Vai trò của du lịch bền vững trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

The role of sustainable tourism in the development of a socialist-oriented market economy in Vietnam

Thượng úy Hoàng Văn Sơn
Hệ 5, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

(Quanlynhanuoc.vn) – Phát triển kinh tế biển bền vững có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, góp phần khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế biển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, phát triển kinh tế biển bền vững còn là cơ sở quan trọng để bảo đảm chủ quyền quốc gia, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao năng lực cạnh tranh và hướng tới phát triển bền vững đất nước.

Từ khóa: Kinh tế biển; bền vững; kinh tế thị trường; xã hội chủ nghĩa.

Abstract: Sustainable maritime economy development plays a particularly important role in the process of building a socialist-oriented market economy in Vietnam, contributing to the effective exploitation of maritime potential and advantages, and promoting economic growth in tandem with social progress, equity, and ecological environmental protection. In the context of increasingly deepening international integration, sustainable blue economy development also serves as a vital foundation for ensuring national sovereignty, strengthening national defense and security, enhancing competitiveness, and advancing the nation’s sustainable development.

Keywords: Maritime economy; sustainable; market economy; socialism.

1. Đặt vấn đề

Du lịch biển đang trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nhiều quốc gia ven biển trên thế giới. Theo Tổ chức Du lịch Thế giới Liên Hợp quốc (UNWTO, 2023), du lịch ven biển và hải đảo chiếm khoảng 50% tổng lượng khách du lịch quốc tế, đóng góp đáng kể vào GDP và việc làm toàn cầu. Tuy nhiên, quá trình phát triển nhanh chóng của du lịch biển cũng đặt ra nhiều thách thức về tính bền vững, nhất là áp lực đối với hệ sinh thái ven biển, ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên biển và sự mất cân đối giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với yêu cầu bảo vệ môi trường và bảo đảm lợi ích xã hội lâu dài.

Việt Nam là quốc gia ven biển với đường bờ biển dài khoảng 3.260 km, có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển du lịch biển. Trong những năm gần đây, du lịch biển đã trở thành một trụ cột quan trọng của ngành du lịch quốc gia, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2023, các tỉnh ven biển đón khoảng 65% tổng lượng khách du lịch trong nước và quốc tế, đóng góp trực tiếp khoảng 8-10% GDP cả nước. Nhiều điểm đến như Hạ Long, Nha Trang, Đà Nẵng, Phú Quốc đã khẳng định vị thế trên bản đồ du lịch khu vực và thế giới.

Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quá trình phát triển du lịch biển ở Việt Nam đang bộc lộ không ít hạn chế. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2022), tình trạng ô nhiễm môi trường biển, suy thoái hệ sinh thái ven biển và khai thác tài nguyên thiếu bền vững vẫn diễn ra ở nhiều địa phương. Sự thiếu đồng bộ trong quy hoạch, quản lý và thực thi chính sách làm nảy sinh mâu thuẫn giữa lợi ích kinh tế ngắn hạn với mục tiêu phát triển bền vững. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp cận phát triển du lịch biển theo hướng bền vững, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

2. Thực trạng phát triển du lịch biển ở Việt Nam

Du lịch biển đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở nhiều địa phương ven biển. Du lịch biển đã đóng góp trực tiếp và gián tiếp vào tăng trưởng GRDP ở các tỉnh ven biển thông qua tăng doanh thu dịch vụ, thu hút vốn đầu tư và tạo việc làm. Ví dụ, tại tỉnh Quảng Ninh, vùng biển nổi bật phía Bắc Việt Nam, giai đoạn 2020 – 2024, địa phương này đón tổng số 59,34 triệu lượt khách, trong đó có 6,5 triệu lượt khách quốc tế, tổng thu từ hoạt động du lịch đạt trên 113.310 tỷ đồng. Đóng góp của GRDP du lịch vào GRDP của Quảng Ninh hàng năm từ 5,6% – 9,64%. Năm 2024, tổng khách du lịch đến Quảng Ninh đạt trên 19 triệu lượt (tăng 36% so với năm 2019); trong đó, khách quốc tế đạt 3,5 triệu lượt1

Tại tỉnh Khánh Hòa, năm 2025 ghi nhận sự bứt phá kỷ lục khi toàn tỉnh đón hơn 16,4 triệu lượt khách lưu trú, tăng gần 55% so với năm 2024. Đặc biệt, lượng khách quốc tế đạt mức 5,5 triệu lượt, cho thấy sức hút mạnh mẽ của thương hiệu du lịch biển Nha Trang – Cam Ranh trên bản đồ thế giới. Tổng doanh thu du lịch ước đạt 66.700 tỷ đồng, tăng 27,6% so với năm trước2. Sự tăng trưởng thần tốc này không chỉ trực tiếp đóng góp vào ngân sách mà còn tạo hiệu ứng lan tỏa, kích cầu mạnh mẽ cho các ngành phụ trợ như vận tải hàng không, dịch vụ lưu trú cao cấp và kinh tế ban đêm, giúp GRDP của Khánh Hòa duy trì mức tăng trưởng hai con số

