộ Công an) có trách nhiệm giúp Bộ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ dữ liệu cá nhân, đồng thời, vận hành “Cổng thông tin quốc gia về bảo vệ dữ liệu cá nhân” với chức năng cung cấp thông tin, tiếp nhận phản ánh, cảnh báo nguy cơ và phối hợp xử lý vi phạm. Cơ sở pháp lý trực tiếp của hoạt động này là Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ về bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Việc xác định rõ đầu mối chuyên trách và quy định rõ cơ chế tiếp nhận, giám sát vi phạm đã giúp chuyển từ khuyến nghị đạo đức sang trách nhiệm pháp lý trong xử lý dữ liệu cá nhân, đây là điều kiện cần thiết để tăng niềm tin xã hội đối với các nền tảng dữ liệu dùng chung. Cùng với Luật An ninh mạng, Nghị định số 53/2022/NĐ-CP cũng đã hướng dẫn các biện pháp tổ chức triển khai các biện pháp bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu trong phạm vi điều chỉnh. Qua đó, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho nền tảng dữ liệu của Chính phủ số, nhất là khi dữ liệu được kết nối liên thông và khai thác qua nền tảng tích hợp, kéo theo mở rộng bề mặt tấn công và rủi ro lộ lọt nếu quản trị an ninh yếu.

3.4. Thúc đẩy liên thông – chia sẻ dữ liệu để hình thành nền tảng dùng chung

Thực tế, Bộ Công an đã triển khai kết nối/liên thông giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các hệ thống phục vụ dịch vụ công như Văn phòng Chính phủ; kết nối với Bộ Tư pháp để cấp số định danh cho trẻ em mới sinh; kết nối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam để xác thực thông tin người tham gia bảo hiểm và phối hợp bảo đảm kết nối đồng bộ với các cơ sở dữ liệu của bộ, ngành, địa phương16. Đến nay, bức tranh liên thông dữ liệu đã được phản ánh qua Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NDXP). Báo cáo kết quả chuyển đổi số quốc gia, NDXP đã thiết lập 388 điểm kết nối giữa hệ thống và cơ sở dữ liệu của 95 cơ quan/đơn vị với bình quân khoảng 2,8 triệu giao dịch/ngày17. Khi liên thông dữ liệu được vận hành theo nền tảng, vai trò của lực lượng công an được thể hiện ở chỗ: dữ liệu dân cư/căn cước không chỉ “cấp phát” một chiều, mà trở thành dịch vụ xác thực (verification) cho các quy trình liên thông, giúp giảm sai lệch định danh giữa các hệ thống và tăng độ tin cậy của kết quả xử lý hồ sơ. Đồng thời, liên thông tạo điều kiện cho mục tiêu không yêu cầu khai lại thông tin đã có trong giải quyết thủ tục hành chính, nhất là các thủ tục cần xác thực nhân thân.

Tuy nhiên, đánh giá khách quan về khía cạnh này, đến nay dù liên thông đã mở rộng, vẫn có hai điểm nghẽn lớn: (1) Dữ liệu chuyên ngành chưa đầy đủ/chuẩn hóa khiến liên thông chỉ dừng ở xác thực danh tính mà chưa thể tự động hóa toàn bộ chuỗi thủ tục; (2) “Điểm nghẽn nền tảng”: khảo sát được nêu trong báo cáo Đề án 06 cho thấy, nhiều bộ/ngành chưa xây dựng được các nền tảng dùng chung, làm gia tăng nguy cơ đầu tư phân tán và cản trở chia sẻ dữ liệu theo chuẩn thống nhất18. Vì vậy, dù lực lượng công an có vai trò thúc đẩy kết nối từ đầu mối xác thực, việc hình thành nền tảng dữ liệu dùng chung thực chất vẫn cần đồng bộ thể chế chia sẻ dữ liệu, chuẩn kỹ thuật và kỷ luật phối hợp liên ngành để khắc phục tình trạng “cát cứ dữ liệu” trong vận hành.

4. Giải pháp phát huy vai trò của lực lượng công an trong việc kiến tạo nền tảng dữ liệu cho chính phủ số

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, cơ chế điều phối và ràng buộc trách nhiệm giải trình dữ liệu nhằm khắc phục tình trạng “cát cứ dữ liệu”.

