Accelerating the implementation of capital construction projects funded by the state budget in Ho Chi Minh City
Nguyễn Xuân Tùng
NCS Học viện Hành chính và Quản trị công
(Quanlynhanuoc.vn) – Tiến độ thực hiện các dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước là chỉ báo trực tiếp phản ánh hiệu quả quản lý đầu tư công. Tình trạng chậm tiến độ các dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước tại TP. Hồ Chí Minh diễn ra ở nhiều dự án hạ tầng trọng điểm, đặc biệt là lĩnh vực giao thông và hạ tầng đô thị. Trong bối cảnh Thành phố mở rộng không gian đô thị, quy mô dự án ngày càng lớn và tính chất ngày càng phức tạp, việc nhận diện rõ các vấn đề cốt lõi gây chậm tiến độ và đề xuất giải pháp quản lý phù hợp trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư công và sử dụng vốn ngân sách nhà nước.
Từ khóa: Tiến độ; đầu tư xây dựng cơ bản; TP. Hồ Chí Minh; ngân sách nhà nước.
Abstract: The progress of capital construction projects funded by the state budget is a direct indicator of the effectiveness of public investment management. Delays in capital construction projects funded by the state budget in Ho Chi Minh City are occurring in many key infrastructure projects, particularly in the transportation and urban infrastructure sectors. As the city expands its urban space, with project scales growing larger and their nature becoming increasingly complex, clearly identifying the core issues causing delays and proposing appropriate management solutions have become an urgent requirement to enhance the effectiveness of public investment and the use of state budget funds.
Keywords: Progress; public investment construction; Ho Chi Minh City; state budget.
1. Đặt vấn đề
Quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước giữ vai trò quan trọng trong thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội. Tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản không chỉ quyết định hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước mà còn tác động lan tỏa đến tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và phát triển hạ tầng. Tuy nhiên, thực tiễn tại TP. Hồ Chí Minh cho thấy, tiến độ triển khai dự án và giải ngân vốn đầu tư công còn chậm so với kế hoạch.
Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh, đến ngày 31/12/2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công mới đạt 61% kế hoạch1, phản ánh rõ những hạn chế trong quản lý tiến độ thực hiện các dự án đầu tư xây dựng cơ bản. Thực trạng này làm suy giảm hiệu quả đầu tư, gia tăng chi phí và ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước. Bài viết tập trung phân tích thực trạng, nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục tình trạng chậm tiến độ các dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước tại TP. Hồ Chí Minh.
2. Thực trạng chậm tiến độ thực hiện các dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước tại TP. Hồ Chí Minh
Chậm tiến độ thực hiện dự án được hiểu là tình trạng thời gian thực hiện dự án kéo dài vượt quá mốc thời gian đã được thống nhất và quy định trong hợp đồng ký kết giữa các bên có liên quan2. Đây là một trong những vấn đề trọng tâm của quản lý dự án xây dựng và luôn được các chủ thể tham gia đặc biệt quan tâm, theo dõi và kiểm soát xuyên suốt toàn bộ vòng đời dự án, từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư cho đến khi dự án hoàn thành và đưa vào khai thác, sử dụng. Chậm tiến độ không chỉ kéo dài thời gian thực hiện dự án mà còn trực tiếp làm gia tăng chi phí đầu tư, phát sinh chi phí cơ hội và suy giảm hiệu quả kinh tế – xã hội.
Tình trạng chậm tiến độ trong triển khai các dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước tại TP. Hồ Chí Minh thời gian qua là một vấn đề nghiêm trọng, diễn ra phổ biến và có tính hệ thống.
Bảng 1. Số dự án đầu tư đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước
tại TP. Hồ Chí Minh phải điều chỉnh và chậm tiến độ
Đơn vị tính: %
| Nội dung | Năm 2021 | Năm 2022 | Năm 2023 | Năm 2024 | Năm 2025 |
| Tỷ lệ phải điều chỉnh | 68% | 57% | 64% | 61% | 63% |
| Tỷ lệ chậm tiến độ | 65% | 54% | 51% | 56% | 61% |
Số liệu trên cho thấy, tỷ lệ dự án phải điều chỉnh và chậm tiến độ tại TP. Hồ Chí Minh luôn ở mức cao trong suốt giai đoạn 2021 – 2025, với tỷ lệ dự án phải điều chỉnh dao động từ 57 – 68%, tỷ lệ dự án chậm tiến độ dao động từ 51 – 65%. Điều này phản ánh việc điều chỉnh dự án và chậm tiến độ không phải là hiện tượng cá biệt mà đã trở thành đặc điểm phổ biến trong quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước tại Thành phố.