Du lịch biển tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Sự phát triển mạnh mẽ của du lịch biển đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế của các địa phương ven biển theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ, giảm tỷ trọng khu vực công nghiệp và nông-lâm-ngư nghiệp. Tại tỉnh Quảng Ninh, số liệu chính thức từ Cục Thống kê cho thấy một lộ trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ theo hướng bền vững. Năm 2023, khu vực dịch vụ chiếm 30,3% trong GRDP tỉnh, trong khi khu vực công nghiệp – xây dựng chiếm tỷ trọng áp đảo 52,1%. Tuy nhiên, đến cuối năm 2024, cơ cấu này đã có sự thay đổi rõ rệt: khu vực dịch vụ bứt phá lên mức 34,8%, khu vực công nghiệp – xây dựng giảm xuống còn 48,1% và khu vực nông – lâm – thủy sản thu hẹp còn 4,2%. Sự gia tăng tỷ trọng của ngành dịch vụ, với nòng cốt là du lịch biển, khẳng định vai trò quyết định của ngành này trong việc giảm dần sự lệ thuộc vào các ngành khai khoáng truyền thống3. Sự tăng tỷ trọng của khu vực dịch vụ phản ánh vai trò ngày càng lớn của du lịch biển trong cơ cấu ngành kinh tế, góp phần giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên và công nghiệp nặng.

Du lịch biển góp phần phát triển không gian kinh tế – xã hội ven biển. Sự phát triển của du lịch biển không chỉ tạo động lực kinh tế mà còn thúc đẩy đô thị hóa và hoàn thiện hạ tầng. Hệ thống 19 khu kinh tế ven biển cùng mạng lưới đường ven biển xuyên suốt đã hình thành các tổ hợp nghỉ dưỡng đẳng cấp, như tại Bãi Dài (Cam Ranh) với hơn 30.000 tỷ đồng vốn đầu tư hay các siêu dự án tại Phú Quốc4. Về mặt xã hội, ngành kinh tế biển đang thu hút khoảng 12 – 15% tổng lực lượng lao động cả nước. Tại các địa phương du lịch trọng điểm như Quảng Ninh, thu nhập bình quân đầu người (GRDP/người) năm 2025 đã đạt mức kỷ lục trên 10.400 USD5, góp phần cải thiện rõ rệt đời sống cộng đồng cư dân vùng duyên hải, chuyển đổi sinh kế từ nông – ngư nghiệp truyền thống sang dịch vụ chất lượng cao.

Bên cạnh những thành tưu, vẫn còn một số hạn chế, bất cập trong phát triển du lịch biển hiện nay.

Một là, đóng góp của du lịch biển vào tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, hiệu quả lan tỏa còn hạn chế. Mặc dù du lịch biển đã trở thành một trong những động lực quan trọng, song mức độ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế quốc gia vẫn chưa tương xứng với lợi thế của hơn 3.260 km bờ biển. Theo số liệu năm 2025, khu vực dịch vụ du lịch đóng góp khoảng 9% – 10% GDP, nhưng chỉ số giá trị gia tăng (VA) trong ngành du lịch biển chỉ chiếm khoảng 40% – 45% tổng doanh thu (thấp hơn mức 60% của các quốc gia mạnh về du lịch biển trong khu vực).

Phần lớn giá trị vẫn chủ yếu đến từ các hoạt động tiêu dùng trực tiếp. Chi tiêu bình quân của khách quốc tế năm 2025 ước đạt 1.250 USD/chuyến đi, nhưng có tới 70% tập trung vào lưu trú và ăn uống; trong khi các lĩnh vực tạo giá trị gia tăng cao như kinh tế ban đêm, công nghiệp văn hóa và mua sắm chỉ chiếm dưới 15%. Đặc biệt, du lịch tàu biển quốc tế còn thấp. Theo Tổng cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2025 khách quốc tế đến Việt Nam bằng đường biển chỉ đạt khoảng 181,4 nghìn lượt, chiếm 1,7% tổng lượng khách quốc tế6, cho thấy phân khúc du lịch tàu biển vẫn còn phát triển chậm so với tiềm năng của quốc gia có đường bờ biển dài hơn 3.260 km.