Một trong những điểm nghẽn nổi bật hiện nay là dữ liệu còn phân mảnh, cơ chế chia sẻ thiếu kỷ luật thực thi và trách nhiệm giải trình chưa đủ mạnh, dẫn tới tình trạng “có dữ liệu nhưng không dùng được” hoặc “kết nối có nhưng không thông suốt”. Vì vậy, thời gian tới, cần tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo theo hướng kỷ luật hóa quản trị dữ liệu: từ yêu cầu khuyến khích chia sẻ chuyển sang chia sẻ có trách nhiệm, có ràng buộc, có kiểm tra. Trọng tâm là tổ chức triển khai hiệu quả, thực chất Nghị định số 47/2020/NĐ-CP về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước, trong đó làm rõ trách nhiệm chủ quản dữ liệu, điều kiện chia sẻ, kiểm soát truy cập và nghĩa vụ phối hợp liên thông. Cùng với đó, cần cụ thể hóa tinh thần Công điện số 103/CĐ-TTg ngày 30/6/2025 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu thông suốt, hiệu quả, không gián đoạn, thành cơ chế điều hành theo chuỗi dịch vụ công (life-event services) và chỉ tiêu bắt buộc. Đặc biệt, Nghị quyết số 214/NQ-CP ngày 23/7/2025 của Chính phủ về ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ về thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện cần được triển khai quyết liệt hơn nhằm tạo lập, làm sạch, chuẩn hóa, mở rộng chia sẻ, giám sát chất lượng, tránh tình trạng đầu tư hệ thống nhưng thiếu dữ liệu vận hành.

Riêng với ngành, Bộ Công an cần phát huy vai trò đầu mối ở dữ liệu nền và định danh số theo Đề án 06, đồng thời chủ động tham mưu cơ chế phối hợp liên ngành để nêu cao trách nhiệm khi phát hiện bất nhất dữ liệu, bảo đảm dữ liệu nền có thể được tái sử dụng hợp pháp trong giải quyết thủ tục hành chính. Cùng với đó, cần gắn trách nhiệm người đứng đầu bộ/ngành/địa phương đối với kết quả liên thông dữ liệu và chất lượng dịch vụ công, đảm bảo đúng định hướng lấy người dân làm trung tâm trong Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số.

Thứ hai, nâng cao chất lượng dữ liệu gốc theo mô hình “làm sạch liên tục”, đồng bộ theo vòng đời công dân.

Dữ liệu gốc tin cậy là điều kiện quan trọng để Chính phủ số vận hành theo hướng giảm giấy tờ, giảm khai báo lại, nhưng thực tiễn cho thấy dữ liệu vẫn còn thiếu, sai lệch cục bộ, cập nhật chưa đồng đều giữa các địa bàn và chưa được cập nhật kịp thời khi phát sinh biến động nhân thân. Để khắc phục, Nhà nước cần ưu tiên nguồn lực và cơ chế tổ chức thực thi Luật Căn cước năm 2023 và Nghị định số 70/2024/NĐ-CP theo hướng biến quy định pháp lý thành kỷ luật dữ liệu: chuẩn hóa trường dữ liệu, quy tắc cập nhật, quy trình khai thác và đồng bộ dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Cơ sở dữ liệu căn cước. Công điện số 103/CĐ-TTg đã nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện, làm sạch, bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung” và đồng bộ dữ liệu về Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để cắt giảm thủ tục hành chính. Do đó, cần triển khai như một nhiệm vụ thường xuyên (không phải chiến dịch ngắn hạn), gắn với kiểm tra định kỳ và công cụ đo lường chất lượng dữ liệu.

Đối với ngành Công an, cần tiếp tục chuẩn hóa nghiệp vụ dữ liệu từ cấp cơ sở: quy trình rà soát, đối soát, xử lý trùng/thiếu; cơ chế phối hợp với tư pháp – hộ tịch, bảo hiểm, thuế… để xử lý bất nhất nhanh. Hệ thống giám sát chất lượng dữ liệu theo địa bàn để giảm chênh lệch năng lực địa phương. Những điểm nghẽn dữ liệu rời rạc, phân mảnh đã được phản ánh trong sơ kết 6 tháng đầu năm 2025 của Đề án 06, cho thấy yêu cầu cấp bách là không chỉ mở rộng quy mô dữ liệu mà phải nâng cao độ tin cậy của dữ liệu nền khi đưa vào vận hành liên thông. Đồng thời, cần bảo đảm dữ liệu nền được cập nhật theo sự kiện đời sống của công dân (sinh – cư trú – hôn nhân – lao động – an sinh…) để các cơ quan có thể tái sử dụng dữ liệu hợp pháp, giảm yêu cầu nộp giấy tờ bản sao, đúng tinh thần cải cách thủ tục hành chính của Đề án 06.

