Implementation of social welfare policies for the elderly in Vietnam today
ThS. Nguyễn Thị Linh
Học viện Cảnh sát nhân dân
(Quanlynhanuoc.vn) – Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ nhanh, kéo theo nhiều thách thức về phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt trong việc bảo đảm an sinh xã hội cho người cao tuổi. Bài viết phân tích thực trạng thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay, tập trung vào các trụ cột chính, như: trợ cấp xã hội, bảo hiểm y tế, chăm sóc sức khỏe và dịch vụ xã hội. Trên cơ sở đó, đánh giá những kết quả đã đạt được và một số hạn chế nhất định, từ đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách an sinh xã hội cho người cao tuổi.
Từ khóa: Chính sách an sinh xã hội; người cao tuổi; già hóa dân số; kinh tế – xã hội; Việt Nam.
Abstract: Vietnam is entering a phase of rapid population aging, which brings with it numerous challenges for socioeconomic development, particularly in ensuring social security for the elderly. This article analyzes the current status of social security policy implementation for the elderly in Vietnam, focusing on key pillars such as social allowances, health insurance, healthcare, and social services. Based on this analysis, it evaluates the achievements made and certain limitations, thereby proposing several fundamental solutions to enhance the effectiveness of social security policies for the elderly.
Keywords: Social security policies, elderly, population aging, socio-economic, Vietnam.
1. Đặt vấn đề
Trong những thập niên gần đây, già hóa dân số đã trở thành xu hướng phổ biến trên phạm vi toàn cầu, tác động sâu sắc đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội. Hiện nay, số lượng người cao tuổi trên thế giới đang gia tăng với tốc độ nhanh hơn so với các nhóm tuổi khác, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển. Già hóa dân số được xem là thành tựu tiến bộ của y học, khoa học – công nghệ và sự cải thiện chất lượng cuộc sống của con người. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra nhiều thách thức đối với hệ thống an sinh xã hội, thị trường lao động cũng như các dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Tại Việt Nam, quá trình già hóa dân số đang diễn ra với tốc độ tương đối nhanh trong bối cảnh mức thu nhập bình quân đầu người còn hạn chế và hệ thống an sinh xã hội chưa phát triển đồng bộ. Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011 và được dự báo sẽ trở thành quốc gia có dân số già trong vài thập niên tới. Sự gia tăng nhanh chóng của nhóm người cao tuổi không chỉ tạo áp lực đối với ngân sách nhà nước, hệ thống bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện các chính sách an sinh xã hội nhằm bảo đảm điều kiện sống ổn định và an toàn cho người cao tuổi. Vì vậy, việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến bảo đảm an sinh xã hội cho người cao tuổi có ý nghĩa quan trọng, góp phần xây dựng chính sách phù hợp nhằm thích ứng hiệu quả với xu hướng già hóa dân số trong bối cảnh hiện nay.
2. Quan điểm của Đảng về bảo đảm an sinh xã hội
Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng và phát triển đất nước, Đảng ta luôn chú trọng đến bảo đảm an sinh xã hội, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân. Ngay từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới năm 1986, trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều khó khăn và đời sống nhân dân còn thiếu thốn, Đảng đã xác định mục tiêu trước mắt là ổn định đời sống kinh tế – xã hội từng bước đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của người dân, như: lương thực, nhà ở, chăm sóc sức khỏe, học tập và các điều kiện sinh hoạt cơ bản. Việc cải thiện đời sống của Nhân dân được xem vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình phát triển kinh tế – xã hội.
Cùng với quá trình phát triển của đất nước, quan điểm của Đảng về vai trò của chính sách an sinh xã hội ngày càng được bổ sung và hoàn thiện qua các kỳ Đại hội, chủ trương thực hiện đồng bộ các chính sách kinh tế – xã hội gắn với tăng trưởng kinh tế trong từng bước phát triển. Trong đó, các chính sách an sinh xã hội tập trung vào những nội dung cơ bản, như: giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe Nhân dân cũng như thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Đồng thời, hệ thống trợ giúp xã hội từng bước được mở rộng nhằm hỗ trợ các nhóm yếu thế trong xã hội như người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em mồ côi và những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Trong các kỳ Đại hội, Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu phát triển hài hòa giữa kinh tế và xã hội, coi việc nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân là mục tiêu quan trọng. Các chủ trương lớn được đặt ra, như: hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội, phát triển thị trường lao động, mở rộng diện bao phủ của bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, nâng cao phúc lợi xã hội, cải thiện chính sách tiền lương và tăng cường các chính sách trợ giúp xã hội. Đồng thời, chú trọng thực hiện tốt các chính sách đối với người có công, hỗ trợ các nhóm yếu thế và bảo đảm an sinh xã hội cho mọi người dân.