Hai là, tác động của du lịch biển đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nhiều địa phương còn chậm và thiếu đồng đều. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ gắn với du lịch biển đang diễn ra với mức độ khác nhau giữa các địa phương ven biển. Tại các trung tâm du lịch lớn như Đà Nẵng, khu vực dịch vụ chiếm tới 70,97% GRDP năm 2025, trở thành khu vực đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng kinh tế địa phương7. Tuy nhiên, tại nhiều địa phương ven biển khác, cơ cấu kinh tế vẫn phụ thuộc đáng kể vào công nghiệp hoặc nông – ngư nghiệp truyền thống. Chẳng hạn, tại một số tỉnh duyên hải miền Trung, khu vực nông – lâm – thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong GRDP như Nghệ An khoảng 22% và Quảng Trị khoảng 18%8. Điều này cho thấy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ du lịch biển vẫn diễn ra chậm và chưa đồng đều giữa các địa phương ven biển.

Ba là, quá trình phát triển du lịch biển đang đặt ra nhiều sức ép đối với tài nguyên, môi trường và không gian ven biển. Sự gia tăng nhanh chóng của các hoạt động du lịch và dịch vụ ven biển trong những năm gần đây đã làm gia tăng đáng kể áp lực lên hệ sinh thái biển.

Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng lớn của ô nhiễm rác thải nhựa đại dương. Theo báo cáo của World Bank, mỗi năm Việt Nam phát sinh khoảng 3,1 triệu tấn rác thải nhựa, trong đó 0,28 – 0,73 triệu tấn có nguy cơ rò rỉ ra môi trường biển, gây tác động tiêu cực đến hệ sinh thái ven bờ và các khu vực du lịch biển9. Bên cạnh đó, hệ sinh thái rạn san hô – nền tảng sinh học quan trọng đối với đa dạng sinh học và du lịch biển – đang suy giảm đáng kể.

Theo Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học của Bộ Tài nguyên và Môi trường, chỉ khoảng 1% rạn san hô ở Việt Nam còn ở tình trạng rất tốt (độ phủ san hô sống trên 75%), trong khi phần lớn các rạn san hô đang ở mức trung bình hoặc suy thoái. Tại một số khu vực du lịch biển trọng điểm như vịnh Nha Trang, các khảo sát khoa học cho thấy, độ phủ san hô sống đã giảm từ khoảng 53,7% năm 2015 xuống còn khoảng 32,6% vào năm 202210, phản ánh xu hướng suy giảm rõ rệt của hệ sinh thái san hô dưới tác động của hoạt động phát triển ven biển và áp lực môi trường.

Ngoài ra, quá trình phát triển nhanh của các khu đô thị và dự án du lịch nghỉ dưỡng ven biển cũng làm gia tăng áp lực lên không gian bờ biển. Sự mở rộng của các khu du lịch, khu nghỉ dưỡng và hạ tầng dịch vụ ven biển tại nhiều địa phương đã làm gia tăng nguy cơ xung đột giữa phát triển du lịch, bảo tồn hệ sinh thái và sinh kế truyền thống của cộng đồng ven biển. Nếu không được quản lý hiệu quả, những sức ép này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tính bền vững của phát triển kinh tế biển và du lịch biển ở Việt Nam trong dài hạn.

3. Một số giải pháp

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và chính sách phát triển du lịch biển theo hướng kinh tế thị trường hiện đại, đồng bộ và định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực du lịch biển, bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với yêu cầu tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường biển. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo phát triển thông qua việc hoàn thiện khung pháp lý, chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển du lịch biển gắn với Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam. Các quy hoạch du lịch biển cần được tích hợp đồng bộ với quy hoạch không gian biển, quy hoạch đô thị ven biển và quy hoạch sử dụng tài nguyên biển, khắc phục tình trạng chồng chéo, phát triển tự phát và thiếu kiểm soát.

Đổi mới cơ chế phân cấp, phân quyền gắn với nâng cao trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương ven biển; tăng cường vai trò điều tiết của Nhà nước thông qua các công cụ kinh tế, thuế môi trường, phí sử dụng tài nguyên biển, nhằm định hướng hành vi của doanh nghiệp theo hướng phát triển bền vững, phù hợp với bản chất của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, thúc đẩy du lịch biển trở thành động lực quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế biển theo chiều sâu.

Du lịch biển cần được đặt vào vị trí trung tâm trong chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các địa phương ven biển, gắn với giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thô và công nghiệp nặng. Theo đó, cần phát triển du lịch biển theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, mở rộng liên kết với các ngành kinh tế biển khác như logistics biển, công nghiệp văn hóa, dịch vụ sáng tạo, thương mại và kinh tế ban đêm ven biển.

Nhà nước cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các mô hình du lịch biển chất lượng cao, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng dài ngày, nhằm kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu của du khách. Việc phát triển du lịch biển không chỉ nhằm tăng số lượng khách mà phải hướng tới chất lượng tăng trưởng, qua đó tạo động lực thực chất cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ hiện đại, đúng với yêu cầu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ ba, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các chủ thể trong phát triển du lịch biển.