Thứ ba, bảo đảm chuẩn dữ liệu, chuẩn API và quản trị vận hành qua nền tảng tích hợp dùng chung.

Chính phủ cần thúc đẩy triển khai Nghị định số 47/2020/NĐ-CP theo chiều sâu: chuyển từ có quy định chia sẻ sang chia sẻ theo chuẩn với bộ tiêu chuẩn tối thiểu về cấu trúc dữ liệu, định danh, API, nhật ký giao dịch và cơ chế cấp quyền. Công điện số 103/CĐ-TTg đã yêu cầu bảo đảm kết nối liên tục, đồng bộ và tránh đầu tư trùng lặp, do đó cần được cụ thể hóa bằng kiến trúc tích hợp thống nhất, ưu tiên dùng nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia để giảm kết nối điểm – điểm. Thực tiễn vận hành NDXP cho thấy, nền tảng này đã thiết lập 388 điểm kết nối giữa hệ thống/CSDL của 95 cơ quan, với bình quân khoảng 2,8 triệu giao dịch/ngày. Đây là con số đủ lớn để chuyển trọng tâm quản trị từ mở rộng kết nối sang chuẩn hóa chất lượng và an toàn giao dịch19.

Để phát huy vai trò kiến tạo nền tảng, ngành Công an cần ưu tiên chuẩn hóa các dịch vụ dùng chung gắn với dữ liệu nền và định danh: cung cấp API xác thực/đối soát danh tính theo chuẩn thống nhất, giảm tình trạng mỗi hệ thống xác thực theo cách riêng. Cùng với đó, bảo đảm kết nối định danh – xác thực điện tử được thực hiện đúng khuôn khổ pháp lý của Nghị định số 69/2024/NĐ-CP. Trên thực tế, quy trình nghiệp vụ cấp tài khoản định danh mức độ 02 trên Cổng dịch vụ công quốc gia đã cho thấy vai trò xác thực sinh trắc và đối chiếu dữ liệu căn cước. Quy trình này cần được chuẩn hóa thành dịch vụ tin cậy để các dịch vụ công liên thông tái sử dụng. Qua đó, từng bước thiết kế liên thông theo chuỗi dịch vụ thay vì theo cơ quan, khi đó dữ liệu dân cư và định danh do công an quản trị sẽ phát huy đúng vai trò “điểm neo”, còn dữ liệu chuyên ngành sẽ được kết nối qua nền tảng dùng chung, giảm phân mảnh và nâng cao khả năng mở rộng.

Thứ tư, củng cố “niềm tin cậy số” theo nguyên tắc an toàn và quyền riêng tư ngay từ khâu thiết kế.

Đảng và Nhà nước cần chỉ đạo triển khai đồng bộ việc bảo vệ dữ liệu cá nhân và an ninh mạng. Nghị định số 13/2023/NĐ-CP đã xác lập nguyên tắc và nghĩa vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân. Thời gian tới, cần chuyển hóa thành cơ chế tuân thủ vận hành: tối thiểu hóa dữ liệu, giới hạn mục đích, kiểm soát truy cập, lưu vết, kiểm tra định kỳ và xử lý vi phạm. Về an ninh mạng, Luật An ninh mạng và Nghị định số 53/2022/NĐ-CP đã tạo khung khổ pháp lý yêu cầu bảo vệ hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu và trách nhiệm tổ chức thực thi nên sắp tới cần được áp dụng nhất quán đối với các nền tảng dữ liệu trọng yếu của Chính phủ số (dữ liệu dân cư/căn cước, định danh–xác thực, nền tảng tích hợp dữ liệu, hệ thống giải quyết thủ tục hành chính).