Đặc biệt, năm 2025, tỷ lệ dự án phải điều chỉnh tiếp tục ở mức cao (63%) và tỷ lệ dự án chậm tiến độ tăng trở lại lên 61% cho thấy, mặc dù Thành phố đã có nhiều chỉ đạo quyết liệt trong công tác đẩy nhanh giải ngân và tháo gỡ vướng mắc đầu tư công, song các điểm nghẽn mang tính cấu trúc trong chuẩn bị dự án, giải phóng mặt bằng, điều phối nguồn vốn và phối hợp liên ngành vẫn chưa được khắc phục triệt để. So với năm 2024, tỷ lệ chậm tiến độ năm 2025 tăng 5 điểm phần trăm, phản ánh áp lực gia tăng trong bối cảnh Thành phố triển khai nhiều dự án quy mô lớn, phức tạp và có phạm vi tác động rộng.
Việc hàng trăm dự án chậm tiến độ qua từng năm không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công mà còn gây ra nhiều hệ lụy tiêu cực cho phát triển kinh tế – xã hội, quản lý đô thị và đời sống người dân. Đặc biệt, trong các dự án trọng điểm, tỷ lệ chậm tiến độ lên tới hơn 60% (năm 2023, trong 26 dự án trọng điểm được giám sát, có 16 dự án chậm tiến độ), như: Dự án nút giao An Phú và cải tạo kênh Tham Lương – Bến Cát liên tục chậm tiến độ, đến nay nút giao An Phú mới chỉ đạt 68% tiến độ, tăng 13% so với tháng 9/20243; nút giao Mỹ Thủy khởi công từ năm 2016, đến tháng 9/2025 mới đạt khoảng 39% tiến độ, hoặc dự án đoạn nối Phạm Văn Đồng – Gò Dưa (thuộc đoạn 3 của dự án đường vành đai 2), phường Tam Bình đã chậm tiến độ 6 năm và hiện vẫn chưa thi công lại; Dự án xây dựng 4 tuyến đường chính trong Khu đô thị mới Thủ Thiêm, sau hơn 10 năm thi công (bắt đầu từ năm 2014), tiến độ mới chỉ đạt khoảng 88% khối lượng thi công; Dự án Vành đai 3, đến năm 2025 đạt khoảng 50% khối lượng, mục tiêu thông xe toàn tuyến vào tháng 6/2026, nhưng hiện nay dự án thiếu cát đắp nền, do đó, Thành phố phải lập “luồng xanh” đường thủy, huy động mỏ cát liên tỉnh để gỡ cung ứng; Dự án Metro số 2 (Bến Thành – Tham Lương) di dời hạ tầng đạt gần 60%, hiện tại dự án bị vướng lớn là thi công đô thị chật hẹp, xung đột công trình ngầm đa sở hữu; Dự án chống ngập 10.000 tỷ đồng (Trung Nam) sau nhiều năm đình trệ, Thành phố yêu cầu gỡ xong thủ tục trong 10/2025, đặt mục tiêu đưa vào sử dụng năm 2026; Dự án Rạch Xuyên Tâm đã triển khai nhưng chậm cục bộ do vướng gần 50 hộ chưa di dời, thành phố đã khởi công 860 căn tái định cư để gỡ mặt bằng, dự án là “điển hình” tiến độ bị treo bởi giải phóng mặt bằng và chuẩn bị tái định cư4.