Tại Đại hội Đảng lần thứ XIII đã xác định rõ: “Hoàn thiện đồng bộ và thực hiện có hiệu quả chính sách xã hội, chính sách dân tộc, tôn giáo; phát triển thị trường lao động; bảo đảm cơ bản an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội cho người dân; thực hiện ngày càng tốt hơn chính sách đối với người có công; tiếp tục cải thiện chính sách tiền lương, mở rộng bảo hiểm xã hội…”1. Đồng thời, đề xuất đổi mới các chính sách về bảo hiểm thất nghiệp, giải quyết việc làm cho lao động phi chính thức, thực hiện các biện pháp, chính sách về dinh dưỡng, an toàn thực phẩm… Qua đó, khẳng định vị trí, vai trò của an sinh xã hội đối với sự phát triển của đất nước, phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân. Những chủ trương và định hướng này thể hiện sự nhất quán của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng hệ thống an sinh xã hội ngày càng toàn diện, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội và thúc đẩy phát triển đất nước.
3. Một số kết quả về thực hiện chính sách xã hội
Thứ nhất, về đời sống người cao tuổi.
Trong thời gian qua, Nhà nước từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với người cao tuổi, trong đó mở rộng diện thụ hưởng trợ cấp xã hội, bảo hiểm y tế và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi. Ngày 09/9/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đặt ra yêu cầu “Phát triển các cơ sở chăm sóc người cao tuổi. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống dịch vụ phục hồi chức năng; kết hợp hiệu quả giữa các cơ sở y tế và các cơ sở chăm sóc người cao tuổi”2. Nhiều chính sách, chương trình hành động đã được ban hành nhằm bảo vệ, chăm lo và phát huy vai trò của người cao tuổi, tạo tiền đề cho việc phát triển các mô hình chăm sóc mới, trong đó có viện dưỡng lão.
Hệ thống cơ sở chăm sóc người cao tuổi đang được mở rộng mạnh mẽ, đặc biệt là các mô hình phức hợp y tế – dưỡng lão hiện đại nhằm ứng phó với già hóa dân số. Cụ thể là dự án Khu phức hợp Y tế – Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Đại học Y Hà Nội (hơn 16.000 tỷ đồng), cùng các mô hình “bán trú” và “sáng đến, chiều về”. Chính phủ thúc đẩy “kinh tế bạc” tập trung vào dịch vụ cao cấp, phát triển hệ sinh thái y tế kết hợp dưỡng lão. Theo khảo sát, cả nước có khoảng hơn 400 viện dưỡng lão, trong đó gần một nửa là các cơ sở từ thiện hoặc do Nhà nước đầu tư, hệ thống này chủ yếu tập trung tại các đô thị lớn, như thành phố Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh3. Các viện dưỡng này chủ yếu phục vụ người cao tuổi thuộc diện chính sách, người có công hoặc hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với mức phí thấp hoặc miễn phí, đáp ứng nhu cầu chăm sóc cơ bản nhưng quy mô còn hạn chế.
Bên cạnh đó, người cao tuổi còn được hưởng nhiều chính sách ưu tiên trong các dịch vụ công cộng, như: giảm giá vé tàu, xe khi tham gia giao thông công cộng, tham quan di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh. Bên cạnh đó, thông qua các tổ chức Hội Người cao tuổi, nhiều người cao tuổi được tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao, sinh hoạt cộng đồng, câu lạc bộ dưỡng sinh, văn nghệ giúp họ tăng cường giao lưu, giữ gìn sức khỏe. Những kết quả này đã góp phần cải thiện đáng kể sức khỏe và đời sống tinh thần của người cao tuổi; đồng thời, khẳng định sự quan tâm của Nhà nước và xã hội đối với việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi hiện nay.