Với ngành Công an, yêu cầu không chỉ là bảo vệ hệ thống của mình mà còn là phát huy vai trò nòng cốt trong tổ chức thực thi để củng cố “niềm tin số” thông qua việc: xây dựng cơ chế cảnh báo sớm và ứng phó sự cố; hướng dẫn chuẩn kiểm soát truy cập và phân quyền khi các bộ, ngành, địa phương khai thác dữ liệu dân cư và định danh. Cùng với đó, tăng cường kiểm tra tuân thủ bảo vệ dữ liệu cá nhân trong các quy trình tích hợp dữ liệu vào dịch vụ công. Triển khai đồng thời việc: chuẩn hóa kiểm soát truy cập và lưu vết giao dịch dữ liệu; công khai cơ chế xử lý phản ánh, sự cố liên quan dữ liệu để củng cố niềm tin; tích hợp đánh giá rủi ro và tuân thủ ngay từ khâu thiết kế dịch vụ công liên thông theo đúng tinh thần “không gián đoạn” nhưng phải an toàn, hiệu quả trong chỉ đạo điều hành về kết nối dữ liệu.

Thứ năm, phát triển năng lực thực thi và kỷ luật quy trình ở tuyến cơ sở để cơ chế “dữ liệu thay giấy” tờ trở thành tiêu chuẩn phục vụ.

Thời gian tới, cần chuyển trọng tâm từ triển khai công nghệ sang chuẩn hóa vận hành. Theo đó, ban hành và giám sát thực thi quy trình dịch vụ công theo hướng ưu tiên tái sử dụng dữ liệu đã có; đồng thời, gắn chỉ tiêu không yêu cầu công dân cung cấp lại thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu vào đánh giá chất lượng phục vụ. Định hướng phát triển Chính phủ số và chuyển đổi số quốc gia đã nhấn mạnh lấy người dân làm trung tâm, phát triển nền tảng dùng chung và nhân lực số. Vì vậy, cần đầu tư mạnh cho năng lực thực thi ở tuyến cơ sở theo các mục tiêu của Chương trình Chuyển đổi số quốc gia và Chiến lược phát triển chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số.

Với lực lượng Công an, để nâng cao chất lượng phục vụ cần tăng cường đào tạo kỹ năng làm sạch/cập nhật dữ liệu, kỹ năng hỗ trợ người dân sử dụng định danh số và kỹ năng phối hợp xử lý sai lệch dữ liệu liên ngành theo cơ chế một cửa liên thông. Đồng thời, cần mở rộng mô hình hỗ trợ triển khai Đề án 06 tại địa phương theo hướng có đầu mối kỹ thuật – nghiệp vụ thường trực, kịp thời gỡ vướng cho cơ sở khi dữ liệu không khớp hoặc dịch vụ liên thông bị đứt đoạn. Đặc biệt, quy trình nghiệp vụ cấp/đăng ký định danh mức độ 2 đã được chuẩn hóa trên Cổng dịch vụ công quốc gia, các địa phương cần bám sát quy trình này để bảo đảm thống nhất, giảm biến tướng thủ tục và giảm yêu cầu giấy tờ phát sinh. Cùng với đó, bảo đảm kỷ luật quy trình ở ngay cấp cơ sở cần phải được xem là ưu tiên quản trị nhằm biến kết quả (mở rộng VNeID) thành hiệu quả sử dụng thực chất trong giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công.

5. Kết luận

Trong tiến trình xây dựng chính phủ số ở Việt Nam, nền tảng dữ liệu tin cậy là điều kiện quyết định để dịch vụ công vận hành liền mạch, quản trị dựa trên dữ liệu và nâng cao chất lượng phục vụ công dân. Thực tế, trong thời gian qua, lực lượng công an nhân dân giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc kiến tạo nền tảng đó, bởi đây là chủ thể nòng cốt vừa quản trị dữ liệu gốc dân cư/căn cước giúp chuẩn hóa hồ sơ số, vừa tổ chức định danh và xác thực điện tử phục vụ các giao dịch số và dịch vụ công trực tuyến. Đồng thời, với chức năng bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân, lực lượng công an đã góp phần thiết lập “niềm tin số” – yếu tố để người dân, doanh nghiệp sẵn sàng tham gia hệ sinh thái dịch vụ số. Trên cơ sở đó, lực lượng công an cũng là tác nhân thúc đẩy liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ sở dữ liệu, giúp giảm khai báo lặp, hạn chế giấy tờ và tăng hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính.