Thực trạng chậm tiến độ và phải điều chỉnh dự án phản ánh rõ những hạn chế trong công tác chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng, điều phối và bố trí vốn, năng lực của chủ đầu tư cũng như cơ chế phối hợp giữa các cấp, các ngành. Hệ quả là quá trình hoàn thiện hệ thống hạ tầng đô thị bị kéo dài, làm chậm việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, gây lãng phí lớn nguồn lực tài chính công và ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng chậm tiến độ thực hiện các dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước tại TP. Hồ Chí Minh gồm các nhân tố sau:
Thứ nhất, nhóm nhân tố liên quan đến chủ đầu tư là các sở chuyên ngành và Ủy ban nhân dân các cấp hoặc Ban Quản lý dự án trực thuộc. Nguyên nhân này chủ yếu đến từ năng lực quản lý yếu kém của bộ phận được giao quản lý dự án như thường xuyên thay đổi ý kiến trong quá trình thực hiện đầu tư, ký quá nhiều hợp đồng phụ, đặt giá mời thầu theo hướng thấp, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng kéo dài.
Thứ hai, các nhân tố liên quan đến thể chế, chính sách, như: thiếu sự đồng bộ của hệ thống pháp luật (mức độ thống nhất giữa Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Đấu thầu, Luật Ngân sách nhà nước; tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn hoặc khoảng trống pháp lý khi áp dụng đồng thời nhiều luật; sự thay đổi, điều chỉnh văn bản pháp luật trong quá trình triển khai dự án); thiếu các quy định về trình tự, thủ tục: thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh dự án…
Thứ ba, nhóm nhân tố liên quan đến nhà thầu, chủ yếu từ năng lực nhà thầu thi công, trong đó phổ biến nhất là khó khăn về tài chính và tổ chức thi công yếu kém. Nhiều nhà thầu trúng thầu nhưng phụ thuộc lớn vào vốn tạm ứng và thanh toán, khi giải ngân chậm thì không duy trì được dòng tiền dẫn đến đình trệ thi công. Bên cạnh đó, biện pháp tổ chức thi công thiếu tính khả thi, không cập nhật điều kiện thi công đô thị phức tạp của Thành phố, không lập hoặc không tuân thủ tiến độ thi công chi tiết, làm gia tăng tình trạng chậm tiến độ dây chuyền giữa các gói thầu.
Thứ tư, nhóm nhân tố liên quan đến tư vấn, chủ yếu là do hạn chế về năng lực, thiếu tính linh hoạt trong xử lý công việc, từ việc thiết kế dự toán, tổng mức đầu tư cho đến dự trù các khoản phát sinh (nếu có).
Thứ năm, nhóm nhân tố liên quan đến tác động ngoại vi, bao gồm: lạm phát; nhà thầu; dịch bệnh… giá vật tư xây dựng trượt giá làm cho chi phí của dự án tăng lên hay tại những nơi mà việc giải phóng mặt bằng gặp khó khăn thì tình trạng chậm tiến độ giải ngân vốn đầu tư sẽ cao hơn. Giai đoạn 2021 – 2024, Thành phố chịu tác động mạnh của lạm phát, biến động giá vật liệu xây dựng và dịch bệnh Covid-19 khiến nhiều dự án phải điều chỉnh tiến độ và tổng mức đầu tư. Theo các công bố giá vật liệu xây dựng trên địa bàn của Sở Xây dựng, giá thép xây dựng và các vật liệu khác tăng đáng kể theo thời gian. Thống kê từ Bộ Xây dựng và chỉ số giá xây dựng của Thành phố cho thấy, trong giai đoạn 2023 – 2025, giá thép xây dựng tăng khoảng 12 – 15% so với cùng kỳ các năm trước, trong khi giá cát xây dựng tại một số khu vực tăng trên 20% – 50%, khiến chi phí đầu vào của nhiều dự án đội lên và làm chậm tiến độ thi công hoặc buộc phải điều chỉnh kế hoạch thực hiện5.
3. Một số giải pháp
Một là, nâng cao năng lực quản lý tiến độ của từng cấp chính quyền trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, bảo đảm phân định rành mạch thẩm quyền, trách nhiệm và vai trò điều phối của từng cấp. Việc phân công phải được thể chế hóa bằng quy trình quản lý tiến độ thống nhất, tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm hoặc chồng chéo trong điều hành dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước. Thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ, kịp thời tháo gỡ các khó khăn liên quan đến thủ tục pháp lý, giải phóng mặt bằng, điều chỉnh dự án và bố trí vốn, tránh để vướng mắc kéo dài làm gián đoạn tiến độ thi công.