Thứ hai, về thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội.
Chính sách bảo hiểm xã hội đã có nhiều bước phát triển quan trọng từng bước được hoàn thiện, mở rộng đối tượng tham gia và nâng cao quyền lợi thụ hưởng cho người lao động. Đặc biệt, tại khoản 1 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2025) quy định những người đủ từ 75 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội được hưởng 500.000 đồng/tháng. Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 cũng quy định người từ 70 đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo hoặc cận nghèo và không có lương hưu cũng có thể được hưởng trợ cấp.
Ngoài ra, tỷ lệ người cao tuổi được cấp thẻ bảo hiểm y tế ngày càng tăng, tạo điều kiện thuận lợi để họ được khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe thường xuyên. Nhiều địa phương còn tổ chức các chương trình khám sức khỏe định kỳ, lập hồ sơ theo dõi sức khỏe và tư vấn phòng bệnh cho người cao tuổi tại cộng đồng. Tuy nhiên, trên thực tế, tỷ lệ người cao tuổi được hưởng lương hưu và các chế độ bảo hiểm xã hội vẫn còn tương đối thấp. Nguyên nhân chủ yếu là do phần lớn lao động Việt Nam làm việc trong khu vực phi chính thức, chưa tham gia bảo hiểm xã hội hoặc tham gia chưa đầy đủ. Điều này khiến nhiều người khi đến tuổi cao vẫn chưa có nguồn thu nhập ổn định từ hệ thống bảo hiểm xã hội, vì vậy, đặt ra yêu cầu cần tiếp tục mở rộng diện bao phủ của chính sách này.
Thứ ba, về thực hiện chính sách bảo hiểm y tế.
Bảo hiểm y tế đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe cho người dân, đặc biệt là người cao tuổi – nhóm đối tượng có nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao. Hiện nay, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi ngày càng được mở rộng, góp phần giảm bớt gánh nặng chi phí khám, chữa bệnh. Đến nay, 95% người cao tuổi đã được cấp thẻ bảo hiểm y tế, hơn 1,87 triệu người cao tuổi hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, hơn 1,4 triệu người cao tuổi hưởng trợ cấp người có công với cách mạng, hơn 2,7 triệu người cao tuổi đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, hơn 6.300 câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau được thành lập và hoạt động, góp phần tích cực chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi4. Việc huy động nguồn lực xã hội để chăm lo cho người cao tuổi cũng được thực hiện hiệu quả…
Bên cạnh đó, nhiều người cao tuổi thuộc diện chính sách, người nghèo hoặc cận nghèo được Nhà nước hỗ trợ hoặc cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí. Nhờ đó, việc tiếp cận các dịch vụ y tế của người cao tuổi từng bước được cải thiện, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và chăm sóc sức khỏe cho nhóm người cao tuổi này.
Thứ tư, về thực hiện chính sách trợ giúp xã hội.
Nhà nước đã ban hành và triển khai thực hiện chính sách trợ giúp xã hội nhằm hỗ trợ người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt là những người không có nguồn thu nhập ổn định hoặc không có người phụng dưỡng. Các chính sách trợ cấp xã hội, chăm sóc sức khỏe cũng như các hoạt động hỗ trợ từ cộng đồng và các tổ chức xã hội đã góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi. Cụ thể, cả nước có trên 77.000 câu lạc bộ của người cao tuổi ở cơ sở với nhiều loại hình hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, thu hút trên 2,5 triệu người cao tuổi tham gia5. Mô hình này không chỉ thu hút sự quan tâm trong nước mà còn được quốc tế công nhận, đạt giải thưởng “Sáng kiến vì một châu Á già hóa khỏe mạnh”. Bên cạnh đó, nhiều địa phương đã triển khai các mô hình chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng, qua đó phát huy vai trò của gia đình và xã hội trong việc chăm lo cho người cao tuổi.