Chú thích:
1. Nghị quyết Đại hội XIV: Đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. https://vov.vn/chinh-tri/nghi-quyet-dai-hoi-xiv-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-lam-dong-luc-chinh-post1264046.vov
2, 6. The OECD digital government policy framework. https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2020/10/the-oecd-digital-government-policy-framework_11dd6aa8/f64fed2a-en.pdf
3. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình chuyển đối số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
4. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030.
5. Chính phủ (2020). Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020 về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước.
7, 12. Thủ tục hành chính mới. https://dichvucong.gov.vn/p/home/dvc-chi-tiet-thu-tuc-hanh-chinh.html?ma_thu_tuc=3.000227
8, 16. Hành chính xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư – “trái tim của chính phủ số” (kỳ 3). https://bocongan.gov.vn/bai-viet/hanh-trinh-xay-dung-co-so-du-lieu-quoc-gia-ve-dan-cu—trai-tim-cua-chinh-phu-so-ky-3-d2-t30890
9. Một số giải pháp đột phá về chuyển đổi số hướng tới nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại trong bối cảnh mới. https://tcnn.vn/news/detail/68467/Mot-so-giai-phap-dot-pha-ve-chuyen-doi-so-huong-toi-nen-hanh-chinh-chuyen-nghiep-hien-dai-trong-boi-canh-moi.html
10, 13, 15, 18. Đề án 06: 10 kết quả nổi bật và 3 điểm nghẽn cần gỡ sớm. https://baochinhphu.vn/de-an-06-10-ket-qua-noi-bat-va-3-diem-nghen-can-go-som-102250720112748972.htm
11. Gần 556 triệu tài khoản định danh điện tử mức độ 1 và 2 đã được kích hoạt. https://thanglong.chinhphu.vn/gan-556-trieu-tai-khoan-dinh-danh-dien-tu-muc-do-1-va-2-da-duoc-kich-hoat-103240821145732393.htm
14. Định danh điện tử mức độ 2 cho người nước ngoài: Thuận lợi, an toàn, nhanh chóng. https://baochinhphu.vn/dinh-danh-dien-tu-muc-do-2-cho-nguoi-nuoc-ngoai-thuan-loi-an-toan-nhanh-chong-102250701145924774.htm
17, 19. Mỗi ngày có khoảng 28 triệu giao dịch được thực hiện thông qua Nền tảng tích hợp chia sẻ dữ liệu quốc gia. https://tcnn.vn/news/detail/64851/Moi-ngay-co-khoang-28-trieu-giao-dich-duoc-thuc-hien-thong-qua-Nen-tang-tich-hop-chia-se-du-lieu-quoc-gia-%28NDXP%29.html
Tài liệu tham khảo:
1. Quốc hội (2018). Luật An ninh mạng năm 2018.
2. Quốc hội (2023). Luật Căn cước năm 2023.
3. Quốc hội (2024). Luật Dữ liệu năm 2024.
4. Quốc hội (2023). Luật Giao dịch điện tử năm 2023.
5. Đề án 06 và ứng dụng khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, định danh điện tử để phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/10/12/de-an-06-va-ung-dung-khai-thac-co-so-du-lieu-quoc-gia-ve-dan-cu-dinh-danh-dien-tu-de-phuc-vu-phat-trien-kinh-te-xa-hoi/
6. Một số vấn đề và kiến nghị hoàn thiện trong việc tích hợp thông tin cá nhân vào cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. https://tapchitoaan.vn/mot-so-van-de-va-kien-nghi-hoan-thien-trong-viec-tich-hop-thong-tin-ca-nhan-vao-co-so-du-lieu-quoc-gia-ve-dan-cu12851.html
7. The OECD Digital Government Policy Framework: Six dimensions of a Digital Government. https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2020/10/the-oecd-digital-government-policy-framework_11dd6aa8/f64fed2a-en.pdf.
8. Identification for Development: Strategic Framework (January 25, 2016). https://thedocs.worldbank.org/en/doc/21571460567481655-0190022016/render/April2016ID4DStrategicRoadmapID4D.pdf.