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tham gia quản lý tiến độ dự án đầu tư xây dựng cơ bản. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng chuyên sâu về quản lý dự án, quản lý tiến độ, quản lý rủi ro và điều phối liên ngành, thay vì chỉ trang bị kiến thức hành chính – pháp lý thuần túy. Đối với các dự án quy mô lớn, phức tạp, cần bố trí cán bộ có năng lực thực tiễn, kinh nghiệm quản lý dự án và khả năng phối hợp đa ngành, bảo đảm quá trình triển khai không bị gián đoạn.
Đổi mới phương thức quản lý tiến độ theo hướng chủ động, dự báo và kiểm soát rủi ro. Cơ quan nhà nước không chỉ theo dõi tiến độ mang tính hình thức thông qua báo cáo định kỳ mà cần xây dựng cơ chế giám sát tiến độ thực chất, gắn với các mốc kiểm soát cụ thể trong từng giai đoạn của dự án. Việc đánh giá tiến độ phải đi kèm với phân tích nguyên nhân chậm trễ và xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể liên quan, coi kết quả thực hiện tiến độ là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản.
Gắn trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả quản lý tiến độ dự án đầu tư xây dựng cơ bản. Việc hoàn thành hoặc không hoàn thành tiến độ dự án cần được xem là một tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan quản lý và người đứng đầu. Cơ chế trách nhiệm rõ ràng sẽ tạo động lực nâng cao tính chủ động, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành; đồng thời, góp phần khắc phục tình trạng chậm tiến độ kéo dài, gây lãng phí nguồn lực ngân sách nhà nước.
Hai là, tăng cường năng lực quản lý tiến độ của chủ đầu tư.
Chuẩn hóa năng lực của chủ đầu tư theo hướng chuyên nghiệp, chuyên ngành, thay vì giao nhiệm vụ mang tính hành chính. Tổ chức bộ máy quản lý dự án cần được thiết kế phù hợp với tính chất từng loại dự án, bảo đảm phân công rõ trách nhiệm về quản lý tiến độ, kỹ thuật, tài chính, hợp đồng và giải phóng mặt bằng.
Về nguồn lực, chủ đầu tư phải đánh giá đúng năng lực tài chính, nhân sự và kỹ thuật trước khi triển khai dự án, tránh tình trạng khởi công khi chưa bảo đảm điều kiện thực hiện dẫn đến chậm tiến độ kéo dài. Công tác quản lý kỹ thuật cần được tổ chức theo hướng chuyên trách, kiểm soát chặt chẽ hồ sơ thiết kế, khối lượng, thanh toán và an toàn lao động nhằm hạn chế phát sinh gây kéo dài thời gian thực hiện dự án. Thiết lập cơ chế giao ban định kỳ về tiến độ giữa chủ đầu tư, Ban quản lý dự án và các nhà thầu là yêu cầu bắt buộc đối với các dự án lớn, phức tạp.
Nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư thông qua cơ chế đãi ngộ và chế tài tài chính gắn với tiến độ thực hiện dự án. Đổi mới cách tiếp cận trách nhiệm của chủ đầu tư theo hướng gắn chặt trách nhiệm quản lý tiến độ với cơ chế tài chính cụ thể, bao gồm cả cơ chế khuyến khích và cơ chế ràng buộc.
Ba là, nâng cao chất lượng và trách nhiệm của các đơn vị tư vấn.
Thành phố cần siết chặt yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm và đạo đức nghề nghiệp của các đơn vị tư vấn; đồng thời, gắn trách nhiệm của tư vấn với tiến độ và chất lượng hồ sơ. Việc lựa chọn tư vấn không chỉ dựa trên điều kiện pháp lý tối thiểu mà cần xem xét kỹ năng lực thực tế, kinh nghiệm tương tự và khả năng phối hợp trong quá trình triển khai dự án.
Bổ sung cơ chế ràng buộc hậu kiểm năng lực tư vấn gắn với kết quả thực hiện dự án theo hướng: sau khi dự án hoặc hạng mục công trình hoàn thành, chủ đầu tư phải có văn bản đánh giá, xác nhận chất lượng công tác tư vấn đối với từng tổ chức và cá nhân tư vấn tham gia dự án. Các văn bản xác nhận này được đưa vào hồ sơ năng lực bắt buộc của nhà thầu tư vấn trong các lần tham dự đấu thầu tiếp theo và được sử dụng như một tiêu chí quan trọng khi chấm điểm kỹ thuật. Bên cạnh đó, tăng cường phối hợp giữa tư vấn thiết kế, tư vấn thẩm tra và chủ đầu tư ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư nhằm hạn chế sai sót, phát sinh và điều chỉnh thiết kế trong giai đoạn thi công – nguyên nhân phổ biến dẫn đến chậm tiến độ thực hiện dự án tại TP. Hồ Chí Minh.