Mặc dù việc thực hiện các chính sách xã hội đối với người cao tuổi ở nước ta trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực, song trên thực tế vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định. Cụ thể, tỷ lệ người cao tuổi có lương hưu và nguồn thu nhập ổn định còn thấp, đặc biệt ở khu vực nông thôn và trong nhóm lao động phi chính thức. Bên cạnh đó, công tác chăm sóc người cao tuổi tại một số địa phương vẫn còn hạn chế về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực cũng như các dịch vụ y tế chuyên biệt. Ngoài ra, sự phối hợp giữa gia đình, cộng đồng và các tổ chức xã hội trong việc chăm sóc người cao tuổi chưa thật sự đồng bộ và hiệu quả. Do đó, việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đối với người cao tuổi là yêu cầu cần thiết trong bối cảnh hiện nay.
4. Một số giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện chính sách xã hội đối với người cao tuổi hiện nay
Một là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về an sinh xã hội đối với người cao tuổi theo hướng bao trùm, linh hoạt và phù hợp với bối cảnh già hóa dân số nhanh. Các quy định liên quan đến trợ cấp xã hội, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế cần được rà soát, điều chỉnh định kỳ bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi trong quá trình thực hiện. Đặc biệt, cần nghiên cứu điều chỉnh mức trợ cấp xã hội theo hướng tiệm cận mức sống tối thiểu và có cơ chế cập nhật linh hoạt theo chỉ số giá tiêu dùng, nhằm bảo đảm giá trị thực của trợ cấp không bị suy giảm theo thời gian.
Tăng cường công tác quản lý nhà nước và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với người cao tuổi. Việc phối hợp giữa các bộ, ngành và chính quyền địa phương cần được cải thiện nhằm bảo đảm chính sách được triển khai thống nhất, kịp thời và đúng đối tượng. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, theo dõi và chi trả các chế độ an sinh xã hội, góp phần nâng cao tính minh bạch, giảm thủ tục hành chính và tạo thuận lợi cho người cao tuổi trong việc tiếp cận chính sách.
Hai là, tiếp tục mở rộng diện bao phủ của hệ thống bảo hiểm xã hội, nhất là đối với người lao động trong khu vực phi chính thức nhóm chiếm tỷ lệ lớn trong lực lượng lao động Việt Nam hiện nay và cũng là nhóm dễ bị tổn thương khi bước vào tuổi già. Việc xây dựng các gói bảo hiểm xã hội linh hoạt, mức đóng phù hợp với khả năng thu nhập của người lao động phi chính thức sẽ góp phần tăng khả năng tham gia của người dân; đồng tời sẽ giảm số lượng người cao tuổi không có lương hưu trong tương lai. Đây là giải pháp có ý nghĩa chiến lược lâu dài nhằm giảm gánh nặng trợ cấp xã hội cho ngân sách nhà nước.
Ba là, chú trọng nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi, Nhà nước cần tăng cường đầu tư cho hệ thống y tế cơ sở, nhất là tại khu vực nông thôn, miền núi và vùng sâu, vùng xa, nơi người cao tuổi gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận dịch vụ y tế. Việc phát triển mạng lưới chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám sức khỏe định kỳ và quản lý bệnh mãn tính cho người cao tuổi sẽ góp phần giảm chi phí điều trị, nâng cao chất lượng cuộc sống và kéo dài tuổi thọ.
Tăng cường phát triển lĩnh vực lão khoa trong hệ thống y tế, bao gồm đào tạo nguồn nhân lực y tế chuyên sâu về chăm sóc người cao tuổi, đầu tư trang thiết bị và xây dựng các khoa, trung tâm lão khoa tại các bệnh viện tuyến trung ương và địa phương. Việc kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi cũng cần được quan tâm, nhằm tận dụng các phương pháp điều trị phù hợp với đặc điểm sức khỏe của nhóm tuổi này.
Bốn là, phát triển hệ thống dịch vụ chăm sóc người cao tuổi theo hướng đa dạng hóa và lấy cộng đồng làm trung tâm. Trong bối cảnh mô hình gia đình truyền thống đang dần thay đổi, quy mô gia đình ngày càng thu hẹp, việc chỉ dựa vào gia đình để chăm sóc người cao tuổi không còn phù hợp. Do đó, cần khuyến khích phát triển các mô hình chăm sóc tại cộng đồng, chăm sóc bán trú, chăm sóc tại nhà với sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội, đoàn thể và doanh nghiệp.