Phát triển du lịch biển bền vững đòi hỏi phải xử lý hài hòa mối quan hệ giữa khai thác kinh tế và bảo vệ hệ sinh thái biển. Vì vậy, cần siết chặt công tác quản lý tài nguyên biển, kiểm soát chặt chẽ các dự án du lịch ven biển, đảo, đặc biệt tại các khu vực nhạy cảm về sinh thái. Việc đánh giá tác động môi trường phải được thực hiện nghiêm túc, minh bạch, coi đây là điều kiện tiên quyết trong cấp phép đầu tư du lịch biển. Song song với đó, cần thúc đẩy các mô hình du lịch xanh, du lịch sinh thái biển, kinh tế tuần hoàn trong du lịch, giảm thiểu rác thải nhựa và phát thải carbon. Nhà nước cần đóng vai trò điều phối, bảo đảm lợi ích chính đáng của cộng đồng cư dân ven biển thông qua cơ chế chia sẻ lợi ích, tạo điều kiện để người dân tham gia trực tiếp vào chuỗi giá trị du lịch biển. Đây là yêu cầu quan trọng nhằm hiện thực hóa bản chất nhân văn, vì con người của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho du lịch biển.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, phát triển du lịch biển bền vững không thể tách rời quá trình hội nhập quốc tế. Việt Nam cần chủ động tham gia sâu hơn vào các mạng lưới du lịch biển khu vực và quốc tế, thu hút dòng khách chất lượng cao, đồng thời tiếp thu kinh nghiệm quản lý, công nghệ và mô hình phát triển du lịch biển tiên tiến. Việc mở rộng hợp tác quốc tế cần gắn với nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo vệ lợi ích lâu dài của nền kinh tế biển. Bên cạnh đó, phát triển nguồn nhân lực du lịch biển chất lượng cao là giải pháp mang tính nền tảng. Cần đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch biển theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và chuyển đổi số. Đồng thời, chú trọng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường biển, văn hóa biển và trách nhiệm xã hội cho đội ngũ lao động và cộng đồng địa phương, qua đó bảo đảm sự phát triển du lịch biển bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường.

4. Kết luận

Du lịch biển bền vững đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế biển và thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Thực tiễn cho thấy, du lịch biển không chỉ góp phần gia tăng giá trị dịch vụ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mở rộng không gian phát triển ven biển mà còn tạo động lực nâng cao đời sống của cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả lâu dài, cần gắn phát triển du lịch biển với bảo vệ môi trường, khai thác hợp lý tài nguyên và tăng cường quản lý nhà nước. Đây là điều kiện quan trọng để du lịch biển phát triển bền vững, đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Chú thích:
1. Phát triển du lịch biển ở Việt Nam – tiềm năng và thách thức. https://tapchicongsan.org.vn/hoat-ong-oi-ngoai/-/2018/1177402/view_content#
2. Khánh Hòa đón 16,4 triệu lượt khách du lịch trong năm 2025. https://thongke.tourism.vn/index.php/news/items/347.
3. UBND tỉnh Quảng Ninh (2025). Báo cáo số 412/BC-UBND về tình hình kinh tế – xã hội năm 2024 và phương hướng nhiệm vụ năm 2025.
4. Sở Du lịch tỉnh Khánh Hòa (2025). Báo cáo tổng kết hoạt động du lịch giai đoạn 2021-2025 và định hướng phát triển không gian du lịch vịnh Cam Ranh, Khánh Hòa.
5. UBND tỉnh Quảng Ninh (2025). Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2025.
6. Du lịch Việt Nam tăng trưởng bứt phát trong sáu tháng đầu năm, phấn đấu hoàn thành mục tiêu năm 2025. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2025/07/du-lich-viet-nam-tang-truong-but-phat-trong-sau-thang-dau-nam-phan-dau-hoan-thanh-muc-tieu-nam-2025/?utm_source=chatgpt.com.
7. GRDP thành phố Đà Nẵng quý 1/2025 tăng 11,36%, cao nhất 6 thành phố trực thuộc Trung ương. https://baodanang.vn/grdp-thanh-pho-da-nang-quy-1-2025-tang-11-36-cao-nhat-6-thanh-pho-truc-thuoc-trung-uong-3187066.html.
8. Triển vọng kinh tế của các tỉnh Bắc Trung Bộ và Trung Bộ sau khi sáp nhập các đơn vị hành chính cấp tỉnh. https://b-company.jp/economic-outlook-of-north-central-and-central-coastal-provinces-after-the-provincial-level-administrative-unit-mergers/?utm_source=chatgpt.com.
9. World Bank (2022). Plastic waste assessment in Vietnam. Washington, DC: World Bank.
10. Ministry of Natural Resources and Environment (2013). Vietnam National Biodiversity Strategy and Action Plan to 2020, vision to 2030. Hanoi: Government of Vietnam.