Bốn là, hoàn thiện cơ chế kiểm soát năng lực và trách nhiệm của nhà thầu.
Năng lực của nhà thầu thi công là yếu tố quyết định trực tiếp đến tiến độ, chất lượng và hiệu quả thực hiện các dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước. Do đó, việc kiểm soát năng lực nhà thầu cần được thực hiện chặt chẽ ngay từ khâu lựa chọn nhằm khắc phục tình trạng nhà thầu trúng thầu nhưng không bảo đảm đủ nguồn lực triển khai dẫn đến chậm tiến độ và phát sinh chi phí.
Trong giai đoạn lựa chọn nhà thầu, việc đánh giá năng lực không chỉ dừng ở hồ sơ kê khai mà phải gắn với kết quả thực hiện các dự án đã và đang triển khai, đặc biệt là các tiêu chí về tiến độ, chất lượng công trình và mức độ tuân thủ hợp đồng. Để kiểm tra kinh nghiệm thực tế của nhà thầu, bên mời thầu cần yêu cầu văn bản xác nhận của chủ đầu tư các dự án mà nhà thầu đã tham gia, trong đó nêu rõ tình trạng hoàn thành tiến độ, chất lượng và việc chấp hành nghĩa vụ hợp đồng.
Trong quá trình thi công, chủ đầu tư và cơ quan quản lý cần tăng cường giám sát việc huy động nhân lực, máy móc, thiết bị và nguồn vốn của nhà thầu tại hiện trường, bảo đảm đúng các cam kết đã nêu trong hồ sơ dự thầu và hợp đồng ký kết. Trường hợp nhà thầu vi phạm nghiêm trọng tiến độ do lỗi chủ quan, cần kiên quyết áp dụng các chế tài hợp đồng, bao gồm: phạt vi phạm tiến độ, yêu cầu khắc phục trong thời hạn nhất định hoặc thay thế nhà thầu khi không còn khả năng đáp ứng yêu cầu thực hiện dự án.
Năm là, xây dựng khung quản lý và kiểm soát tiến độ mang tính hệ thống.

Trên cơ sở đặc thù của TP. Hồ Chí Minh, cần xây dựng khung quản lý và kiểm soát tiến độ thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ bản theo toàn bộ vòng đời dự án, từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư đến kết thúc đầu tư và đưa vào sử dụng. Khung quản lý này giúp xác định rõ vai trò, trách nhiệm và mối quan hệ phối hợp giữa các chủ thể trong từng giai đoạn; đồng thời, làm cơ sở nhận diện sớm các rủi ro chậm tiến độ. Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu nâng cao năng lực quản lý và kiểm soát tiến độ của chính quyền địa phương hai cấp, đặc biệt trong bối cảnh TP. Hồ Chí Minh có quy mô đầu tư công lớn, nhiều dự án triển khai song song và mức độ phụ thuộc lẫn nhau cao.
Sáu là, xác định hiệu quả, thiệt hại kinh tế khi thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước vượt hoặc chậm tiến độ.