Tăng cường vai trò của gia đình và cộng đồng trong việc chăm sóc và hỗ trợ người cao tuổi. Các chương trình truyền thông, giáo dục cần được đẩy mạnh nhằm nâng cao nhận thức của xã hội về trách nhiệm chăm sóc người cao tuổi, phát huy truyền thống “kính lão, trọng thọ” trong văn hóa Việt Nam. Đồng thời, cần có các chương trình hỗ trợ, tập huấn kỹ năng chăm sóc người cao tuổi cho người thân trong gia đình, giúp họ có kiến thức và kỹ năng cần thiết để chăm sóc người cao tuổi một cách hiệu quả.
Năm là, chú trọng công tác nghiên cứu, dự báo và xây dựng chiến lược dài hạn về an sinh xã hội đối với người cao tuổi. Việc thu thập, phân tích dữ liệu về già hóa dân số, điều kiện sống và nhu cầu của người cao tuổi sẽ là cơ sở quan trọng để hoạch định chính sách phù hợp. An sinh xã hội đối với người cao tuổi cần được lồng ghép trong các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, chiến lược dân số và chiến lược y tế, nhằm bảo đảm tính bền vững và thích ứng với những thay đổi trong cơ cấu dân số của Việt Nam.
5. Kết luận
Già hóa dân số đang trở thành xu hướng tất yếu trong quá trình phát triển của Việt Nam, đã và đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với việc bảo đảm an sinh xã hội cho người cao tuổi. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành và triển khai nhiều chủ trương, chính sách nhằm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người cao tuổi, từng bước hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội và mở rộng phạm vi bảo vệ đối với nhóm dân số này. Trên thực tiễn, các chính sách trợ cấp xã hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và chăm sóc sức khỏe đã góp phần quan trọng trong việc cải thiện đời sống của người cao tuổi, đặc biệt là những người có hoàn cảnh khó khăn. Vì vậy, trong thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, nâng cao hiệu quả thực thi và tăng cường sự phối hợp giữa Nhà nước, gia đình và xã hội trong việc chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi. Qua đó, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi và thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội.
Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 65.
2. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 72-NQ/ TW ngày 09/9/2025 về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
3. Thúc đẩy mô hình viện dưỡng lão: Động lực mới cho “kinh tế bạc”. https://baocaovien.vn/tin-tuc/thuc-day-mo-hinh-vien-duong-lao-dong-luc-moi-cho-kinh-te-bac.
4. Hơn 2,7 triệu người cao tuổi đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội. https://hanoi.baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/chinh-sach-moi.aspx?
5. Công tác chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi – Những kiến nghị và giải pháp. https://tapchimattran.vn/thuc-tien/cong-tac-cham-soc-phat-huy-vai-tro-nguoi-cao-tuoi-nhung-kien-nghi-va-giai-phap-55301.html
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 72-NQ/ TW ngày 09/9/2025 về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
2. Chính phủ (2021). Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.
3. Chính phủ (2024). Nghị định số 76/2024/NĐ-CP ngày 01/7/2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.
4. Quốc hội (2009). Luật Người cao tuổi năm 2009.
5. Quốc hội (2024). Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024.
6. Chính sách xã hội đối với người cao tuổi. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/02/18/chinh-sach-xa-hoi-doi-voi-nguoi-cao-tuoi/
7. Bảo đảm an sinh xã hội cho người cao tuổi trong bối cảnh đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/03/14/bao-dam-an-sinh-xa-hoi-cho-nguoi-cao-tuoi-trong-boi-canh-day-manh-xay-dung-va-hoan-thien-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-viet-nam-hien-nay/
8. Nâng cao hiệu quả thực thi chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/11/18/nang-cao-hieu-qua-thuc-thi-chinh-sach-an-sinh-xa-hoi-o-viet-nam-trong-giai-doan-hien-nay/
9. Thực hiện chính sách cho người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2020/12/21/thuc-hien-chinh-sach-cho-nguoi-cao-tuoi-o-viet-nam-hien-nay/