Về bản chất kinh tế, tiến độ thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ bản có mối quan hệ trực tiếp với mức độ ứ đọng vốn đầu tư và khả năng phát huy hiệu quả của đồng vốn ngân sách nhà nước. Thời gian xây dựng càng kéo dài thì lượng vốn đầu tư bị “giam giữ” trong quá trình thi công càng lớn, làm gia tăng chi phí cơ hội, kéo dài thời gian thu hồi vốn và làm suy giảm hiệu quả đầu tư; ngược lại, việc rút ngắn thời gian xây dựng sẽ góp phần hạn chế vốn ứ đọng và đẩy nhanh quá trình tạo ra các lợi ích kinh tế – xã hội của dự án. Do đó, bên cạnh việc hoàn thiện quy trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát tiến độ, việc thiết lập và thực thi các chế tài kinh tế – pháp lý đủ mạnh đối với hành vi chậm tiến độ, đặc biệt là chậm bàn giao công trình đã đủ điều kiện đưa vào sử dụng có ý nghĩa quyết định đối với việc bảo đảm kỷ luật tiến độ và hiệu quả đầu tư. Thành phố cũng cần quán triệt và áp dụng nghiêm các quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ, trong đó chủ đầu tư chậm bàn giao công trình phải bồi thường toàn bộ thiệt hại phát sinh và chịu chế tài phạt vi phạm theo hợp đồng; đồng thời, xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định số 16/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ đối với các hành vi bàn giao chậm, không đầy đủ hồ sơ hoặc không bảo đảm điều kiện đưa công trình vào sử dụng. Các chế tài này cần được áp dụng theo hướng đủ mạnh, đủ rõ và có khả năng răn đe thực chất, buộc chủ đầu tư phải tính đúng, tính đủ chi phí kinh tế của việc chậm tiến độ trong các quyết định quản lý và tổ chức thực hiện dự án
4. Kết luận
Chậm tiến độ thực hiện các dự án đầu tư xây dựng cơ bản từvốn ngân sách nhà nước tại TP. Hồ Chí Minh là vấn đề cấp bách, diễn ra phổ biến và gây ra nhiều hệ lụy đối với hiệu quả đầu tư công. Thực tế cho thấy, số lượng dự án hoàn thành đúng tiến độ theo cam kết ban đầu còn rất hạn chế; tình trạng chậm trễ kéo dài làm gia tăng chi phí đầu tư, phát sinh vốn ứ đọng và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước cũng như lợi ích của các chủ thể liên quan. Trên cơ sở phân tích thực trạng chậm tiến độ thực hiện các dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn Thành phố, bài viết đã xác định các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục tình trạng chậm tiến độ, tăng cường kiểm soát và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản từvốn ngân sách nhà nước tại Thành phố trong thời gian tới.
Chú thích:
1. TP. Hồ Chí Minh: Giải ngân vốn đầu tư công đạt 61% kế hoạch. https://tapchikinhtetaichinh.vn/tp-ho-chi-minh-giai-ngan-von-dau-tu-cong-dat-61-ke-hoach-129187.html
2. Aibinu, A. A., & Jagboro, G. O. (2002). The effects of construction delays on project delivery in Nigerian construction industry. International Journal of Project Management, 20(8), 593 – 599.
3. Nút giao An Phú, Thành phố Hồ Chí Minh dự kiến về đích năm 2026. https://nhandan.vn/nut-giao-an-phu-thanh-pho-ho-chi-minh-du-kien-ve-dich-nam-2026-post930782.html
4. Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công. https://ttbc-hcm.gov.vn/bi-thu-thanh-uy-tphcm-chu-tri-cuoc-hop-thuc-day-giai-ngan-von-dau-tu-cong-1020161.html?utm_source
5. Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh (2025). Quyết định số 2289/QĐ-SXD-KTVLXD ngày 19/12/2025 về việc công bố chỉ số giá xây dựng từ tháng 1 đến tháng 12, từ quý I đến quý IV và cả năm 2025 trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
Tài liệu tham khảo:
1. Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2025). Báo cáo về tình hình thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công năm 2025.
2. Bộ tiêu chí đánh giá công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/02/10/bo-tieu-chi-danh-gia-cong-tac-quan-ly-nha-nuoc-ve-dau-tu-xay-dung-co-ban-tu-von-ngan-sach-nha-nuoc-cap-tinh/
3. Trong, L.v, Ngoe, T.N and Thi, T.P.N. (2021). Factors affecting the competition of an irrigation construction project using state budget funds. Journal of Project Management, 6 (2021), 171-178
4. Nguyen, L. D., Ogunlana, S. O., & Lan, D. T. X. (2024). A study on project success factors in large construction projects in Vietnam. Engineering, Construction and Architectural Management, 11(6), 404 – 413.
5. Fallahnejad, M. H. (2013). Delay causes in Iran gas pipeline projects. International Journal of Project Management, 31(1), 136 – 146.
https://doi.org/10.1016/j.ijproman.2012.06.003



